Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Chống Giặc Tầu (Bài 6) – Tân Cương trong văn chương Việt Nam

1(bài thứ 2)

A)- Tây Chinh

Chuyện bây giờ…

Trong huyền sử, Tân Cương cũng là con đường Tam Tạng đi thỉnh kinh. Tôi không nhớ rõ khi đi qua vùng nầy, Đường Tam Tạng đã qui phục được “ông Tề” và Trư Bát Giới chưa để có thể tránh bị… cúm heo?!

                Xưa hơn nữa (?!) khi Quang Vũ nhà Hán chinh phục được vùng phía Tây, qua tới biên giới Á Phú Hãn ngày nay, thì  “Con Đường Lụa” hay còn gọi là “Con Đường Hồ Tiêu” được củng cố và mở rộng. Tân Cương trở thành nơi thương nhân qua lại tấp nập với vàng ngọc từ châu Âu đem bán qua Tầu; hồ tiêu và lụa Tầu đem bán cho Tây phương.

                Vậy thì cái tên Tân Cương có từ lúc nào, và dân tộc nào ở đây?

                Tên Tân Cương là do người Tầu đặt cho họ về sau nầy.

Trước kia thật lâu, đây là vùng lưu vực sông I-li. Sông nầy khởi nguồn từ dãy núi Thiên Sơn, chảy hàng ngàn dặm rồi đổ vào vùng hồ Balkhash.

Toàn bộ vùng ở phía bắc dãy Thiên Sơn nầy là vùng sinh sống của cư dân Uyghur, Tầu dịch là người Duy Ngô Nhĩ và một số ít người Kazazk. Trong lịch sử, tên gọi “Uyghur” được dùng để chỉ các bộ lạc nói tiếng Thổ sống tại rặng núi Altay. Người Uyghur là một trong các nhóm người Thổ lớn nhất và tồn tại lâu nhất tại vùng Trung Á. Họ mang dòng máu pha trộn giữa người Mongoloid (tổ tiên người Mông Cổ ngày nay) và người Kokasoid. Tổ tiên của họ là “Người Hồi Hột” từng là một dân tộc đáng kể ở phía Bắc nước Tầu đời Đường, đời Tống.

Tôn giáo chính hiện nay của họ là đạo Hồi. Người Uyghur giỏi sản xuất nông nghiệp, làm đồ thủ công và buôn bán.

                Họ từng có một nền văn hóa rất cao. Minh chứng là những xác ướp cách nay gần 4 ngàn năm hiện vẫn còn nguyên. Văn hóa của người Uyghur thống trị cả vùng Trung Á mấy ngàn năm nay. Văn hóa nầy sụp đổ nhanh chóng sau khi nhà Thanh thống trị xứ nầy.

                Sau khi nhà Thanh chiếm đóng vùng Turkestan, họ đổi tên thành “Xinjiang” hay “Sinkiang”, nghĩa là “Tân Cương”, và bị sát nhập vào Đế Quốc Mãn Châu ngày 18 tháng 11 năm 1884.

                Cương có nghĩa là biên “cương”. Tân là mới, tức là biên cương mới của nước Tầu, có nghĩa là họ sát nhập vùng đất nầy vào nước họ. Điều đó có thể gọi người Tầu là “quân cướp nước” chớ còn chi nữa?!

So với nhóm “Tân Biên Cương” (New Frontier) của anh em nhà Kennedy thì khác xa lắm. Nhóm nầy, tôi có nói trong bài “The Red Pony.” “The Red Pony” là một tác phẩm nổi tiếng của John Steinbeck, đoạt giải Nobel năm 1962.

                Lịch sử vùng Trung Á hơi phức tạp. Một thời gian dài, Turkestan là một quốc gia độc lập. Đời nhà Hán, nhà Đường, họ là nạn nhân các cuộc xâm lược của người Tầu. Cũng do đó, Thiên Sơn đi vào văn học Tầu.

Cuối đời nhà Thanh, khi nước Tầu trên đà suy sụp, Turkestan là nạn nhân của Nga Hoàng. Khi Nga mạnh lên, trở thành Đế Quốc Nga thì Nga Hoàng đem quân chiếm đóng toàn bộ vùng Trung Á như Liên Xô sau nầy vậy. Đế Quốc Nga, năm 1871, viện cớ thu hồi những vùng đất trước đây đã bị nhà Thanh chiếm, tiến quân vào lưu vực sông I-li, tuyên bố “tạm chiếm I-li, đợi khi nào Thanh-đình có đủ khả năng thống trị miền đó thì sẽ trả lại.

Nhà Thanh điều động một lực lượng quân sự lớn tấn công  vào Turkestan năm 1876.

Lo ngại khả năng Nga Hoàng bành trướng sang Turkestan, Anh ủng hộ tiền bạc cho quân lính Mãn Châu. Dưới thời nhà Thanh, miền I-li hoàn toàn thuộc về Tầu. Do nằm về phía bắc dãy Thiên Sơn, nên miền I-li đời Thanh còn được gọi là “Thiên Sơn Bắc Lộ.”

                Cuối đời Thanh, nhà Thanh quản lý “đại lục” còn chưa xong, thì vùng Tân Cương được thả lỏng, những người cầm quyền ở đây theo phe Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch và thành lập nước Cộng Hòa Đông Hồi, tiếng Anh là East Turkestan Republic (ETR), còn có tên là quốc gia Uyghuristan năm 1933 và được Liên Xô hỗ trợ.

Nước Cộng Hòa nầy chết yểu vì tên quân phiệt Sheng Shicai đem quân chiếm đóng và cai trị. Đến khi tên nầy qua đời thì nước Cộng Hòa Đông Turkestan lại hồi sinh. Chưa được một năm, sau khi Mao Trạch Đông chiếm được lục địa thì các nhà lãnh đạo Tân Cương chuẩn bị hợp nhất với Tầu Cộng.

                Để thảo luận về việc thống nhứt nầy, Mao Trạch Đông cho máy bay đón các nhà lãnh đạo Tân Cương đến Bắc Kinh. Máy bay rơi làm các lãnh tụ Tân Cương chết cả. Ngay sau đó, tướng Hoàng Chấn của Tầu Cộng được lệnh đem quân vào Tân Cương, thẳng tay giết hết những phần tử Quốc Dân Đảng còn lại và những ai chống đối, vì vậy, người Tân Cương gọi ông ta là Con Cọp Hoàng.

Vụ rơi máy bay này bị nghi ngờ là âm mưu của Mao, liệu cái nghi ấy có sai không?!

Tân Cương được Mao dành cho một cái tên là “Khu Tự Trị Tân Cương,” được “Hồng Quân Trung Hoa” ở lại đó để “bảo vệ an ninh cho dân chúng” Tân Cương, có bí thư đảng là người của Mao lãnh đạo khu tự trị nầy. Lò nguyên tử của Tầu cũng được xây dựng ở nơi nầy.

Mao bắt đầu ngay kế hoạch “Hán hóa” người Duy Ngô Nhĩ. Người Hán đến định cư vùng nầy ngày càng đông, từ 6% lúc khởi thủy nay lên đến 85% tại thủ phủ Địch Họa của Tân Cương.

Dân số hiện tại như sau:

-Người Uyghur: 8 triệu 345.622 chiếm tỷ lệ 45.21%

                -Người Tầu: 7 triệu 489.919, chiếm tỷ lệ 40.58%

                -Người Kazazk: 1 triệu 245. 023 chiếm 6.74%

                -Các dân tộc khác không rất ít, không kể đến.

                Chính sách Hán hóa, từ căn bản, đã sai vì văn hóa, lịch sử, tôn giáo, ngôn ngữ, cá tính, bản sắc… hai dân tộc Uyghur và Hán tộc… đều khác nhau rất xa, rất khó hòa hợp.

                Qua một thời gian dài, Tân Cương là vùng tranh chấp ngấm ngầm giữa hai “anh em Cộng Sản” (Communist Brother Enemy), thực chất là giữa hai Đế Quốc Đỏ hận thù sinh tử. Một phía là Đế Quốc Liên Xô, một bên thì cái gọi là “Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc.”

                Tuy nhiên, sau khi Liên Xô sụp đổ, đối thủ hùng mạnh của Tầu bên kia Hắc Long Giang không còn nữa. Một mình một chợ, Tầu Cộng thẳng tay “Hán hóa” hay còn gọi là “thực dân” vùng Tân Cương.

                Thật vậy, năm 1998, thủ tướng Tầu Cộng Chu Dung Cơ đưa ra “kế hoạch Tây Tiến” để xúc tiến nhanh hơn tiến trình Hán hóa Tân Cương.

                Trong ý nghĩa đó, dĩ nhiên, chính sách Hán hóa là sự ép buộc, thô bạo vầy đầy dẫy những đàn áp, tù đày, giết chóc.

                Thực chất, đây là việc người Tầu cướp đoạt tài nguyên thiên nhiên. Tân Cương rất giàu tài nguyên: 30% trữ lượng dầu hỏa của Tầu, và 35% trữ lượng khí đốt, 1 phần 5 than đá cả nước.

                Sau khi Liên Xô sụp đổ, Tầu Cộng với tay tới các vùng đất cũ của Liên Xô, đặc biệt khai thác dầu lửa ở Kazazkhstan, đến nỗi những bảng chỉ đường ở xứ nầy viết bằng hai thứ tiếng: Tiếng địa phương và tiếng Tầu. Điều nầy làm cho mấy ông lãnh đạo hiện nay ở điện Cẩm Linh “đau lòng” biết bao nhiêu mà kể.

                Từ việc Tầu cộng khai thác tài nguyên ở các nước thuộc Liên Xô cũ, các đường ống dẫn dầu và khí đốt được xây dựng, có đường dài tới 4 ngàn Km chạy từ các nước nầy, qua ngã Tân Cương để đi về các thành phố lớn ở bờ biển lục địa Trung Hoa.

Tân Cương chiếm 1/6 toàn bộ lãnh thổ nước Tầu và 1/4 chiều dài biên giới, là vùng đất nằm giữa khu vực Trung Á giàu năng lượng và vùng phía đông nước Tầu.

Cuộc nổi dậy ở Tây Tạng tháng ba năm 2008, bị Tầu Cộng đàn áp tàn bạo, làm 203 người chết, một ngàn người bị thương và gần 6 ngàn người bị bắt giam, có ảnh hưởng ít nhiều đến cuộc nổi dậy mới đây ở Tân Cương.

Ban đầu, khoảng 200 sinh viên biểu tình đòi công lý. Một tuần trước, cách thủ phủ Địch Hóa 3,000 cây số về phía Nam, tại Quảng Đông, hai công nhân người Duy Ngô Nhĩ bị hàng trăm công nhân người Hán đánh đập đến mạng vong, chỉ vì tin đồn họ dã hãm hiếp một cô gái người Hán.

Cảnh sát đàn áp cuộc biểu tình ôn hòa của 200 thanh niên này khiến họ bất mãn, biến thành bạo động. Hàng trăm thanh niên Duy Ngô Nhĩ tràn ra các đường phố, gặp ai giết nấy, làm 184 người chết phần đông là người Hán. Người Duy Ngô Nhĩ thì nói rằng hàng trăm thanh niên của họ bị công an bắn chết và chở xác đi phi tang.

Hai hôm sau, hàng trăm thanh niên người Hán cầm dao cầm gậy gộc tìm giết người Duy Ngô Nhĩ để trả thù.

Việc xẩy ra ở bên Tầu, nhưng tội thì gán cho người ở bên tây.

Các nước độc tài giống nhau ở điểm đó. Chuyện biểu tình chống gian lận bầu cử ở I-Ran thì đổ tội cho nước Ăng-lê, chuyện chống đối chế độ xảy ra ở Saigon – Hà Nội, cũng như chuyện bạo động xảy ra ở Tân Cương thì đổ tội cho chú Sam.

Chính quyền Bắc Kinh đổ thừa cho “các thành phần thù địch do các thế lực bên ngoài giựt dây.”

Ấy là nói người Mỹ và người cầm đầu cuôc nổi loạn là bà Rebiya Kadeer, nguyên là tù nhân, lãnh đạo “Đại hội Người Duy Ngô Nhĩ trên thế giới, tập hợp gần 50 tổ chức”.

Bà nầy bị Tầu bỏ tù, Mỹ can thiệp, được thả ra rồi được qua Mỹ. Vì vậy nên Mỹ gánh luôn cái tội xúi dân Uyghur nổi loạn. Kể cũng buồn cười. Nếu người Uyghur trở nên giàu có, hạnh phúc, tự do, nhân phẩm không bị vi phạm thì cái công đó là của Tầu chớ không phải của Mỹ đâu đấy!

                Bà Rebiya Kadeer được dân tộc Duy Ngô Nhĩ tôn vinh là “bà mẹ Uyghur”. Kẻ bắt nhốt bà và rồi sau đó phải thả bà không ai khác hơn là Vương Lạc Tuyền, bí thư đảng ủy Tân Cương mà người dân địa phương gọi là “bạo chúa của thời đại”.

                (Cũng may cho Bà, Bà không phải là người Viẹt Nam, bởi vì nếu được Mỹ bốc đi như Điếu Cày, thế nào Bà cũng bị đội cho cái mũ Đỏ)

                Hồ Cẩm Đào và Vương Lạc Tuyền có mối quan hệ rất thân thiết. Hồ Cẩm Đào là “sư phụ” của Vương Lạc Tuyền, đưa ông nầy vô bộ chính trị  năm 2002.

Ngược lại, Vương Lạc Tuyền là tham mưu của Hồ Cẩm Đào trong chính sách đối đầu với các dân tộc phía tây nước Tầu. Nhờ công lao đàn  áp phong trào nổi dậy tại Tây Tạng vào năm 1989, khi làm bí thư vùng tự trị này nên Hồ Cẩm Đào “mò” tới chức tổng bí thư đảng “Cộng Sản Trung Quốc.”

Tại Tân Cương, bạo động còn đẫm máu hơn với 184 người chết theo số liệu chính thức, nhưng phong trào ly khai nói đến con số từ 600 đến 800 người Duy Ngô Nhĩ bị giết.

                Từ kinh nghiệm đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân Tây Tạng, Hồ Cẩm Đào biết rõ tính cách nghiêm trọng của cuộc nổi dậy ở Tân Cương, nên mặc dù đang tham dự cuộc họp quốc tế nhóm G-8, Hồ vội vàng chạy về Bắc Kinh cầm vòi nước chửa lửa đang cháy ở Tân Cương.

                Liệu Hồ Cẩm Đào nối tóc mấy đời để làm công việc nầy?!

Việc nổi dậy của một dân tộc để sống còn, đâu phải chỉ xảy ra một lần, một năm, một đời mà là chuyện ngàn năm. Một ngàn năm trước, người Duy Ngô Nhĩ đã chống Tầu, nay đang chống Tầu và một ngàn năm sau nữa, người Duy Ngô Nhĩ cũng sẽ tiếp tục chống Tầu; giống như người Việt Nam, ba lần nội thuộc nước Tầu, kéo dài một ngàn năm, cuối cùng cũng đánh đuổi người Tầu chạy dài khỏi đất An Nam vậy.

                Hán hóa là tiêu diệt một dân tộc. Việc ấy đâu có dễ?!

Người Việt đồng hóa người Chăm cả ngàn năm, cho tới giờ, người Chăm vẫn còn đó, có tiêu diệt được đâu?  Tiêu diệt thân xác một người, một dân tộc thì có thể được đấy, nhưng còn văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, sức mạnh tinh thần, không dễ gì làm được. Người Hán đồng hóa 99 của 100 Việt, việc ấy dễ vì văn hóa, tôn giáo, thổ địa có chỗ giống nhau. Còn như với người Duy Ngô Nhĩ, các gì cũng khác, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa đều khác cả, tiêu diệt làm sao được.

                Người Tầu hay ỷ mạnh hiếp yếu. Cứ nghĩ mình có sức mạnh là đàn áp người khác được. Việc ấy có thể làm được, nếu là thời Trung Cổ. Ngày nay khác nhiều chứ. Đằng sau các dân tộc bị đàn áp là cả một thế giới tiến bộ, nhất là những nước có văn hóa gần với dân tộc bị đàn áp.

Nói rõ ra là, ít nhứt, sau lưng người Duy Ngô Nhĩ là dân chúng Thổ Nhĩ Kỳ, cùng ngôn ngữ và văn hóa với người Duy Ngô Nhĩ và “Thế giới Hồi giáo” là tôn giáo của người Duy Ngô Nhĩ.

Thổ Nhĩ Kỳ đã lên tiếng phản đối người Tầu, và Al qeda cũng không chịu im tiếng. Rồi các dân tộc nhỏ hiện ở trong nước Tầu, bên cạnh người Uyghur có người Tây Tạng, người Nội Mông, người Mãn Châu… Tất cả không dễ cho người Tầu chút nào cả.

                Người Việt Nam chân chính – chân chính, chứ không về hùa như Việt Cộng nịnh hót nước Tầu, hoan nghênh chính sách của Tầu đối với Tân Cương, cho thế là “phải” –  sẽ không ủng hộ người Tầu trong việc họ đàn áp ở Tân Cương.

                Người Việt rút kinh nghiệm một ngàn nam Bắc thuộc và mấy lần chống Tầu xâm lăng để chuẩn bị đối phó.

Trong viễn tượng đó, người Tầu phải sợ người Việt chớ sao người Việt lại sợ người Tầu? Kinh nghiệm lịch sử chứng minh điều đó.

Một ví dụ rõ ràng, sách sử còn ghi:

Vua Nam Hán nghe tin thái tử Hoàng Tháo bị quân Ngô Quyền giết chết trên sông Bạch Đằng, phải ôm mặt mà khóc ròng.

Lý Thường Kiệt đem quân đánh châu Khâm châu Liêm, khiến nhà Nam Tống hoảng kinh, tuy đem quân phục thù nhưng vừa đánh vừa run, bị quân Lý Thường Kiệt đuổi chạy dài trên sông Như Nguyệt.

“Vó ngựa quân ta đến đâu, chỗ ấy cỏ không mọc được nữa.” nhưng Thoát Hoan thì phải chui vào ống đồng để tránh tên mà chạy về Tầu.

Nghe tin Liễu Thăng, Vương Minh bị chém ở Chi Lăng, Vương Thông sợ mất mật, xin hàng.

Tôn Sĩ Nghị thì hốt hoảng đến độ bỏ cả ấn tín mà chạy.

                Nếu Việt Nam ngày nay, chính quyền và dân chúng cùng một lòng như đời Trần thì việc xảy ra ở Tân Cương bây giờ khó có thể xảy ra ở nước ta sau nầy

&

                Chuyện ngày xưa…

Địa danh…

Khu vực phía Tây nước Tầu, thường được gọi là “Tây Vực” dính liền với lịch sử và huyền thoại của Tầu và của… ta.

Xa hơn nữa về phía tây là Thiểm Tây, thủ phủ Diên An, một thời là cứ địa của Mao Trạch Đông, rồi đi dần tới Cam Túc, thủ phủ là Lan Châu.

Về khu vực nầy, trước hết, tôi giới thiệu các địa danh, vùng sinh cơ của các giống rợ Hồ, còn gọi là Hung Nô. Đây là những nơi người Tầu và các giống rợ Tây Vực đánh nhau không ít lần, không biết bao nhiêu chiến sĩ bỏ mình.

Để mô tả khung cảnh tang thương nầy, Chinh Phụ Ngâm có câu, “Dấu binh lửa nước non như cũ” hay “Xưa nay chiến địa nhường bao, Nội không muôn dặm biết bao dãi dầu.”

Qua phần sau, là giới thiệu các danh tướng Tầu thường đem quân xâm lăng Tây Vực. Nói cho đúng, bọn họ là những tên cướp nước, có tội lớn với nhân loại, khi tiêu điệt các bộ tộc người Hung ở nơi nầy.

Vượt sông Hoàng Hà, người ta đi về một nơi có tên trong… văn học Việt Nam: Thiên Sơn

Thiên Sơn

Đọc bài thơ “Bạch tuyết ca tống Vũ Phán quan quy kinh” của Sầm Tham, ta thấy hai chữ “Thiên Sơn”:

“Bắc phong quyển địa bạch thảo chiết
Hồ thiên bát nguyệt tức phi tuyết
Hốt như nhất dạ xuân phong lai
Thiên thụ vạn thụ lê hoa khai
Tán nhập châu liêm thấp la mạc
Hồ cừu bất noãn cẩm khâm bạc
Tướng quân giác cung bất đắc khống
Đô hộ thiết y lãnh do trước
Hãn hải lan can bách trượng băng
Sầu vân ảm đạm vạn lý ngưng
Trung tâm trí tửu ẩm quy khách
Hồ cầm tỳ bà dữ Khương địch
Phân phân mộ tuyết hạ viên môn
Phong chế hồng kỳ đống bất phiên
Luân đài đông môn tống quân khứ
Khứ thời tuyết mãn Thiên Sơn lộ
Sơn hồi lộ chuyển bất kiến quân
Tuyết thượng không lưu mã hành xứ

Bản dich:

“Bài ca tuyết trắng đưa Vũ Phán quan về kinh”
(bài dịch của Hoa Sơn)

Cỏ tháng tám tàn theo gió bắc
Trời đất Hồ lạnh ngắt tuyết sương
Gió xuân thổi lộng đêm trường
Vạn nghìn lê trắng rộn ràng nở hoa.
Bay tan tán xuyên rèm hoa gấm
Áo hồ cừu chăn ấm mỏng manh
Giương cung thẹn với tinh anh
Lạnh xuyên giáp sắt cũng đành khoác thân.
Trên biển cát băng dài trăm trượng
Mây u buồn vướng đọng sơn khê
Tiệc đêm nay tiễn khách về
Tỳ bà réo rắt, não nề sáo Khương
Đêm nay tuyết tả tơi trại lính
Ngọn hồng kỳ đơ lạnh dưới băng
Luân Đài tiễn bạn cửa đông
Ngày anh đi tuyết ngập vùng Thiên San
Bóng anh khuất nẻo non ngàn
Chỉ còn trên tuyết … ngựa hằn dấu chân.

Trong cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn, Đường Minh Hoàng bỏ chạy về phía Tây. Tả cảnh chạy loạn ấy, Đỗ Phủ có mấy câu, cách đây hơn ngàn năm:

“Chùa quê tàn sư điếm,

Núi tròn đường hẹp cao,

Chồn hương bên thạch trúc,

Anh vũ mổ trúc đào,

Chiều chiều lên trùng các,

Trăm dặm thấy thu hào”

Cảnh Thiên Sơn trong bài thơ của Sầm Tham chính là ngọn núi bà Đoàn Thị Điểm nói trong “Chinh Phụ Ngâm”:

“Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,

Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San.

(San hay Sơn cũng cùng một nghĩa. Bà Đoàn dùng chữ San để điệp vận với chữ “tàn” (Múa gươm rượu tiễn chưa tàn) ở câu kế – theo luật thơ song thất lục bát)

Sau nầy, Nhạc Sĩ Lê Thương cũng có nhắc lại trong “Hòn Vọng Phu 1: “Qua Thiên Sơn kìa hai chén rượu vừa tàn.”

Nguyễn Nghi, – em của Nguyễn Du – tác giả “Trung Quân đối”, trong tác phẩm của ông, có nhắc lại câu hát: “Tướng quân tam tiễn định Thiên Sơn, tráng sĩ trường ca nhập Hán quan” (ba mũi tên của tướng quân lấy được núi Thiên Sơn, tráng sĩ hát bài trường ca mà kéo quân vào cửa ải Hán)

Đàn Tỳ-Bà

Chỉ một cái đàn tỳ bà của Tầu cũng được văn chương của ta nói đến nhiều lần. Ví dụ trong “Chinh Phụ Ngâm”, bà Đoàn Thị Điểm viết:

Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,
Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon.
Ôm yên gối trống đã chồn,
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.                                     

“Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh” theo Vân Bình Tôn Thất Lương giải thích là lấy ý trong bài “Lương Châu Từ” của Vương Hàn:

                Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

                Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi

                Túy ngoạ sa trường quân mạc tiếu

                Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?!

Dịch nghĩa:

                Rượu bồ đào trong chén lưu ly

                Muốn uống nhưng đàn tỳ bà đã giục lên ngựa

                Say nằm ngoài sa trường, xin đừng người

                Xưa nay chinh chiến mấy ai về!

Lương Châu Từ có nghĩa là “Bài hát Lương Châu”.

Từ “Trung Châu” đi về phia Tây là vùng Thiểm Tây. Xa hơn nữa là Cam Túc, nơi có (huyện) Lương Châu. Lương Châu, Vũ Uy, Lan Châu, hàng thế kỷ trước là nơi Hồ-Hán tranh giành. Vì các cuộc chinh chiến nầy, người Tầu có nhiều điệu hát cổ như Thượng Chi hồi, Chiến Thành nam, Thương tiến tửu… của các thi nhân thời cổ.

Tỳ bà là loại đàn người đàn bà hay đàn, cũng như đàn nguyệt vậy. Tuy nhiên, về hình dáng, đàn tỳ bà đẹp hơn; nó có hình trái lê, dưới to (bầu đàn), trên nhỏ (cần đàn), không như đàn nguyệt, bầu hình tròn như mặt trăng (nguyệt) cần thẳng đuột.

Mấy chục năm trước đây, họa sĩ thường hay vẽ hình ngưòi đàn bà ôm đàn tỳ bà.

Trong “Tỳ Hà hành” của Bạch Cư Dị, Phan Huy Vịnh dịch, có câu Tiếng tỳ đâu thoảng trên sông” là nói tới người đàn bà trên bến Tầm Dương đêm khuya gãy đàn tỳ bà đấy!

Ở Huế, có lần tôi đến thăm nhạc sĩ Nguyẽn Hữu Ba, ông thầy dạy nhạc của bọn học trò chúng tôi, nhà ở trên đường Cột Cờ, sau nầy có tên là đường Ông Ích Khiêm, căn nhà gạch nhỏ của ông, được ông đặt tên là “Tỳ Bà trang”.

Có khi, người ta gọi đàn tỳ bà là “hồ cầm”. Trong truyện Kiều có câu “Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương”, nói chung, ý là muốn khen cái tài đàn tỳ bà của cô Kiều.

Người ta rất dễ lẫn lộn giữa các “Hồ Cầm”. Nó có thể là cây “Đàn Nhị” của người Hồ, giống như “Đàn Nhị” của ta; cũng đừng lầm với Contrebass, cũng gọi là “hồ cầm”, lớn thì gọi là “Đại Hồ Cầm”, vừa thì gọi là “Trung Hồ Cầm”.

Đây cũng có thể là cây đàn “Tỳ Bà” của Chiêu Quân mang theo khi sang đất Hồ với Hồ Hán Tà, nên người ta cũng gọi đàn ấy là “Hồ Cầm”. Chiêu Quân đánh một tiếng, con chim nhạn nghe đứt ruột mà sa xuống chết, nên điển tích gọi là “lạc nhạn”. Giáo sư Trần Văn Khê thì nói rằng “Hồ Cầm” chính là cây đàn của người Hồ, nay đã “thất truyền”.

(Xem “Tỳ Bà hay Nguyệt Cầm?!” cùng tác giả”.)

Về cái hình ảnh ôm yên ngựa, gối đầu lên trống mà ngủ, người đọc cũng thấy nó trong các bài thơ “Tái Hạ Khúc” (1) của Lý Bạch:

Ngũ nguyệt Thiên Sơn tuyết

                Vô hoa chỉ hữu hàn

                Địch trung văn “Chiết liễu”

                Xuân sắc vị tằng khan

                Hiểu chiến tùy kim cổ

                Tiêu mien bảo ngọc an

                Nguyện tương yêu hạ kiếm

                Trực vị trảm Lâu Lan

Nghĩa:

                                Tháng Năm, núi Thiên Sơn vẫn còn tuyết

                                Chẳng có hoa, chỉ giá rét lạnh lùng.

                                Tiếng sáo thổi nghe bài “Chiết liễu”

                                Chưa từng thấy cảnh sắc mùa xuân

                                Buổi sớm đánh nhau, nghe theo trống hiệu

Ban đêm nằm ngủ, ôm chiếc yên ngọc

Muốn tuốt gươm bên lưng

Thẳng chém chúa Lâu Lan.

Trống Trưòng Thành

Dù có học văn chương hay không, có tiền đi du lịch bên Tầu, người ta cũng có thể lên chơi “Vạn Lý Trường Thành” được.

Nhiều người lầm đấy! Cái “Trường Thành” du khách hay đến chơi là cái “Trường Thành” mới, mới xây vào đời nhà Minh. Cái “Trường Thành” cũ xây lâu hơn, xa hơn về phía Bắc, vào đời Tần Thủy Hoàng.

Thời “Chiến Quốc”, để chống rợ Hung Nô, các nước phía bắc Trung Nguyên đã xây dựng các “trường thành”. Đó là “Triệu Trường Thành”, “Yên Trường Thành”… Tất cả có 6 trường thành của 6 nước. Sau khi lên ngôi, Tần Thủy Hoàng cho nối 6 trường thành, thành ra “Vạn Lý Trường Thành”.

Việc xây “Vạn Lý Trường Thành” làm chết hàng triệu người, là nỗi khổ nhục lớn của người Hán, khiến dân chúng oán than Tần Thủy Hoàng không ít. Tuy nhiên, nhờ có “Vạn Lý Trường Thành” mà Trung Nguyên được yên ổn, thanh bình, kinh tế, văn hóa phát triển nhanh hơn trước, làm cho “Đế Quốc Hán” mau vững mạnh.

Khi vua Quang Vũ nhà Hán mở ra “Con Đường Lụa”, “Vạn Lý Trường Thành” trở thành phương tiện để bảo vệ con đường nầy.

Về hình ảnh “Vạn Lý Trường Thành” đó, trong Chinh Phụ Ngâm của Bà Đoàn Thị Điểm có câu “Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt”, dịch từ câu của Đặng Trần Côn “Cổ bề thanh động Tràng An nguyệt”.

Bài thơ “Tái Hạ Khúc” (2) của Lý Bạch, cũng có nói về “Trường Thành”:

Ẩm mã độ thu thủy,

Thủy hàn phong tự đao

Bình sa nhật vị một

Ảm ảm kiến Lâm Thao

Tích nhật Trường Thành chiến.

Hàm ngôn ý khí cao.

Hoàng trần túc kim cổ

Bạch cốt loạn hồng mao.

Nghĩa:

                                Cho ngựa uống nước, qua dòng song thu

                                Nước lạnh, gió như dao cắt.

                                Trên bãi cát phẳng, mạt trời chưa lặn

                                Nhìn thấy Lâm Thao mờ mịt xa xa

                                Này xưa, chiến đấu ở Trường Thành

                                Mọi người biểu lộ ý khí cao

                                Bụi vàng đủ hết chuyện xưa nay

                                Chỉ còn xương trắng lẫn lộn trong cỏ dại!

Khói Cam Tuyền

Học Văn Chương Việt Nam, học sinh miền Nam trước kia không lạ gì với sự tích Bao Tự, mê hoặc Châu U Vương, đốt lửa trên Phong Hỏa Đài để làm vui mỹ nhân.

Với điển tích nầy, trong Chinh Phụ Ngâm có câu,“Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây!”

Lý Bạch có câu thơ: “Tần gia trúc thành bị Hồ xứ, Hán gia hoàn hữu phong hỏa nhiên” (Nhà Tần xây thành phòng bị giặc Hồ, Nhà Hán đốt lửa báo động còn cháy rực) và câu: Phong hỏa đông sa mạc, Liên chiếu Cam Tuyền vân”. (Tái Hạ khúc)

Sử Tầu cũng viết thêm: Tần Thủy Hoàng khi làm vua xây nhiều cung điện, trong đó có các cung điện nổi tiếng là: A Phòng, Kiến Tín, Cam Tuyền.

Hiện nay Cam Tuyền thuộc tỉnh Thiểm Tây.

-Cầu Vị

                                “Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu”

Tức Cầu sông Vị, ở trên sông Vị Thủy, bắt nguồn từ Cam Túc, chảy qua Trường An, nay là Tây An, thuộc tỉnh Thiểm Tây, nhập vào sông Hoàng Hà. Đây là nơi Lã Vọng ngồi câu cá khi chưa ra làm quan.

                Tương truyền nước sông Vị rất trong, chảy đến huyện Cao Lăng thì gặp sông Kinh vốn nước đục ngầu. Hai con sông gặp nhau mà nước vẫn bên đục bên trong, không hòa với nhau được.

                Nước vẫn trong, là ám chỉ người hiền tài, lòng thanh cao, trong sạch, không thề “hòa” được với những cái gì xấu xa.

                Nguyễn Bỉnh Khiêm có hai câu thơ:

                                “Non Phú Xuân cao, nước Vị Thủy thanh,

                                Mây quyến khách, nguyệt vô tình.

                Trong bài thơ “Tái Hạ khúc” của Lý Bạch có câu: “Tuấn mã nhược phong phiêu, Minh tiên xuất Vị Kiều” nghĩa là: “Dường như con tuấn mã lao trong gió bão, người kỵ sĩ vừa quất ngựa vừa hô hét phóng về cầu sông vị.”

                Về hai dòng nước bên đục bên trong, cũng là trường hợp của song Thương

                Sông Thương nước chảy đôi dòng.

Bên trong bên đục em trông bên nào?

Hàm Dương

                Hàm Dương ở Thiểm Tây, là kinh đô nhà Tần thời Chiến Quốc. Đỗ Phủ có bài “Bình Xa Hành” nói tới Hàm Dương:

Bình xa hành

Xa lân lân,
Mã tiêu tiêu,
Hành nhân cung tiễn các tại yêu.
Gia nương thê tử tẩu tương tống,
Trần ai bất kiến Hàm Dương kiều.
Khiên y đốn túc lan đạo khốc,
Khốc thanh trực thướng can vân tiêu.
Đạo bàng quá giả vấn hành nhân,
Hành nhân đãn vân: điểm hành tần.
Hoặc tòng thập ngũ bắc phòng Hà,
Tiện chí tứ thập tây doanh điền.
Khứ thời lý chính dữ khoả đầu,
Quy lai đầu bạch hoàn thú biên.
Biên đình lưu huyết thành hải thuỷ,
Vũ Hoàng khai biên ý vị dĩ.
Quân bất văn: Hán gia Sơn Đông nhị bách châu,
Thiên thôn vạn lạc sinh kinh kỷ?
Túng hữu kiện phụ bả sừ lê,
Hoà sinh lũng mẫu vô đông tê.
Huống phục Tần binh nại khổ chiến,
Bị khu bất dị khuyển dữ kê!
Trưởng giả tuy hữu vấn,
Dịch phu cảm thân hận!
Thả như kim niên đông,
Vị hưu Quan Tây tốt.
Huyện quan cấp sách tô,
Tô thuế tòng hà xuất?
Tín tri sinh nam ác,
Phản thị sinh nữ hảo.
Sinh nữ do đắc giá tị lân,
Sinh nam mai một tuỳ bách thảo.

Quân bất kiến Thanh Hải đầu,
Cổ lai bạch cốt vô nhân thu?
Tân quỷ phiền oan, cựu quỷ khốc,
Thiên âm vũ thấp, thanh thu thu.

Nhượng Tống dịch:

Ngựa hí vang! Xe xình xịch chạy!
Lưng đeo cung ai nấy như nhau
Vợ con cha mẹ chạy sau

Bụi tung nhìn chẳng thấy cầu Hàm Dương
Níu vạt áo đón đường lăn lóc
Vọng tận trời tiếng khóc thảm thê
Qua đường khách hỏi việc chi
Người đi rằng: Chúng tôi đi… đi hoài
Mười lăm tuổi ra ngoài quan ải
Ngoài bốn mươi sang tới đồn điền
Bạc đầu về lại thú biên
Lúc đi ông lý đứng bên bịt đầu
Ngoài biên máu đỏ ngầu như bể
Nhà vua còn chưa nghỉ khai biên
Quan Ðông làng xóm muôn nghìn
Hai trăm châu lẻ mọc liền chông gai
Dù gái khoẻ có tài cày cuốc
Ðầy đồng sao phá được cỏ đi
Quân Mường lại đánh rát ghê
Bị xua thôi có khác chi chó gà
Ông dẫu muốn hỏi ra manh mối
Tôi dám đâu cạn nỗi đắng cay
Tức như mùa rét năm nay
Quân còn kéo tới Quan Tây ùn ùn
Quan huyện lại gấp dồn sưu thuế
Sưu thuế nào biết chẻ đâu ra
Sinh trai khổ mẹ khổ cha
Thà sinh con gái thế mà lại hay
Sinh gái được gả ngay lân cận
Sinh trai đành vùi lẫn cỏ cây
Chẳng đi ông chẳng có hay
Bể xanh trên bãi xương bày trắng phau
Chồng chất mãi ai nào nhặt hộ
Ma mới phiền ma cũ kêu oan
Những khi trời tối mưa tàn
Tiếng ma ti tỉ khóc than canh dài

Tiêu tương

Là một trong bốn con sông đổ nước vào hồ Động Đình. Đó là sông Tương Giang, Tư Giang, Nguyên Giang và Lễ Thủy. Ngoài ra sông Tiêu đổ vào sông Tương ở gần Trường Sa trước khi sông Tương đổ nước vào hồ Động Đình.

Tích cũ kể rằng vua Thuấn đi tuần thú đất Thương Ngô bị bệnh qua đời. Hai bà vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm vua đến bên sông Tương, ngồi bên bờ sông khóc lóc thảm thiết rồi trầm mình tự tử. Do đó, giọt Tương hay mạch Tương thành điển cố chỉ giọt nước mắt, nhất là nếu khóc vì tình.

Cô Kiều từng khóc: “Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương”.

                Thúc Sinh cũng khóc như Kiều:

Giọt châu lã chã khôn cầm

     Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương

Tú Uyên cũng mau nước mắt vậy:

Ỏi tai những tiếng đoạn trường

    Lửa tình dễ nguội sóng Tương khôn hàn”

                                (Bích Câu kỳ ngộ)

Bạch Thành (Bạch Đế Thành)

                                “Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại”

                Bạch Thành, còn gọi là Bạch Đế Thành nằm ở phía bắc sông Dương Tử, thuộc Trùng Khánh. Trùng Khánh là nơi Tưởng Giới Thạch bị Nhật đuổi chạy tuốt vô đây, trong Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai.

                Lý Bạch có bài “Tảo phát Bạch Đế Thành” (Buổi sáng rời Thành Bạch Đế):

                                Triêu từ Bạch Dế thái vân gian

                                Thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn

                                Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trú

                                Khinh du dĩ quá vạn trùng san

Tản Đà dịch:

Sớm ra Bạch Đế thành mây,
Giang Lăng nghìn dặm một ngày về luôn,
Hai bờ tiếng vượn véo von,
Thuyền lan đã vượt núi non vạn trùng.

Thanh Hải

                                “Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua”

                Câu trên và câu nầy nói tới việc dàn quân của hai bên (Tầu và rợ Hồ) chuẩn bị đánh nhau. Quân Tầu thì vô tới thành Bạch Đế, quân Hồ thì chờ sẵn bên Thanh Hải.

                Thanh Hải là tiếng Tầu, chính tên Mông Cổ là Koko Nor, cao độ trên 3 ngàn mét (cao gấp đôi Đà Lạt) so với mặt biển, thuộc vùng cao nguyên Tây Tạng, chung quanh là những ngọn núi cao, nước mặn nhưng có nhiều cá. Mùa đông, hồ bị đóng băng. Dĩ nhiên, nơi nầy là trận địa khi vua Tầu đem quân đánh rợ Hồ.

Hãn Hải

                                Tưởng chàng dong ruổi mấy niên,

                                Chẳng nơi Hãn Hải thì miền Tiêu Quan.

                Chinh phụ lo lắng khi nghĩ đến chồng, mấy năm dong ruổi nơi chiến trường, nếu không Hãn Hải thì cũng ở Tiêu Quan.

Hãn Hải là vùng sa mạc phía bắc Mông Cổ. Câu trong nguyên bản của Đặng Trần Côn là, “Tiêu Quan giác Hãn Hải ngung” có nghĩa là “ở xó Tiêu Quan” hay “góc Hãn Hải”. Bà Đoàn Thị Điểm dịch như trên.

Dĩ nhiên, những địa danh trên là nơi “hành quân” của chinh phu.

Đây là những địa danh gây xúc cảm cho các nhà thơ Tầu. Nguyên Hiếu Vân (1190-1257) có bài “Chinh Nhân oán” như sau:

                Hãn Hải phong yên tảo dịch không,

                Ngọc Quan quy lộ kỷ thì đông.

                Tái viên khả thị thu hàn tảo

                Nhất dạ thanh sương mãn kính trung.

Bản dịch của Trần Đông Hải:

Khói binh Hãn Hải quét trời
Ngọc Quan đường đất bao giờ về đông
Biên thành thu sớm lạnh căm
Một đêm thấy tóc sương lồng trong gương

Tiêu Quan

Là tên cửa ải ở nơi hiểm trở. Các đời Đường, Tống xây lũy đắp đồn chống rợ Thổ Phồn.

Bài thơ sau đây là của Đỗ Phủ.

Ban đầu, tôi định chỉ trích lại câu thơ có nói về Cổ Tiêu Quan; đến khi đọc lại, thấy ông ta nhắc đến nhiều địa danh ở Tây Vực, có tên trong Chinh Phụ Ngâm của Bà Đoàn. Rõ ràng, các địa danh nói trên, do tình cờ của “lịch sử xâm lược” của Tầu mà vào “ngồi” trong văn chương nước ta, nên tôi trích lại toàn bài. Mời quí bạn đọc hết bài để… tiêu khiển.

Theo “Thi Viện” lúc Đỗ Phủ làm bài thơ nầy, là thời gian ông “lưu lạc” mười năm (760-770) ở Tây Nam nước Tầu, sau khi loạn An Lộc Sơn chấm dứt (759).

Cũng xin nói thêm, Đỗ Phủ là nhà thơ “hiện thực”. Thơ ông thường mô tả những cảnh chiến tranh gian khổ, bắt lính, chết chóc đau đớn… không những cho người phải mang gươm giáo ra nơi trận mạc mà cho cả những người ở phía sau, những ông già, bà lão, đàn bà có chồng đi lính và trẻ thơ…

Đọc thơ ông, không mấy ai không khóc!

                Thơ ai như thơ ông

                Lặng im mà gầm thét

                Trang trang đều xé lòng

                Câu câu đều đẫm huyết

               

                Thơ ai như thơ ông

                Mỗi chữ đều như róc

                Từ thịt xương cuộc đời

                Từ bi thương phẫn uất

 

                Thơ ai như thơ ông

                Kể chuyện mái nhà tốc

                Vác củi làm chuồng gà

                Đọc lên trào nước mắt!

                                                                (Phùng Quán – Đêm ở Nghi Tàm, đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe)

Bát ai thi

Tặng tả bộc xạ Trịnh quốc công Nghiêm công Vũ

Trịnh công hồ liên khí,
Hoa nhạc kim thiên xương.
Tích tại đồng tử nhật,
Dĩ văn lão thành danh.
Nghi nhiên đại hiền hậu,
Phục kiến tú cốt thanh.

Khai khẩu thủ tương tướng,
Tiểu tâm sự hữu sinh.
Duyệt văn bách chỉ tận,
Lạc bút tứ toà kinh.
Lịch chức phỉ phụ nhiệm,
Tật tà thường lực tranh,
Hán nghi thượng chỉnh túc,
Hồ kỵ hốt tung hoành.
Phi truyền tự Hà, Lũng

Phùng nhân vấn công khanh.
Bất tri thừa dư xuất,
Tuyết thế phong bi minh.
Thụ từ Kiếm Các đạo,
Yết đế Tiêu Quan thành.
Tịch mịch vân đài trượng,
Phiêu diêu sa tái tinh.
Giang sơn thiếu sứ giả,
Già cổ ngưng hoàng tình.
Tráng sĩ huyết tương thị,
Trung thần khí bất bình.
Mật luận Trinh Quán thể,
Huy phát Kỳ Dương chinh.
Cảm kích động tứ cực,
Liên phiên thu nhị kinh.
Tây giao ngưu tửu tái,
Nguyên miếu đan thanh minh.
Khuông, Cấp nga sủng nhục,
Vệ, Hoắc cánh ai vinh.
Tứ đang hội phủ địa
Tam chưởng Hoa Dương binh.
Kinh triệu không liễu sắc,
Thượng thư vô lý thanh.
Quần ô tự triêu tịch,
Bạch mã hưu hoành hành.
Gia Cát Thục nhân ái,
Văn Ông nho hoá thành.
Công lai tuyết sơn trọng,
Công khứ tuyết sơn khinh.
Kí thất đắc Hà Tốn,
Thao kiềm diên Tử Kinh.
Tứ giao thất bích luỹ,
Hư quán khai phùng nghinh.
Đường thượng chỉ đồ hoạ,
Quân trung xuy ngọc sênh.
Khởi vô Thành Đô tửu,
Ưu quốc chỉ tế khuynh.
Thì quan Cẩm thuỷ điếu,
Vấn tục chung tương tinh.
Ý đắc Khuyển Nhung diệt.
Nhân tàng hồng túc dinh
Dĩ tư báo chủ nguyện,
Thứ hoạch bì thế trình.
Quýnh quýnh nhất tâm tại,
Trầm trầm nhị thụ anh.

Nhan Hồi cánh đoản chiết,
Giả Nghị đồ trung trinh.
Phi diêu xuất Giang Hán,
Cô chu khinh Kinh Hành
Hư vô Mã Dung địch,
Trướng vọng long nhương oanh.
Không dư lão tân khách,
Thân thượng quỹ tram anh.

Phạm Doanh dịch:

Trịnh quốc công cao vời nhân cách,
Hoa nhạc kia trong sạch cùng chung.
Xưa kia khi còn trẻ trung,
Đã nghe danh tiếng lẫy lừng khắp nơi
Ông đúng là con nòi gia thế,
Lại có thêm thân thể cân phân.
Mở miệng rõ đủ võ văn,
Đối với bè bạn lo chăm hết lòng
Đọc trăm trang chỉ trong nháy mắt,
Bốn phía kinh khi bút vung lên.
Lĩnh chức chẳng nhờ cha xin,
Với điều sai xấu quyết bàn trắng đen.
Nghi thức Hán đang còn bồi đắp,
Ngựa Hồ kia rầm rập chạy vung.
Từ Hà, Lũng tin khẩn trương,
Kiếm người để tới đảm đương mọi bề.
Nào có biết lên xe tới đó,
Lệ tuyết rơi, cơn gió than gào.
Vâng lời, Kiếm Các nhận trao,
Bái vua xin nhận đi vào Tiêu-quan.
Đồ bầy nơi đài vân u ám,
Cờ biên ải ảm đạm tả tơi,
Sứ giả vắng bóng khắp nơi,
Trống ốc đã khiến xa rời lòng vua.
Thân tráng sĩ tranh đua đổ máu,
Lòng sục sôi nau náu trung thần
Khí thế Trinh Quán cùng bàn
Kỳ Dương chiến dịch phải cần phát huy.
Khắp bốn phương một khi chung sức,
Cả hai kinh đều được thu về.
Rượu thịt chở tự phương tê,
Trang hoàng rạng rỡ miếu thờ như xưa.
Khuông, Cấp đang được ưa hoá nhục
Vệ, Tiết vinh bỗng chốc thê lương
Bốn lần hành chính chủ trương,
Ba lần quân sự Hoa Dương cầm đầu
Chốn kinh đô còn đâu sắc liễu,
Dép thượng thư lắng dịu thôi kêu.
Đàn quạ rỉ rả sáng chiều,
Ngựa trắng thôi cũng hết điều nhảy tung.
Giống Khổng Minh, được lòng dân Thục,
Dạy dỗ dân chẳng khác Văn Ông.
Ông tới tuyết núi mông lung,
Ông rời tuyết núi sạch không cả vùng
Có Hà Tốn trông chừng nội bộ,
Việc điều hành, Tôn Sở đảm đương
Bốn ô chẳng có luỹ tường,
Quán thì rộng mở chào mừng khách vô.
Trên sảnh bức điạ đồ hoành tráng,
Trong trại quân lừng tiếng sáo tiêu.
Thành Đô há thiếu rượu sao,
Vì lo việc nước, nghiêng bầu chút thôi.
Nơi sông Cấm, ông coi câu cá,
Thăm dân tình để rõ việc công.
Đợi khi dẹp được Khuyển Nhung,
Nhân dân thóc lúa đầy trong kho tàng
Lấy điều này nhằm mong báo chúa,
Sau nữa là củng cố thói đời.
Một lòng còn đó sáng ngời,
Hai nhóc lại đã lẻn ngồi bên trong.
Giống Nhan Hồi đời ông quá ngắn,
Theo Giả Nghị, cứ vẫn giữ trung.
Phất phơ Giang Hán cờ tang
Thuyền lẻ nhẹ lướt về ngang Kinh, Hành
Địch Mã Dung vắng tanh khoảng trống,
Mộ cao vời cố ngóng từ xa.
Còn đây một tân khách già,
Trên người thấy ngượng cái bề trâm anh.

                Trong Chinh Phụ Ngâm có câu, Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo, Bến Phì gió thôi đìu hiu mấy gò”

                Non Kỳ là (núi) Kỳ Liên Sơn, Bến Phì là bến đò trên sông Phì Hà. Tìm hiểu, chúng ta thấy:

Non Kỳ

                Kỳ Liên Sơn, còn có tên gọi là Nam Sơn – tức dãy núi phía Nam của “Con Đường Lụa”, ranh giới Thanh Hải và Cam Túc, dài một ngàn cây số, cao gần gấp ba thành phố Đà Lạt của ta. Theo “Sử Ký” của Tư Mã Thiên, vùng đất nầy là của một giống Hồ tên là Nguyệt Chi.

Bến Phì

                Bến trên sông Phì Thủy, sông nầy phát nguyên ở An Huy. Đây là nơi xảy ra một trong những trận đánh lớn nhất trong lịch sử Tầu, vào năm 383 đời Đông Tấn, quân ít thắng quân nhiều.

                Một trăm vạn quân Tiền Tần gồm người Hồ và người Hán, do vua Phù Kiên nước Tần thân chính, bị quân Tạ Huyền của Đông Tấn đánh tan. Quân Tiền Tần thua, vua Phù Kiên bị thương.

                Đây là trận đánh trên sông Phì Thủy. Sau trận đánh nầy, nhà Tiền Tần dần dần tiêu vong.

Lũng Tây

                                –Lũng Tây chảy nước nhường uốn khúc,

                       Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu!

-Hẹn cùng ta Lũng Tây nham ấy
Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm?

                Lũng Tây thuộc tỉnh Cam Túc. Hàn Đức, sinh trưởng ở đây, đem một trăm ngàn quân rợ Khương dưới trướng theo Tây Lương, sau bị Triệu Vân giết chết!

                La Ẩn (thời Vãn Đường) có bài thơ viết về Lũng Tây, nơi sản sinh nhiều loài chim vẹt (Anh Vũ).

Mạc hận điêu lung thúy vũ tàn

Giang Nam địa noãn, Lũng Tây hàn

Khuyến quân bất dụng phân minh ngữ

Ngữ đắc phân minh xuất chuyển nan.

Bản dịch của Nguyễn Minh:

Đừng giận hờn lồng son lông rụng
Ấm Giang Nam hơn lạnh Lũng Tây
Khuyên mi chớ nói lời ngay
Lời ngay nói mãi có ngày hoạ thân

Hán Dương

Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ,
Chiều lại tìm, nào thấy tiêu hao?

                Hán Dương là một trong 3 khu thuộc thành phố Vũ Hán – gồm Vũ Xương, Hán Dương và Hán Khẩu.

                Người ta thường coi vùng nầy như là nguồn gốc nền văn minh Tầu. Hán Dương cũng là nơi Thôi Hiệu cảm tác bài thơ “Hoàng Hạc lâu” nổi tiếng trong Văn Học Trung Hoa. Độc giả có thể xem lại trong bài “Tân Cương trong văn học Việt Nam”, bài 1, cùng tác giả.

                Về chính trị, cuộc “Khởi Nghĩa Vũ Xương” là ngọn lửa châm ngòi cho cuộc “Cách Mạng Tân Hợi” 1911, chấm dứt chế độ cai trị của nhà Mãn Châu hơn ba trăm năm, mà cũng là chấm dứt “Chế Độ Phong Kiến” đã có từ hàng ngàn năm của Trung Hoa.

                Điều quan trọng hơn nữa, Vũ Hán (thủ phủ tỉnh Hồ Bắc, quê hương bản quán của Mao Trạch Đông), là cửa ngõ đi về phía Tây nước Tầu. Nhiều cuộc xâm lăng Tây Vực của người Tầu khởi đi từ nơi đây.

                Cây cầu Vu Sơn bắc ngang sông Dương Tử là cái ước vọng lớn và lâu đời của người Tầu, mãi đến năm 1957 mới hoàn thành.

                Trong ý nghĩa đó, người đọc có thể thắc mắc về cây cầu nói trong Chinh Phụ Ngâm, “Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ”. Cầu Hán Dương nầy là cầu nào? “Hình như” có người giải thích là cầu nầy trên sông Hán Thủy. Vũ Xương là nơi gặp nhau của hai con sông Dương Tử và Hán Thủy.

Nhân vật:

-Giới Tử (Phó Giới Tử)

                                “Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử”

(Chinh Phụ ngâm)

Giới Tử được quan chức là nhờ đi lính khi còn trẻ. Rợ Lâu Lan giết sứ nhà Hán, cắt đứt “Con Đường Lụa”. Giới Tử đi sứ dẹp loạn Lâu Lan, được thăng làm Bình nhạc giám.

Sau đó, ông đi sứ Lâu Lan một lần nữa, dùng mưu giết được vua Lâu Lan, lại được phong Nghĩa Dương hầu.

Địch Nhân Kiệt

                                “Lên cao trông thức mây lồng,

                                Lòng nào mà chảng động lòng bi thương.

                Đời Đường, Địch Nhân Kiệt đi đánh giặc xa nhà, có lần đứng trên núi, nhìn đám mây hồng xa xa, ông nói với binh lính: “Nhà cha mẹ ta ở đấy!” Ý muốn nói là nhớ cha mẹ, nhớ nhà. Ông từng giữ chức tể tướng khi Võ Tắc Thiên làm vua. Đời Đường Duệ Tông, ông làm quan ở Cam Túc. Bấy giờ Cam Túc là nơi sinh sống của nhiều bộ lạc Hung Nô. Ông thu phục được các bộ lạc nầy. Năm 696, người Khiết Đan tấn công Trung Châu, Địch Nhân Kiệt lại được sai đi đánh dẹp. Năm sau, ông ổn định được giặc nầy.

                Sau đó, người Đột Quyết lại xâm phạm Hà Bắc, Địch Nhân Kiệt đi chinh phạt, ổn định tình hình tại đây.

Lý Quảng

                Quê ở Lũng Tây, biệt danh là Phi tướng quân, là tướng đời Hán. Theo Tư Mã Thiên thì Lý Quảng thuộc dòng dõi Lão Tử, và tổ tiên của các vua Đường.

                Lý Quảng có công lớn trong viẹc đánh dẹp Hung Nô.

Máu Thuyền Vu, Quắc nhục chi.

                                “Máu Thuyền Vu, Quắc Nhục Chi,

                                Ấy thì bữa ống, ấy thì bữa ăn.”

Thuyền Vu hay Thiền Vu, là tên gọi chung vua các bộ lạc Hung nô.

Quắc là cái tai trái. Ngày xưa, khi thắng được địch thủ, viên tướng thắng trận cắt cái tai trái đem về dâng lên vua để lập công.

Vân Bình Tôn Thất Lương lại giải thích là rợ Quắc. Quắc nhục chi là ăn thịt của rợ Quắc. Nói chung, câu đầu là “ăn thịt uống máu” (thông thường là “ăn gan uống máu”) của kẻ thù.

Có lẽ chữ Quắc là cái tai thì đúng hơn. Vì câu nầy là “tiểu đối”. Ba chữ trước “Máu Thuyền Vu” đối với ba chữ sau là “Quắc Nhục Chi.” Máu đối với tai, Thuyền Vu đối với Nhục Chi là tên hai bộ lạc Hung Nô.

Đây là cách làm và nói của những người đi đánh trận ngày xưa. “Uống máu ăn thề” hay “Uống máu ăn gan kẻ thù” để “liên hoan”.

                Có thể độc giả sẽ nghĩ đến một câu trong bài quốc ca của Việt Cộng, Văn Cao viết, “Thề phanh thây uống máu quân thù, Tiến mau ra…”

                Theo Hoàng Văn Chì, trong “Trăm Hoa Đua Nở trên Đất Bắc”, năm 1945, khi nạn đói năm Ất Dậu (1945) đang xảy ra, Văn Cao được một người bạn thân, đang hoạt động cho Việt Minh yêu cầu soạn môt bài hát cho một đoàn quân, một “nhạc quân hành”. Bấy giờ Văn Cao đang làm bài thơ “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc”, nói về tình cảnh Hà Nội lúc bấy giờ. Mỗi sáng, người ta đẩy mấy chiếc xe bò đi quanh phố để thu nhặt những xác người vừa chết đói đem qua.

                Trong tình cảnh ấy, với ảnh hưởng văn hóa Tầu “Máu Thuyền Vu, Quắc Nhục Chi” Văn Cao có viết như thế cũng không có gì lạ.

                Tuy nhiên, những lời ca ấy khích lệ người lính Việt Minh khi họ đánh quân Pháp hay khi xâm lăng miền Nam VN.

                (Độc giả có thể xem bài thơ nói trên của Văn Cao ở phần phụ lục)

Ban Siêu (32-102)

“Phận trai già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về.”

Ông là danh tướng đời Đông Hán từng cầm quân đánh Hung Nô. Ông bỏ nghiên bút, nói: “Kẻ trượng phu nên bắt chước Phó Giới Tử, Trương Kiên lập công ngoài cõi chứ sao chịu lận đận ở chỗ bút nghiên nầy.”

Sau ông trở thành nhà quân sự và ngoại giao thời Đông Hán, lập nhiều công đánh dẹp Hung Nô, bảo vệ “Con Đường Lụa”. Ông đi dánh giặc xa nhà hơn 30 năm. Khi đi còn trẻ, khi về tóc đã bạc.

Hoắc Khứ Bệnh

Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền,
Tên ghi gác Khói tượng truyền đài Lân

Ông được Hán Vũ Đế tin tưởng, cho vào cung làm thị trung, bảo vệ cho hoàng đế.

                Hán Vũ Đế sai ông cùng Vệ Thanh chinh phạt Hung Nô, bấy giờ ông mới 18 tuổi. Ông dẫn tám trăm quân đánh vào Hung Nô, giết hơn hai ngàn kẻ địch. Hung Nô bỏ chạy. Hán Vũ Đế thưởng công phong cho làm Quan Quân Hầu.

                Năm 121 Hán Vũ Đế sai ông đánh Hung Nô lần thứ 2. Ông cùng mười ngàn phiêu kỵ tiến vào Lũng Tây, giết gần mười ngàn địch quân. Nhờ chiến công của ông, nhà Hán cai trị vùng phía Tây, đẩy quân Hung Nô lên phía Bắc.

                Hai năm sau, Hán Vũ Đế lại sai ông đem một trăm ngàn quân kỵ, cùng Vệ Thanh đánh Hung Nô. Trong trận nầy, ông đã tiêu diệt hơn bảy chục ngàn quân địch, đánh bại quân Hung Nô. Ông được phong “Đại Tư Mã”.

Trương Khiên

Ông là người thám hiểm kiệt xuất đời Tây Hán, có công lớn trong việc mở ra “Con Đường Lụa” ở Tây Vực.

Vệ Thanh

Ông là tướng giỏi nhà Hán, bảy lần đánh bại quân Hung Nô, lập công to, sau khi chết được truy tôn là Trường Bình Liệt Hầu.

Tô Vũ

Thấy nhạn luống tưởng thư phong,
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.

                Ngày xưa, người ta thường hay dung chim nhạn để đưa thư, nhất là trong văn chương, người ta lấy ý ấy qua sự tích Tô Vũ.

                Đời Hán Vũ Đế, rợ Hung Nô thường quấy phá. Hán Vũ Đế sai Tô Vũ đi sứ để cầu hòa.

                Tô Vũ bị vua Hung Nô bắt giam vào hang tối, cố ý để cho chết đói, không ngờ ông vẫn sống sót. Vua Hung Nô ngỡ là ông được thần giúp đỡ, sau bắt ông đi chăn dê ỏ phía Bắc, bảo rằng khi nào dê đực đẻ con sẽ cho Tô Vũ về.

                Phía Bắc lạnh giá, tuyết băng. Hằng ngày Tô Vũ đi chăn dê, tối vào ngũ trong hang đá, sống cảnh thiếu thốn, khổ cực.

                Đến mùa Thu, khi chim nhạn bắt đầu bay về phương Nam, ông viết thư để chim nhạn đưa về Trung Nguyên. Hán Vũ Đế nhận được thư ấy.

                Tô Vũ lấy một người vợ bản xứ, có một đứa con.

                Sau 19 năm bị đày, nhờ sự can thiệp của vua Hán, ông mới được Hung Nô tha về.

Rợ Lâu Lan

                Là một nước nay không còn nữa.

                Thế kỷ thứ II trước CH, quốc gia nầy nằm ở phía Bắc vùng Tân Cương, trên “Con Đường Lụa”. Để mở ra con đường nầy, nhà Hán xâm lăng Lâu Lan trở thành bù nhìn rồi tiêu diệt hẳn. Di tích nước Lâu Lan chỉ còn lại những tòa thành bị vùi lấp trong sa mạc Tân Cương.

Thiên Kiêu

                Còn gọi là giặc trời, “Thước guơng đã quyết chẳng dung giặc trời” (Chinh Phụ Ngâm)

                “Hồi nãi Thiên tử chi kiêu tử dã”. (Người Hồ là kẻ kiêu ngạo của Thiên Tử) là câu nguyên văn chữ Hán của Đặng Trần Côn.

                Người Hán gọi người Hung Nô là “giặc trời” (Thiên kiêu). Lý Bạch có câu thơ: “Sáp vũ phá Thiên kiêu” (Mũi tên bắn ra phá giặc trời). Lý Bạch lại có câu: “Hồ mã phong Hán thảo, Thiên kiêu xúc Trung nguyên” (Ngựa Hồ như gió thổi dạt cỏ Hán, Thiên Kiêu lại buồn xịu mặt ở Trung Nguyên).

Lòng người cô phụ

                                “Chợt ngoảnh lại thấy màu dương liễu

                                Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.

Khuê oán

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,
Xuân nhật ngưng trang thướng thuý lâu.
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch phong hầu.

Vương Xương Linh

Ngô Tất Tố dịch:

Cô gái phòng the chửa biết sầu
Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu
Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu
Hối để chồng đi kiếm tước hầu.

Việt điểu sào nam chi, Hồ mã hí bắc phong

Cổ thi có câu:

Hồ mã tê Bắc phong,
Việt điểu sào Nam chi.

Nghĩa là:

Ngựa Hồ hí gió Bắc,
Chim Việt ở cành Nam.

Chim Việt sinh ở đất Việt, phía nam nước Tàu.

Hằng năm, đầu mùa thu, chim Việt bay lên phía Bắc kiếm ăn. Mỗi khi làm tổ, chim chọn cành hướng về phương Nam, nên gọi là “Sào Nam” – Sào là tổ, ổ. Do điển tích nầy, khi làm cách mạng, lưu lạc bên Tầu, cụ Phan Bội Châu lấy hiẹu là “Sào Nam”.

Truyện “Trinh thử” của Hồ Huyền Qui có câu: “Chỉ con chim Việt đỗ rày cành Nam”.

Ngựa Hồ là ngựa của người Hung Nô, là loài ngựa giỏi, người Mông Cổ dung để ra trận. Người Tầu bắt đem về Trung Nguyên để dùng.

                Mỗi khi mùa Đông tới, gió Bấc thổi lạnh, ngựa Hồ nhìn về “cố quốc” mà hí (tê) lên.

                (Bài đã dài, kỳ sau xin nói tới “Nam Phạt, Đông tiến”

hoànglonghải(tuệchương)

Phụ lục:

Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc

Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa
Chập chờn ảo hoá tà ma…
Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa
Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục
Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục
Tình tang… Não nuột khóc tàn sương
Áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường
Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thể
Ta đi giữa đường dương thế
Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây…
Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy
Xác truỵ lạc rũ bên thềm lá phủ
Ai hát khúc thanh xuân hờ ơi phấn nữ
Thanh xuân hờ thanh xuân
Bước gần ta chút nữa thêm gần
Khoảng giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tuỷ

Ai hủy đời trên tang trống nhỉ?
Hay ác thần gõ quách nạo mồ khuya!
Đảo điên… mê say… Thể phách chia lìa
Nghe reo mạnh, chuỗi tiền cười lạnh lẽo!
Tiền rơi! Tiền rơi! chùm sao huyền diệu
Lấp lánh hằng hà gạo rơi! Tiền rơi!
– Vàng mấy lá thừa đãi mây phủ chiếu

Ngã tư nghiêng nghiêng chia nẻo
Dặt dìu cung bậc âm dương
Tàn xuân nhễ nhại mưa cô tịch
Đầm đìa rả rích phương Đông
Mang mang thở dài hồn đất trích
Lưỡi thép trùng trùng khép cố đô
Cửa ô đau khổ
Bốn ngả âm u
(Nhà ta thuê mái gục tự mùa thu
Gác cô độc hướng về phường Dạ Lạc)
Đêm đêm, dài canh tan tác
Bốn vực nhạc động, vẫy người
Giãy đèn chao thắp đỏ quạnh máu đời
Ta về gác chiếu chăn gào tự tử
Trên đường tối đêm khỏa thân khiêu vũ
Kèn nhịp xa điệu múa vô luân

Run rẩy giao duyên khối nhạc trầm trầm
Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc
Kiếp người tang tóc
Loạn lạc đòi xương chất lên xương
Một nửa kêu than, ma đói sa trường
Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc

Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác
Đi vào ngõ khói công yên
Thấy bâng khuâng lối cỏ hư huyền
Hương nha phiến chập chờn mộng ảo
Bánh nghiến nhựa đường nghe sào sạo
Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe
Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề
Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực
Mưa, mưa hằng thao thức
Trong phố lội đìu hiu
Mưa, mưa tràn trên vực
Hang tối gục tiêu điều
Mang linh hồn cô liêu
Tiếng xe càng ám ảnh
Tiếng xa dần xa lánh
Khi gà đầu ô kêu.

Tham khảo:

Web:     – Thi Viện

-Hoa Sơn Trang

-Wiki

Sách: -Văn Đàn bảo Giám

                -Hán Việt Tự Điển

                -Thiều Chửu Tự Điển.

                -Điển Cố Văn Học – Đinh Gia Khánh.

                -Tự Điển Truyện Kiều – Đào Duy Anh

                -Tự Điển Văn Liệu – Long Điền Nguyễn Văn Minh.

                -Chinh Phụ Ngâm – Vân Bình Tôn Thất Lương.

                -Việt Nam Văn Học Giảng Bình – Phạm Văn Diêu

                -Việt Nam Thi Văn giảng Luận – Hà Như Chi.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: