Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Chống Giặc Tầu (Bài 5) – Người Tầu ở hải ngoại

11)-Một chút về địa phương

Sịa, thuộc xã Quảng Phước, Quận Quảng Điền là một thị trấn ở phía tây phá Tam Giang - Phá Tam Giang là một cái đầm rộng, nơi gặp gỡ của ba con sông: Sông Hương, sông Bồ và sông Ô Lâu.

Người Tầu từ bên xứ họ qua Việt Nam, thường vào cửa phá Tam Giang, vào Sịa rồi sau đó tỏa dần ra. Một là họ lên Huế, số đông sống ở Gia Hội là phố Tầu của đất Thần Kinh, hoặc lên các quận lỵ, hoặc tới thị xã Quảng Trị, Diên Sanh, Đông Hà…

Hình ảnh người Tầu khi đến xứ ta là với bộ quần áo cũ, cái áo không ngắn không dài, bạc mầu, và một cái “quang gánh”, hai đầu là hai cái bồ tre, đựng “ve chai”, do họ đi mua từng nhà, nhà nầy qua nhà khác, mua đi bán lại, sinh sống qua ngày. Thế rồi họ dựng tiệm, ban đầu buôn bán nhỏ, thường là tiệm “chạp phô”, sau lên buôn bán lớn, xuất nhập cảng. Chưa tới một đời mà trở nên giàu có hàng ức triệu.

2)-Người Minh hương

Người Tầu đến đông nhất là vào thời kỳ “Phản Thanh phục Minh”. Người Mãn Châu xâm lăng và cai trị Trung Hoa. Người Trung Hoa chống không lại, không dám ở lại trong nước, bèn trốn qua các nước Đông Nam Á, đông nhất là ở Việt Nam.

Ở Miền Trung, họ tập trung ở các phố Tầu, như Gia Hội của cựu kinh đô Huế, ở Hội An, coi như thành phố Tầu… tự gọi là người Minh. Họ lập làng, gọi là Minh Hương (hương là làng), “người Minh Hương”

Hàng tướng tá thua trận chạy qua nước ta mà có mang binh lính theo thì có Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài, Mạc Cửu. Chúa Nguyễn không dám cho những người nầy ở lại kinh đô. Họ có binh tướng trong tay, ở sát kinh đô, Chúa Nguyễn cũng “lạnh giò”. Thế nên, đất trong Nam còn rộng, người còn thưa, Chúa bèn cho họ vào Nam sinh sống. Độc giả muốn biết rõ hơn, xin đọc “Saigon Năm Xưa” của Vương Hồng Sển.

3)-Người Tầu qua nước Nam từ lúc nào?

Từ thời Bắc thuộc, người Tầu qua nước ta làm quan như Nhậm Diên, Sĩ Nhiếp hay chạy trốn khỏi quê hương, hay vì nghèo khổ “tha phương cầu thực”. Việc nầy chính sử không nói rõ, như dã sử bàn không ít.

Có người cho rằng người Mường, nhất là “Mường Thanh Hóa” mới chính là người Lạc Việt. Còn như người Việt ở vùng hạ lưu sông Nhị có hòa giống máu huyết với người Tầu mới sang.

Không chịu ách cai trị của người Tầu và cũng không muốn sống chung với người Tầu, người Lạc Việt di cư lên mạn rừng núi. Người Lạc Việt đó chính là tổ tiên người Mường bây giờ. Ngôn ngữ và chữ viết của họ là do từ dòng giống Lạc Việt truyền lại.

Như thế thì người Nam ở vùng đồng bằng có pha máu huyết với người Tầu sang xứ ta, và cũng trong quá trình đi dần về phương Nam, chiếm đất người Chàm, người Miên, những lưu dân nầy lại pha máu thêm một lần nữa.

Điều đó có thể xảy ra được chăng?

Tại sao không?!

Ông Lê Đình Khởi, thầy giáo dạy Lớp Nhì của tôi, niên khóa 1948-49, nói với chúng tôi rằng, nhiều khi chúng ta đứng trước một Tháp Chàm hay Đế Thiên Đế Thích – ông từng làm việc bên xứ ấy trước 1945 – ông bảo rằng lòng chúng ta xúc động. Sự xúc động đó không những do từng “dấu tàn phai” trên tháp, đền cũ, mà chính trong huyết quản chúng ta có pha máu người Chàm hay người Miên, trong quá trình người Việt đi dần về phương Nam để mở rộng bờ cõi.

4)-Đóng lại quá khứ

Khi đến định cư ở xứ người, người Tầu thường “đóng lại quá khứ Tầu”, có nghĩa là họ ít nghĩ đến, nhớ đến quê hương cũ của họ. Họ không tính đường trở về.

Trường hợp cụ Vương Hồng Sển là tương đối rõ. Cụ giải thích, người Tầu xứ sóc Trăng của cụ còn nói tiếng Tầu pha tiếng Việt, nên thay vì tên cụ là Vương Hồng Phước thì khai sinh lại ghi là Vương Hồng Sển. Tiếng Phúc Kiến Sển tức là Phước.

“Bây giờ thử hỏi: Một người như tôi, máu Hoa pha máu Việt đã bốn đời, không nói được tiếng Phước Kiến, giá thử có dịp qua bên ấy, vậy chớ có nhìn đồng tông đồng tánh với người bên ấy được chăng? Giấy tờ chứng minh không có, nói miệng tài ai tin, vả lại nhìn bà con ở xa mút bên Tàu để làm gì? Khi đã xa cách nhau suốt nhiều đời, dẫu tình đậm cũng hoá lợt; thêm vấn đề ngôn ngữ bất đồng, phong tục, cách ăn thói ở không giống, “y ăn xì-dầu, tôi húp nước mắm”, lại nữa tỉnh Phước Kiến là đất tiêm nhiễm lâu năm chủ nghĩa khác với tôi. Vương nầy Vương kia, tôi tưởng gặp nhau e không dám ngó ngay mặt chớ đừng nói chi chuyện bất tay nhau nhìn một họ một dòng. Gặp nhau, câu thi Học Lạc ngâm suông: “Hoá An-nam, lữ khách trú”… rồi huề.

“Không nói thêm được nửa lời.”

Bài thơ của Học Lạc như sau:

Cùng nhau bị bắt

(Nhân khi coi đánh bông vụ),

bị bắt cùng người Tàu chủ sòng.

Hóa An Nam lứ khách trú

Trăng trói lằng nhằng chung một lũ

Ngoài mặt ngỡ ngàng lạ Bắc Nam

Trong tay cắc cớ xui đoàn tụ

Bợm làng chẳng vị sĩ năm kinh

Ông bổn không thương người bảy phủ

Phạt vạ xong rồi trở lộn về

Hóa thì hốt thuốc lứ bông vụ. 

Nguyễn Văn Lạc, thường gọi là Học Lạc.

                                   (trích lại trong “Văn Đàn Bảo Giám”)

Nói nôm na, dù muốn dù không, họ cũng đã bị “địa phương hóa” thành người Việt.

Sự kiện nầy xảy ra từ lâu trong lịch sử. Trước đây hơn 50 năm, tôi có đọc một bài viết về nhà Trần, trong Tạp Chí Đại Học (Huế), hình như tác giả là LM Nguyễn Phương. Ông tìm được một tài liệu đâu đó, cho biết rằng tổ tiên nhà Trần từ bên Tầu qua mới được có mấy đời.

Mới đây, tôi tìm thấy trong WikiPedia ghi lại như thế nầy:

Căn cứ vào gia phả họ Trần ở Nhạc Dương (-tg tự gạch dưới) do thống tôn đời thứ 27 Trần Định Nhân còn lưu giữ được thì gốc tích xa xưa từ đời Chiến Quốc, họ Trần thuộc nhóm tộc người Bách Việt sống ở đất Mân (Mân Việt? tg) Phúc Kiến. Năm 227 Tr. CN, Phương chính hầu Trần Tự Minh làm quan cho Nam Việt vương Triệu Đà, vì mâu thuẫn giữa người Hán và người Bách Việt, ông đã theo dòng người Bách Việt di cư xuống phía Nam. Tự Minh đượcAn Dương Vương thu nạp, trở thành vị tướng tài ba, cùng Cao Lỗ giúp vua chống lạ riệu Đà.  Khi thành Cổ Loa thất thủ, Âu Lạc rơi vào tay Triệu Đà,  Trần Tự Minh lui về sống ẩn dật ở đất Kinh Bắc. Dòng họ này qua 700 năm ở Kinh Bắc phân ra nhiều nhánh, nhưng dòng thống tôn đến đời Trần Tự Viễn (582-637)  nổi lên như một nhân tài kiệt xuất của xứ Giao Châu. Trần Kinh dời từ An Sinh (Quảng Ninh) về Tức Mạc (Nam Định) lấy vợ sinh ra Trần Hấp. Trần Hấp dời mộ cha sang sinh sống tại Long Hưng (Thái Bình) sinh ra Trần Lý và Trần Hoằng Nghi. Trần Lý sinh ra Trần Thừa (sau được tôn là Trần Thái Tổ). Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung. Trần Hoàng Nghi sinh được ba con trai: Trần An Quốc, Trần An Bang và Trần Thủ Độ.”

(Theo WikiPedia)

Suy cho cùng, họ Trần nầy thuộc một nhóm Việt (Mân Việt) trong Bách Việt, chứ không phải là người Hán, tức người Cin, hay Chinese, từ vùng tây-bắc sông Hoàng Hóa, thường gọi là người Hán.

Hồ Quí Ly, theo dã sử, cũng là người gốc Tầu. Điều rõ nhất là sau khi lên ngôi, ông đặt tên nước là “Đại Ngu” – Đại là to lớn – còn Ngu là tên nước Ngu bên Tầu, vào thời Chiến Quốc. Tổ tiên ông từ bên đó mà di dân sang xứ An Nam.

Đời nhà Nguyễn, có nhiều ông quan gốc Tầu, thường gọi là người Minh Hương, làm quan to ở trong triều. “Sứ bộ Phan Thanh Giản” do vua Tự Đức cử sang Tây để xin chuộc lại “ba tỉnh Miền Đông Nam Phần” là các ông “Người Việt gốc Hoa”. Đó là các ông Phan Thanh Giản, Chánh sứ, quê ở Vĩnh Long, Ngụy Khắc Đản, Phó sứ. Ông Phạm Phú Thứ cũng là Phó sứ, ông nầy không phải là người Minh Hương.

Ngoài ra, triều Nguyễn, các ông Trần Tiễn Thành, Lý Văn Phức, – tác giả “Nhị Thập Tứ Hiếu” -, cũng là người Minh Hương cả. Có lẽ họ không còn nghĩ gì về cái gốc Tầu của họ.

Ông Nguyễn Huỳnh Đức, tên thật là Huỳnh Tường Đức, gốc Tầu, là danh tướng mà cũng là “khai quốc công thần” nhà Nguyễn, nên được “đổi quốc tính”, có nghĩa là được lấy họ vua là họ Nguyễn, nên về sau mới có tên là Nguyễn Huỳnh Đức.

Trần Thắng Tài , còn gọi là Trần Thượng Xuyên là người có công lớn trong việc ổn định, mở mang và xây dựng vùng miền Đông Nam Bộ. Dương Ngạn Địch thì bị phó tướng của y là Hoàng Tiến giết sau khi họ định cư ở vùng nầy không bao lâu.

Mạc Cửu, gốc người Quảng Đông, không chịu khuất phục nhà  Thanh, chạy qua phương Nam, trú tại phủ Nam Vang, nước Cao Miên. Ông thấy ở phủ Sài Mạt của nước ấy, người Việt, người Trung Hoa, Cao Miên, Đồ Bà (Chà Và) các nước tụ tập mở trường đánh bạc để lấy xâu, gọi là thuế hoa chi, bèn thầu mua thuế ấy, lại còn đào được một hầm bạc nên bỗng trở thành giàu có.

Từ đó ông chiêu mộ dân Việt Nam lưu tán ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ (hay Trũng Kè, Lũng Cả –réam), Cần Bột (Cần Vọt – Kampôt), Hương Úc (Vũng Thơm – Kompong Som), Giá Khê (Rạch Giá), Cà Mâu lập thành bảy xã thôn. Tương truyền ở đây thường có tiên xuất hiện trên sông, do đó mới đặt tên là Hà Tiên (tiên trên sông).

Với chủ trương để cho dân khai hoang tự do, không thu tô thuế, chỉ đứng ra tổ chức mua sản phẩm để bán lại cho khách buôn. Chính điều này đã quy tụ dân cư đến Mang Khảm (tên cũ của Hà Tiên) ngày càng đông. Ghe thuyền các nơi, kể cả nước ngoài đến mua bán tấp nập. Sự thịnh vượng khiến cho đất này gặp tai họa.

Trong khoảng thời 1687-1688, quân Xiêm vào cướp phá Mương Khảm, bắt Mạc Cửu đưa về Xiêm ở Vạn Tuế Sơn. Sau đó, ông trốn về Lũng Kỳ (Lũng Cả), dân xiêu tán tụ về với ông.

(theo WikiPedia)

Mạc Cửu là người lập ra đất Hà Tiên, cai trị cả một vùng rộng lớn dọc theo vịnh Rạch Giá. Khi mọi việc ổn định đâu đó xong xuôi rồi, ông đem đất ấy mà dâng cho Chúa Nguyễn, chớ không dâng cho vua Tầu. Sau khi qua đời, Mạc Cửu được truy phong Khai trấn Thượng trụ quốc Đại tướng quân Vũ Nghị Công.

Về sau, khi quân Tầu Tưởng qua Việt Nam, một số người Tầu trong binh đội nầy đào ngũ để được ở lại xứ ta. Trong trại cải tạo Z30-A Xuân Lộc, tôi gặp một người Tầu nguyên là sĩ quan trong binh đội Tưởng. Ông ta cùng một số đồng bạn trốn ở lại Hà Nội, di cư vào Nam năm 1954, và bị “đánh tư sản” năm 1977, cùng với nhiều người khác ở Chợ Lớn. Ông bị tù vì “tội giàu.”

Sau năm 1949, sau khi Mao cai trị toàn bộ lục địa, người Tầu khó trốn khỏi đất nước nên ở miền Nam VN không thấy người Tầu đến định cư, chỉ có người Tầu Hồng-Kông hay Đài Loan đến làm ăn buôn bán với người Việt ở Miền Nam mà thôi.

5)-Bang trợ

Người Tầu khi nhìn về cố quốc, họ không mấy cảm thương nơi chôn rau cắt rún vì đời sống bên đó quá nghèo khó, vì đói nghèo nên phải bỏ nước ra đi, không muốn nhìn lại nơi kinh hoàng ấy. Cũng có thể vì lý do chính trị, họ bị đàn áp đày đọa nên phải rời bỏ quê hương. Tuy vậy, trong thâm tâm, họ vẫn muốn họ là người Tầu.

Ở nơi lữ thứ, họ thường giúp đỡ nhau (bang trợ) làm ăn. Người được giúp đỡ, có khi không có tài sản chi cả, nhưng vẫn được giúp tiền bạc hay cho vay tiền, không thế chấp… họ chỉ cần một chữ “tín” mà thôi. Trong giới người Tầu, chữ tín đối với họ là cao lắm, không khác chi bên Mỹ người ta cần phải giữ “credit” (tin, lòng tin).

Đọc “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên, người đọc thấy người Việt ở Nam Vang cũng vậy. Nơi đất khách, người Việt bên xứ Miên cũng thương yêu, đùm bọc nhau cũng như người Tầu.

Người Tầu xa xứ thường tìm cách giúp đỡ nhau. Ở các thành phố lớn, họ tổ chức các bang, tùy thuộc vào nguyên quán ở bên lục địa. Do đó, người ta thấy họ có những bang như “Bang Triều Châu”, “Bang Phúc Kiến”, “Bang Quảng Đông”, v.v… Theo cụ Vương Hồng Sển, chữ “bang” vừa nói trên có nghĩa là “bang trợ” (giúp đỡ, tương trợ).

Người Tầu ở Việt Nam, phần đông gốc ở các tỉnh lớn bên Tầu: Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hải Nàm… Riêng ngưòi Hẹ, ngoại trừ ở Chợ Lớn, số người nầy không đông nên không lập thành bang được. Vả lại, người Hẹ bên Tầu thuộc giống dân du mục, như người Di-gan (Tsiganes) bên Châu Âu vậy, không được các người Tầu khác coi là “ngang hàng”.

6)-Phi thương bất phú

Có người nói, Hễ ở đâu có người là có người Tầu; có người Tầu là có buôn bán; có buôn bán là có đầu cơ tích trữ, có buôn gian ban lận.”

Ở nước ta, người Tầu thường làm nghề buôn bán như mở tiệm chạp phô, hủ tiếu, cơm Tầu (Hải Nam), hạ thịt (thịt sống, thịt quay heo, gà, vịt), v.v… và trồng trọt, làm ruộng ở Miền Tây Nam Bộ (Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mâu, Bạc Liêu, Sóc Trăng…). Trong vài tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, tác giả có nói tới những người làm chủ điền, rất giàu có.

Ở Chợ Lớn, họ buôn bán lớn, xuất nhập cảng. Quách Đàm giàu là nhờ xuất cảng gạo qua Tân Gia Ba. – Độc giả có thể biết thêm về Quách Đàm nếu đọc “Saigon Năm Xưa” của Vương Hồng Sển -. Trong buôn bán, họ có nhiều mưu lược, buôn gian bán lận, đầu cơ tích trữ, mánh khóe, thủ đoạn, để tiêu diệt đối thủ, dù đối thủ đó cũng là người Tầu như họ.

Để che dấu việc trốn thuế, người Tầu ghi sổ hàng hóa bằng tiếng Tầu. Vì vậy, chính phủ Trần Thiệm Khiêm gặp khó khăn không ít khi xem xét sổ sách của họ, trong việc kiểm soát buôn bán của người Tàu Chợ Lớn vào năm 1973.

Thành ngữ có câu “Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định” (còn gọi là tứ Hỏa). Ngoại trừ Sĩ (Huyện Sĩ tức Lê Phát Đạt) và Phương, tức Tổng Đốc Phương, giàu nhứt nhì vì làm Việt gian, ba người còn lại, “Bá hộ Xường” (Lý Tường Quan), tứ Định (Trần Hữu Định) hoặc Hỏa, tức “Hui Bon Hoa”, còn gọi là Chú Hỏa, đều là người gốc Tầu. Hình như “Bá hộ Xường” là bố vợ của Trung Tướng Trần Văn Đôn (?).

Không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết vùng Đông Nam Á (phi Luật Tân, Mã Lai, Thái Lan…) họ nắm hết thương mãi của các xứ nầy. Tân Gia Ba là một quốc gia đại đa số là người Tầu là trường hợp đặc biệt.

Hoạt động kinh tế của họ, không thu hẹp ở mỗi nước mà còn liên hệ với nhau, từ Hồng Kông, qua Đài Loan đến Việt Nam, Mã Lai, Thái Lan… Gạo Việt Nam nhập cảng vào Mỹ qua các công ty xuất nhập cảng của người Tầu ở Mã Lai hay Thái Lan, v.v…

Tôi có một người quen, người Việt gốc Hoa, – thường gọi là Tầu lai – làm ăn lớn và giàu có ở Chợ Lớn trước 1975, – Năm 1977, anh vượt biên bằng máy bay.

Năm đó, một nhóm người Tầu ở Thái Lan, đến Saigon gặp chính quyền Cộng Sản địa phương bàn thảo công việc làm ăn gì đó. Trong số người Tầu nầy, có các bạn của anh. Họ bí mật liên lạc với anh, bảo chuẩn bị cùng rời Saigon với họ. Khi có người bất thần đến đón, anh luống cuống đến nỗi mang hai chiếc vớ khác nhau, có người đưa vô phi trường Tân Sơn Nhất, có đủ giấy tờ hợp pháp lên máy bay. Có lẽ “vượt biên” như anh ta là trường hợp duy nhất khoảng thời gian ấy. Trước đây, anh đị cư ở Hawaii, nay lại về Chợ Lớn, làm nghề xuất nhập cảng với người Tầu ở Mã Lai, Thái Lan…

Nghề buôn bán “dĩ lợi vi tiên” làm cho người Tầu có tính “thực dụng”. Do đó, họ chỉ cực đoan trong việc tranh giành quyền lợi, dùng đủ mọi thủ đoạn mánh khóe để thắng đối thủ.

Tuy nhiên, đối với những sự việc không có lợi ích thực tiễn, có tính cách thần thánh, tôn giáo mơ hồ, họ không mấy khi cực đoan. Không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nước Đông Nam Á, họ không trực tiếp can dự vào những vấn đề đấu tranh tôn giáo, mặc dù, ở nơi cư trú, họ xây dựng không ít “Chùa Tàu” và “Nhà thờ”.

7)-Lữ khách trú

Ở ngoại quốc, người Tầu thường sống tập trung ở một khu vực, một phố… để buôn bán, làm ăn. Do đó nên có những “Phố Tầu”: Phố Tầu ở LA, ở San Francisco, ở Boston, Chợ Lớn ở Saigon là “Khu người Tầu”, Hội An là “thành phố Tầu”, Gia Hội là “phố Tầu” của Huế. Trong cách sinh hoạt nầy, không như người Việt hải ngoại, người Tầu không có quan điểm chính trị.

Phố Tầu ở Boston, dĩ nhiên, có nhiều người Tầu cư trú, buôn bán; không phân biệt người Tầu gốc lục địa hay Hồng-Kông, Đài Loan… Cái cổng lớn ở đầu Phố Tầu Boston, Beach Street, là do chính phủ Tầu Cộng bỏ tiền ra xây cho.

Cách đây khá lâu, tôi có đọc một truyện ngắn của Linh Bảo. Câu chuyện kể một người Tầu ở Mỹ cần cù làm việc để có tiền gởi về cho vợ còn ở lục địa; trong khi đó, người vợ lại dùng tiền ấy để cung phụng cho một cán bộ Cọng Sản, là tình nhân của bà ta.

Chắc một người Việt hải ngoại, sẽ không âm thầm chịu đựng khi gặp trường hợp như thế!

Xem các “phim Cao bồi Mỹ”, người ta thấy người Tầu cũng có xuất hiện trong đó. Họ đến Mỹ rất sớm, góp mặt trong các cuộc “đi về vùng viễn Tây” (Westward) của người Mỹ, làm lao công trong việc xây dựng các tuyến đường xe lửa nối liên hai vùng Đông Tây của nước Mỹ, và cũng mở tiệm chạp phô nơi họ định cư.

8)- “Văn chương phú lục…”

Tuy nhiên, họ cũng mở các “trường Tầu” để dạy chữ Tầu cho con em họ. Các trường nầy phần nhiều chỉ có cấp tiểu học, ở vài thành phố lớn có trung học. Bằng “tú tài Tầu”, thường gọi là bằng “cao tiểu”, phần nhiều thi ở Đài Loan, không được coi là tương đương với bằng Tú Tài của VNCH. Vì vậy, những người có bằng nầy, không được theo học các khóa sĩ quan.

Việc nầy, tôi chỉ biết sơ lược trên thực tế như vậy, như anh bạn Quách Văn Tuyền của tôi, phải đào ngũ sau khi “vào Thủ Đức” ít lâu vì anh chỉ có bằng “cao tiểu”, sẽ bị đưa ra Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế.

Ở nước ta, người Tầu họ không cần học cao, chỉ cần biết 4 phéo tính cọng trừ nhân chia là được. Thanh thiếu niên Tầu, trai cũng như gái, thay vì đến trường, cha mẹ gởi đến các tiệm buôn để “học buôn học bán”. Chỉ cần buôn bán giỏi, cũng thực hiện được câu châm ngôn “một vốn bốn lời”, chưa kể “đầu cơ tích trữ” thì mau giàu hơn.

Nếu không học buôn bán thì học nghề, một nghề sản xuất các dụng cụ xử dụng hằng ngày bằng sắt thép, gỗ hay bằng nhựa nylon, v.v…

Quận 5 Saigon được xem là khu buôn bán của người Tầu, nhất là ở những con đường lớn như Đồng Khánh, Tổng Đốc Phương và Khổng Tử rất sầm uất. Bên kia cầu Chà Và, là Quận 6, nơi có rất nhiều hãng xưởng của người Tầu.

Nói chung, người Tầu ở hải ngoại phần đông giàu có là nhờ buôn bán. Đó là lý do quan trọng khiến Việt Cộng “đánh tư sản” và đổi tiền các năm 1977, 79 ở miền Nam Việt Nam. Theo Nayan Chanda, trong cuốn “Brother Enemy”, trong “trận đánh tư sản” tháng 4/ năm 1977 ở Saigon, có 17 người Tầu ở Chợ Lớn tự tử vì bị mất hết tài sản.

9)-Vng quốc

Mặc dù làm ăn lớn, giàu có, nhưng ở nhiều nơi, người Tầu vẫn không chịu nhập quốc tịch của quốc gia nơi họ trú ngụ. Họ không muốn trở thành người dân ở quốc gia họ sinh sống, làm cho dân chúng và chính quyền ở đó e ngại họ. Nếu có một biến cố gì đó, chính trị và nhất là quân sự, người Tầu ở đó sẽ trở thành “đạo quân thứ năm”, tức là đạo quân từ trong đánh ra, sự thất bại chính quyền sở tại là rõ ràng.

Không như người da trắng ở Hoa Kỳ, người Tầu không melt vào cái “melting pot” của nước Mỹ. Không phải vì họ “da vàng mũi tẹt” mà chính vì cái cá tính của người Tầu.

Nhiều khi phải ba bốn đời, lai giống qua nhiều thế hệ, người Tầu ở Mỹ mới thấy mình là người Mỹ.

Để “địa phương hóa” hay “Việt hóa” người Tầu ở miền Nam VN, chính quyền của Tổng Thống Ngô Định Diệm ra lệnh cấm người Tầu làm 11 nghề, nếu họ không chịu nhập Việt tịch.

Hành động nầy bị chính phủ Đài Loan của Tưởng Giới Thạch phản đối dữ dội, nhưng không làm gì được, ngoài việc đón người Tầu ở Việt Nam về Đài Loan, nếu ai đó không muốn ở VN nữa. Ông cựu nghị viên Westminster T.D. ở Cali, có một “ông chú” (em của ông nội”) đã về Tầu theo chương trình nầy của Tổng Thống Tưởng.

Cũng vì hành động nầy của chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một số thanh niên Tầu, sau nầy “bị động viên”, vào quân ngũ.

Xem ra, hành động của Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhân đạo hơn Tổng Bí Thư Cộng Sản Việt Nam Lê Duẫn nhiều lắm. Theo Liên Xô, chống Tầu Cộng, Lê Duẫn tạo ra một việc mà Tầu Cộng gọi là “nạn kiều”.

Sau khi “đánh tư sản”, Cộng Sản VN dùng nhiều thủ đoạn độc ác để đuổi người Tầu ra khỏi Việt Nam. Cái gọi là “đi bán chính thức” chỉ là hành động cướp hết tài sản của ngưòi Tầu rồi Việt Cộng lùa họ lên tầu, đuổi tuốt ra biển, sống chết, Việt Cộng không quan tâm.

Đấy là “vố đau” cho Đặng Tiểu Bình!

Như cụ Vương hồng Sển có nói, về lại lục địa thì người Tầu không muốn về, nhưng họ cũng không dễ gì quên cố quốc. Lòng “vọng quốc” là động cơ thúc đẩy nhạc sĩ La Hối chống Nhật. Ông bị Nhật thủ tiêu.

Tuy nhiên, người ta cũng không quên hai giáo sư Chen Ning Yang và Tsung Dao Lee, người Mỹ gốc Tầu, được giải Nobel vật lý năm 1957. Ông Yang, về sau, trở về lại Lục địa, và giúp cho Tầu Cộng sản xuất bom nguyên tử, vì ông ta có lòng yêu nước, hay vì Mỹ muốn giúp Tầu có bom nguyên tử để khỏi bị Liên Xô khống chế? Về chính trị, có lắm điều khó hiểu!

10)-“Đồng tiền đi trước…”

“Xuân thu nhị kỳ” là tiếng người Tầu dùng để nói về công việc “xã giao” của họ đối với những người cầm quyền ở địa phương. Thông thường, ở cấp tỉnh thì ông tỉnh trưởng, trưởng ty Cảnh Sát, ở cấp quận thì có ông quận trưởng, ông chỉ huy trưởng Cảnh Sát được họ đến thăm viếng “mỗi năm hai lần” (nhị kỳ) để họ “biếu quà”, ít nhiều nặng nhẹ tùy thuộc vào việc làm ăn buôn bán của họ. Hai kỳ đó là dịp Tết âm lịch (Xuân) và Trung Thu (Thu).

Họ toan tính công việc làm ăn theo câu tục ngữ “Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”.

Chẳng hạn như ông Trung Tá Lê N. T., vừa nhận chức Cảnh Sát Trưởng Quận 5, Chợ Lớn, thì ngay tức thì có một ông “bang trưởng” – dĩ nhiên là người Tầu – của một bang nào đó đến thăm. Khi tiễn ông Tầu ra về, tới chỗ đậu xe, thấy ông bang trưởng đi chiếc xe Peugeot 504, là loại xe mới và đắt tiền hồi bấy giờ, ông Trung Tá Trưởng Ty Cảnh Sát khen chiếc xe đẹp. Tuần sau, ông Trung Tá nhận một thẻ “cạc vẹc” (carte verte – thẻ chủ quyền xe màu xanh) có tên vợ ông. Xe thì đậu sẵn ngoài bãi đậu xe của Ty Cảnh Sát.

Đó là cách sống của người Tầu ở nước ta, nói chung, không riêng gì ở Saigon hay Quận 5 Chợ Lớn mà thôi. Với đồng tiền, họ có thể khuynh loát chính quyền không mấy khó khăn.

Sau khi Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ cho xử tử Tạ Vinh ở bùng binh chợ Bến Thành, có thể các “xì thẩu” ở Chợ Lớn rúng động không ít. Việc điều hành nên kinh tế miền Nam lúc bấy giờ, dưới quyền Tướng Kỳ, báo chí Tây Phương mệnh danh là “nền kinh tế cao bồi”.

Mới cầm quyền, để giúp đỡ đồng bào và gia đình quân cán chính, Tướng Kỳ ra lệnh cho 9 chủ chành (vựa lúa) ở Chợ Lớn phải hạ giá gạo, không được lên xuống giá một cách tùy tiện. Tướng Kỳ gọi 9 ông chủ chành vào phủ thủ tướng (bấy giờ gọi là Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương), hẹn cho 3 ngày, giá gạo phải xuống, còn không, ông ta sẽ viết tên 9 ông chủ chành, bỏ vào mũ, bốc thăm, trúng người nào, ông sẽ xử bắn người đó.

Kết quả, Tạ Vinh bị xử bắn, mặc dù chính phủ Đài Loan phản ứng kịch liệt. Giá gạo xuống ngay. Dân chúng Saigon và các thành phố lớn, đều vui mừng.

Nội các của Tướng Kỳ gồm nhiều chuyên viên giỏi. Bộ trưởng (bấy giờ gọi là Ủy viên) Kinh Tế của ông Kỳ là Giáo Sư Âu Trường Thanh. Ông nầy chưa đậu thạc sĩ, nhưng là người giỏi, ông được phong (có chaise) giáo sư ở Pháp. Ông là người gốc Tầu, hiểu rõ mánh khóe buôn bán của họ. Có người kể chuyện khi mới vừa ngồi vào ghế bộ trưởng được ít ngày, một hôm ông đến văn phòng làm việc, treo cái “áo vét” vào móc áo; đến chiều, ra về, mặc áo vào, thọc tay vào túi “áo vét” ông thấy có viên đạn súng nhỏ, chưa bắn ở trong đó.

Có phải mấy “chú Ba xì thẩu” muốn cảnh cáo ông?!

Khi Tướng Kỳ chuẩn bị ra tranh cử tổng thống VNCH với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, có dư luận ở Saigon cho rằng, Tướng Thiệu chưa hẳn “ăn” được Tướng Kỳ, nhất là về mặt tài chánh, để vận động, vì sau lưng Tướng Kỳ có đám xì thẩu Chợ Lớn ủng hộ.

Chuyện tôi viết trên đây chỉ là “trà dư tửu hậu”, nghe qua rồi bỏ vì chưa hẳn đó là sự thực. Tuy nhiên, nhìn vào tình hình xã hội bấy giờ, câu chuyện dù có dù không, cũng nói lên được cái “thế lực đồng tiền” của người Tầu ở Saigon lúc ấy.

Người Tầu ở xứ ta – và có lẽ bên Thái Lan hay Mã Lai cũng vậy, “mềm như nước chảy”, chỗ nào họ cũng len lỏi vào được, cúi đầu, vâng dạ, và “biếu quà”. Thành ra, họ thì yếu mà cái “thế lực đồng tiền” của họ là mạnh hơn ai hết, mạnh hơn thế lực nào hết.

Có khi họ rất biết theo thời, núp bóng thực dân Pháp bằng cách “nhập quốc tịnh Pháp” hay núp bóng Giáo Hội Thiên Chúa bằng cách “rửa tội”. Rõ nhất là trường hợp ông Hui Bon Hoa. Sau 1975, cái dù Giáo Hội Thiên Chúa La-Mã không che được cho gia đình ông ta, nhưng cái “quốc tịch Tây” bảo vệ tài sản của ông cũng không ít chi!

Để nắm vững lúa gạo miền Nam, họ tung người xuống tận từng ấp để mua lúa, dù phải “quan hệ” với Việt Cộng ở địa phương. Tổng Cục Tiếp Tế gặp khó khăn trong việc mua lúa gạo ở miền quê. Anh bạn tù “cải tạo”, anh Nguyễn Văn C., thời gian một năm trước 30 tháng Tư/ 75, kể: “Tao được phái đi mua gạo cho Tổng Cục ở Long An. Muốn vô Lương Hòa mua gạo, tao phải mạo danh là người Tầu mới xong việc. Sau đó, tao dzọt luôn. Tranh với bọn Tầu, thế nào Việt Cộng cũng biết, “chết dễ như không”.

Lương Hòa thuộc Long An, giáp ranh với Hậu Nghĩa (tỉnh cũ thời VNCH), cách “mật khu Ba Thu” không xa.

Dân Saigon cũng không lạ gì sự giàu có và việc xuất nhập cảng của Công Ty Hui bon Hoa có đủ 18 ngành, và người ta cũng không lạ khi biết “Anh Em Diệm Nhu” chạy trốn vào nhà Mã Tuyên tối ngày 1 tháng 11 năm 1963, khi tiếng súng của quân đảo chánh ngày càng mạnh hơn.

Hai ông chạy vô nhà Mã Tuyên, “thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa Quận 5” để làm gì? Thủ lãnh chỉ là cái danh. Ông Ba Tầu bụng phệ, lê cái thân đi còn khó khăn, làm sao mà làm “thủ lãnh” đám thanh niên cường tráng. Có phải đó là một “trung tâm liên lạc truyền tin” như người ta đồn. Máy truyền tin giấu ở nhà Mã Tuyên, có thể liên lạc được với Tướng Nguyễn Khánh, Tư Lệnh quân Khu II hay Tướng Huỳnh Văn Cao, Tư Lệnh Quân Khu IV.

Hai ông nầy, chẳng ông nào chịu đem quân về “cứu giá” như Tướng Khiêm hồi có cuộc đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960. Có thể hai ông tướng biết tình thế đã đổi thay, người Mỹ quay lưng với gia đình họ Ngô, thì “cứu giá” làm chi nữa, hay ông Tướng Cao không còn “nằm mộng thấy Đức Mẹ chỉ đường cho đánh giặc.”?

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, người dân Saigon đôi khi cũng bàn tán về việc ông Lý Long Thân, một ông Tầu giàu lên rất nhanh nhờ buôn bán với đầy thủ đoạn, được mệnh danh là “ông vua không ngai của Chợ Lớn”, ra vào dinh Độc Lập cũng “rất tự nhiên”, để làm gì, ai mà biết!

11)-“Diện hướng tổ quốc”

Người Tầu lai không Cộng Sản “vọng quốc” là chuyện thường tình, nhưng các “ông Cộng Sản Tầu lai” sinh sống ở Việt Nam “vọng quốc” thì thật đáng sợ.

Tôi không rõ người “Cọng Sản Tầu” ở bắc vĩ tuyến 17 như thế nào.

Năm 1959, tôi vừa đi học, vừa đi dạy, và chăm sóc cho “Hùng Móm” đang học lớp Đệ Tam trường Quốc Học. Anh em chúng tôi, xa gia đình, “ăn cơm tháng” và ngủ tại nhà chủ, ở một ngôi nhà trên đường Nguyễn Tri Phương, kế bên trường Trung học Nguyễn Tri Phương, Huế. Nhà chủ có những mấy người “ăn cơm tháng” như thế. Trong số nầy, có anh Trần Cẩm Thục, người Tầu lai, quê ở Hội An, cán bộ Nha Thông Tin.

Mỗi đêm, thường sau nửa khuya, có khi thức dậy, tôi thấy anh Trần Cẩm Thục cứ ngồi quay mặt vào tường. Mấy năm sau, về lại Hội An, anh vô rừng theo Việt Cộng.

Cũng về sau, hiểu biếu thêm một ít về người Tầu ở hải ngoại, tôi mới biết mỗi đêm anh Trần Cẩm Thục, ngồi quay mặt vào tường là anh làm cái công việc “diện hướng tổ Quốc”.

Tầu Cộng giáo dục người Tầu ở hải ngoại như vậy đấy. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây, người Tầu ở hải ngoại không bao giờ quên hướng về Tổ Quốc Cộng Sản của họ.

Đừng nghĩ rằng nguời Tầu theo Cộng Sản là để phục vụ chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là cái để phục vụ cho nước Tầu, không có việc đem người Tầu ra mà phục vụ chủ nghĩa.

Người ta nghĩ rằng Tầu Cộng không bao giờ buông tay, không dòm ngó đến chính quyền của người Việt Nam, dù ở Bắc hay Nam vĩ tuyến 17, trước năm 1975, hay toàn thể Việt Nam sau ngày nói trên, và người ta cũng nghi, không ít người Tầu gốc ở Việt Nam truớc đây, có liên hệ đến “Tình Báo Hoa Nam.” Dĩ nhiên, đây là cơ quan tình báo của Tầu Cộng.

Tháng tư năm 1969, Bs. Trần Anh, Giáo Sư Đại Học Y Khoa Saigon, bị ám sát gần nhà thờ Ngã Sáu, Chợ Lớn. Giáo Sư Trần Anh là người Việt gốc Hoa. Vụ ám sát nầy, theo dư luận hồi bấy giờ, và sau 1975, được báo chí Cộng Sản xác nhận là hành đông của sinh viên Cộng Sản nằm vùng, có liên hệ đến bọn Tầu Cộng ở Chợ Lớn. Nghị Đoàn, sau 1975 làm bí thư Quận Ủy Quận 5, là người chỉ đạo các hoạt động của bọn trên.

12)-Mộng đế vương

Dù ở trong nước hay ở hải ngoại, người Tầu ít khi từ bỏ cái mộng “tranh bá đồ vương”, dù họ có thần phục vua chúa ở nơi họ xây dựng cuộc đời mới.

Mạc Cửu, tuy đem đất Hà Tiên do ông xây dựng và phát triển dâng cho Chúa Nguyễn, nhưng cái mộng của ông là làm vương, tiểu vương hay phó vương ở miền đất nầy, có nghĩa là toàn bộ miền Tây Nam Bộ.

Thật vậy, mới đây, ông Nguyễn Văn Hầu, quê ở An Giang, nhà giáo, nhà văn có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa ở miền Tây Nam Bộ, có phát hiện hành động yếm bùa của nhà họ Mạc ở Hà Tiên.

Sách “Thất Sơn Mầu Nhiệm” của Nguyễn Văn Hầu viết như sau:

“Qua trải nghiệm mấy chục năm quan lệ lân bang, Mạc Cửu nhận ra đất Hà Tiên linh khí có thể dựng nên nghiệp lớn, nhưng phải đi với một vương triều mạnh mẽ, chính danh. Tháng 8-1708 ( Mậu Tý) tính chuyện muốn tồn tại lâu dài thì không thể không  đi với Đại Việt, thế là Mạc Cửu cử cận thần mang ngọc lụa đến thành Phú Xuân, dâng biểu xưng thần, xin được làm Hà Tiên trưởng”

. . . . . .

“Tại sao họ Mạc đã xin làm dân Việt, đã làm quan cho nước ta mà còn sợ vượng khí của non sông anh tú? Điều đó rất dễ hiểu. Xem hai câu thơ kết thúc trong bài “Lư khê nhàn điếu” của Mạc Thiên Tích:

“Hải thượng tà đầu thời độc tiếu,

“Di dân thiên ngoại nhất ngư ông

(xem toàn bài ở cuối phần trích dẫn – tg).

“Ta cũng đủ biết cái chí khí của họ Mạc bao giờ cũng nuôi mộng bá vương, chờ cơ vùng vẫy. Hơn nữa “Mạc thị sử” còn cho ta biết thêm rằng từ khi vua chúa Vũ Vương lên ngôi (1744), thị sự chia dinh định phủ được sắp đặt như thế nầy: từ Phú Xuân đến Bình Thuận: 9 dinh; còn phần đất mới lấy được của Chân Lạp thì từ Trấn Biên đến Long Hồ: 3 dinh. Duy đất Hà Tiên vẫn để y làm trấn, họ Mạc được ba năm một lần triều cống như lệ của nước chư hầu. Như thế, tuy chưa được cái danh nghĩa cô quả, chứ thực đã có cái tư cách bá vương. Lại như nay tại Hà Tiên, trên Bình San còn có nền tế sơn xuyên, nền tế xã tắc, thì đủ biết họ Mạc bị thúc đẩy đến chỗ không muốn cho Việt Nam có Minh quân Thánh chúa ra đời tại vùng Thất Sơn (điều mà ta cho là việc dĩ nhiên, không chi làm lạ).

                                                                        (Sđd)

“Theo như những người đã biết, cái ếm ở Bài Bài, thuộc làng Nhơn Trung, huyện Tịnh Biên (Châu Đốc), do ông Phạm Thái Chung, tục gọi là ông đạo Lập – một đệ tử được phép chơn truyền của Đức Phật Thầy Tây An – khám phá ra được ở quanh miền rừng núi thiêng liêng nầy từ xưa. Nhưng ít ai để ý xem tại sao mà có, hoặc do ai làm ra với mục đích gì.

                                                                        (Sđd)

“Hơn nữa, là sau ngày xuống cái ếm nầy lối 60 năm, vào khoảng 1849–1856, Đức Phật Thầy Tây An đã cho Đức Cố Quản Thành trồng bốn cây thẻ quanh vùng Thất Sơn. Ý chừng Ngài đã biết rõ sự trấn ếm của họ Mạc nên cấm thẻ để trấn áp cho ếm mất thiêng đi, hoặc vì sự che chở cho anh linh vượng khí hay long nguyệt nước Việt ta mà Ngài có phận sự phải làm! Hiện giờ, ếm còn thấy một cây (10) và thẻ chỉ còn một vài di tích (nay được cất dinh thờ ở Láng Linh (Châu Đốc) và người đời gọi là dinh ông Thẻ) Âu cũng là một dấu tích kỳ bí, để cho người đời còn có thể phăn ra nguồn gốc vậy.

                                                                        (Sđd)

“Căn cứ vào những chữ còn sót lại trên mặt các ếm nầy mà xét (vì tấm đá mòn chữ đi nhiều): Hoàng Thanh, Càn Long ngũ thất niên, trọng thu, cốc dân, thì biết được cái ếm nầy chôn vào mùa thu, tháng 8, năm Càn Long nhà Thanh thứ 57 tức là năm 1792 dương lịch. Lúc nầy chính là lúc con cháu Mạc Cửu còn trọng nhậm tại Hà Tiên (Mạc Tử Sanh, Mạc Tử Thiệm). Trừ bọn họ ra, vùng nầy thuở đó không còn có đám người Minh Hương nào khác nữa. Như thế, ta có thể nói là cái ếm nầy của bọn họ Mạc, với con mắt nhà địa lý, hoặc vì thấy vượng khí của vùng sơn lãnh linh thiêng, hoặc bởi biết có long huyệt, sợ đất Việt sẽ phát sinh thánh chúa sau nầy nên họ đã ếm trấn ngay từ khi cuộc Nam tiến của nước ta được hoàn thành (8).

(“Thất Sơn Mầu Nhiệm”,

Nguyễn Văn Hầu)

Lư Khê Nhàn Điếu

                        (Mạc Thiên Tích)

Lư Khê phiếm phiếm tịch dương đông

Băng tuyến nhàn phao bạch luyện trung.

Lân liệp tầm lai niêm ngọc nhỉ,

Yên ba trường tự khống thu phong.

Sương hoành bích địch hồng sơ tễ

Thủy tẩm kim câu nguyệt tại không.

Hải thượng tà đầu thời độc tiếu.

Di dân thiên ngoại hữu ngư ông.

Đông Hồ dịch:

Sông Lư bảng lảng ánh dương hồng,

Ném sợi băng trên tấm lụa trong.

Mồi ngọc đã làm ngon miệng cá,

Gió thu đâu để nổi cơn giông.

Cầu vòng cần trúc hơi sương đượm,

Trăng uốn vành câu bóng nước lồng.

Lắm lúc ngửa nghiêng cười với biển,

Bên trời riêng một cõi ngư ông.

Không rõ vì cái ếm nhà họ Mạc không linh, hay cái ếm bị Đức Phật Thầy Tây An phá được mà nay nhà họ Mạc ở Hà Tiên không còn ai.

Trước 1975, tôi từng đến Hà Tiên nhiều lần, được nhà báo Anh Tâm, – ký giả báo Ánh Sáng của ông Hoàng Hồ – quê ở Rạch Giá, dẫn đi thăm lăng Mạc Cửu và Thạch Động, cho biết, theo người Hà Tiên, ngày trước Hà Tiên có hai họ lớn, là họ Mạc và họ Lâm của ông Đông Hồ Lâm Tấn Phát, nay cả hai họ nầy không còn con cháu gì, coi như “tuyệt tự” hay lưu lạc đâu đó xa xôi mà người dân Hà Tiên không được biết.

Khoảng 1950 – 60, ông Đông Hồ Lâm Tấn Phát lên Sigon cùng Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội mở Yễm Yễm Thư Trang; sau 1975, cũng “mất dấu” luôn.

Cái mộng “bá đồ vương” không phải chỉ ở họ Mạc của Hà Tiên mà còn ở họ Lý bên Tân Gia Ba nữa. Năm 1961, Thủ Tướng Lý Quang Diệu cố gắng thành lập một “Đại Mã Lai Á” với các nước Mã Lai, Singapore, Sabah, Sarawak, và Bruiney.

Sau một thời gian ngắn, nước “Đại Mã Lai Á” nầy giải tán. Báo chí hồi đó cho biết khi tuyên bố sự “tan rã” nầy, Thủ Tướng Lý Quang Diệu đã khóc. Tuy vậy, nước Singapore bây giờ, sau khi ông Ngô Tắc Đống làm thủ tướng (tạm thời) một thời gian, cái ghế thủ tướng nay được ông cựu Tướng Lý Hiền Long ngồi vào đó thay cho cha, cũng coi như “cha truyền con nối” vậy.

Người Tầu lai, từ mấy trăm năm trước, cũng đã nắm quyền cai trị ở một số nước: Vua Trình Quốc Anh của Xiêm La (tên cũ Thái Lan) và bà Corazon Aquino, tổng Thống Phi-Líp-Pin (Phi lippines 1987-1992), đều là người Tầu lai cả.

 Tình hình chính trị Thái Lan trong thời gian vừa qua, người ta thấy hai anh em nhà Shiwanatra gốc Tầu nổi đình đám bên ấy. Hết anh – Thaksin Shiwanatra -, đến em gái – Yingluck Shiwanatra thay nhau làm thủ tướng. Về chính trị, hai anh em nhà nầy thuộc “Phe Áo Đỏ”, phe có khuynh hướng làm suy giảm ảnh hưởng của hoàng gia Thái Lan và đám tướng lãnh ở xứ nầy.

13)-Tàu lạ

            Nước Tầu đông dân, lại ở sát nước ta. Từ thượng cổ, người Tầu đã sang nước ta định cư, buôn bán, làm ăn… Hình ảnh Chú Ba, dù già, dù trẻ, không lạ gì trong con mắt của người Việt Nam. Ngoài con người, mặt mũi, chân tay, nhìn cái áo, cái quần, thậm chí cái xe đạp, cái xe gắn máy, chiếc xe hơi, mới nhìn qua, người Việt cũng biết ngay đó là của Chú Ba.

Chỉ nhìn qua, người ta biết ngay họ là người Tầu, không có gì LẠ cả.

            Đó là kinh nghiệm ngàn đời của người Việt ta!

            Tuy nhiên, không hiểu vì sao, Cảnh Sát Biển, Lính Biên Phòng Việt Cộng, không nhìn ra được chiếc Tầu, người Tầu trên ghe trên tàu, mà gọi đó là NGƯỜI LẠ, TÀU LẠ.

Không lý, mắt mũi trí óc của chúng kém đến thế hay sao? Cả cái đám ngồi ở Bắc Bộ phủ cũng có mắt mũi, có trí óc

mà cũng “rét” như thế!

            Thành ra, chính họ mới là NGƯỜI LẠ!?

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on hoànglonghải – Chống Giặc Tầu (Bài 5) – Người Tầu ở hải ngoại

  1. Kính Thầy Hải, đọc đến bài thứ 5 này của thầy viết về Chú Chệt,khiến già tôi cũng hơi nhột đấy Thầy ạ,vì bản thân có hai giòng máu,mẹ Tầy (hồi nhỏ ,đám trẻ người kinh hay chế nhạo tôi là Thổ Mừ,thứ đồ Mường Mán ăn cám như heo)và máu Bố là Chệt,họ Cam,hiện hữu bên Tầu từ thời Hán Vũ Đế,cũng có một ông Tướng lừng danh là Cam Anh (Trung Quốc lược Sử của Nguyễn Hiến Lê,không nhớ trang nào) và thời Tam Quốc Chí ,cũng có Tướng Đông Ngô là Cam Ninh,ông cố nội già tôi xuất xứ từ Sơn Đông chạy giặc qua Cao Bằng làm dân Việt gốc Tẫu,và năm 45,Bố chạy CSVN qua Long Châu/bên Tầu,cũng được tạm tá túc thời gian ngắn một nhà họ Cam,nhưng bọn trẻ Tầu thì cứ chế tôi là “Ố nàm chảy xịch vài mảy”,Thầy thấy có chán mớ đời cho thân phận của già tôi không cơ chứ?và năm 47,lại được trở về Lạng sơn,chui qua ải Nam Quan ,mới biết ải này do Tầu Tưởng cai quản ! Giờ đã quá 8 bó và nghĩ cho cùng thì quả nhiên bọn Tầu Cộng hay Tưởng hoặc Tôn trung Sơn ,đêu cá mè một lứa,chưa bao giờ bỏ thói Đại Hán ác ôn luôn nuôi mộng thu tóm thiên hạ,ngoài các nước bé nhỏ chung quanh họ phải chiếm như đã và đang làm thịt dần VN,Phi v .v,mà họ cũng đã với bàn tay qua các vùng Phi Châu ,Nam Mỹ ,cái đích cuối là đất nước mà già tôi đang chờ rải nắm tro là nước Mỹ !! Đúng như nhà kinh tế học Nguyễn Xuân Nghĩa nói;”Trung Quốc vừa mới Hưng,chưa Hùng mà đã vội Hung”,Chúng nó cũng sẽ Tan như lịch sử đã từng xẩy ra trên đất nước của họ nhà Chệt,cám ơn Thầy đã cho già tui nhiều hiểu biết về lịch sử chú Chệt tại VN,chúc thầy và BBT luôn vui khoẻ.

    Like

  2. Bài viết Của Huỳnh Long Hải toàn thứ boi nhoạ, bò́t méo sự thật lịch sử, không đủ tư cách để tôi bình luận, thứ loại văn chương chỉ bíềt nói xấu người khác, thật là xấu hổ cho dân tộc việt nam có những loại người như con chó. còn bày đặt đăng bài.
    chó để ra mày, nên mày là con chó.

    Like

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: