Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU (Phần 4)

1Hai ông bà An Phong không có con nên rất thích trẻ.  Thấy tôi kháu khỉnh, ngoan, xinh, nên hai ông bà rất thương, nhất là bà.  Đôi khi bà thường bộc lộ những câu dường như là trách móc mẹ tôi sao có thể yên tâm để chị em tôi theo bố sống xa nhà như vậy.  Tôi phải giải thích đây là ý muốn của tôi xin đi chứ không bị bắt buộc, nhưng xem ra bà không hài lòng.  Bà luôn chú trọng đến tôi, đôi khi buột miệng thốt ra sự mong muốn giá gì bà cũng có một đứa con trai như tôi thì bà thích thú lắm.

Bởi thế nên có món gì ngon, lạ, bà đều cất để dành riêng cho tôi.  Thậm chí còn sợ tôi không ăn, bà ép tôi ngồi chung nơi sa lông với bà để tận mắt nhìn thấy tôi ăn món quà bà cho.  Trông tôi ăn có vẻ ngon lành thì bà tấm tắc khen và bất chợt gọi tôi là “ con “ rất âu yếm.  Lâu dần, tôi cũng quên cái chuồng cu ở giữa sân sau mà cơ hồ như lúc nào sau giờ học ở trường tôi đều quanh quẩn dưới cửa hàng và sống với  ông bà chủ nhà.

Tôi đã bạo dạn hơn nên đã đôi khi tự động ra khỏi nhà đi loăng quăng trong phố.  Tôi men theo vỉa hè đường Hàng Bông Đệm ngược xuống Hàng Gai ra Bờ Hồ Hoàn Kiếm.  Lắm khi vui chân, tôi đi thẳng luôn sang Hàng Trống, Hàng Đào, và đi xa hơn đến Hàng Ngang, Hàng Bạc.  Dạo đó Hà Nội còn nhỏ, dân số không đông, vẻ thanh lịch còn rộn ràng.  Người Hà Nội lịch duyệt, ra cửa là mặc quần áo bảnh bao, theo mùa.  Hè thì áo vét quần trắng, hay áo ngắn tay quần tissue, chân đi dép da hay diện giầy dôn.

Đường phố còn hẹp, cũ kỹ, quanh quanh Bờ Hồ còn những chuyến tàu điện leng keng, chạy các tuyến Bạch Mai, Kim Liên, Ô Cầu Giấy.  Lắm khi đi trên hè phố nghe tiếng chuông tàu điện ngân nga, chậm rãi cũng thấy vui vui trong lòng.  Háng quà rong cũng ít, thỉnh thoảng nghe rao mời xôi, hay cái món bằng tiếng Tàu mà mãi sau này tôi mới tìm hiểu ra là món thạch chè, gần giống như sương sáo ở ta.

Hà Nội những năm 40 của thế kỷ trước còn là đất bảo hộ nên người Pháp ít quan tâm mở mang như đất thuộc địa Saigon.  Cũng có dăm ba kiến trúc lớn tỷ như Gô Đa, Tràng Tiền, dinh toàn quyền, trường Pasquier và những phố thương mãi quanh Bờ Hồ, Bưu điện, khách sạn Phú Gia, hay xa xa nữa bên ngoài thành phố là khách sạn Petit Đồ Sơn, đường Cổ Ngư, Cột Cờ thành Thăng Long, vườn Bách Thảo, cầu Doumer.

Phải nói là Hà Nội lắm đền, chùa và di tích lịch sử.  Thông thường người ta lưu trữ các vết tích lịch sử đề lại mà không trám chữa như các hốc đạn đại bác bắn vào cổng thành Thăng Long, hay cột cờ đầy rêu phong ở ngay giữa lòng thành phố.  Hà Nội cũng có một phố tây quanh quanh các con đường bao quay hồ.  Hà Nội cũng có nhà thủy tạ và dăm ba rạp hát, rạp chớp bóng vừa nhỏ nhắn, xinh xinh vừa mang những nét hào hoa, khang trang như rạp Quảng Lạc, nhà hát Olympia, Philarmonique.

 Một đôi lần tôi cũng thử ghé vào đền Hàng Trống xem sự thể thế nào và điều mà tôi nhận ra là khu đền này thường có những ngồi đồng mà nhã nhạc cử hành cho buổi lễ thường rất ồn ào, tốn kém và hào nháng.   Có bận tôi đã thử đi chân đến mãi tận chợ Đồng Xuân và quên theo đà đi luôn đến tận đền Quan Thánh, nhờ đó mà tôi biết được những phố Hà Nội đều mang tên khởi đầu bởi chữ Hàng như : Hàng Đậu, Hàng Thiếc, Hàng Than, Hàng Mành, Hàng Thuốc Bắc v.v…

Dăm thì mười họa, dịp cuối tuần hay lễ lạc, bố lại cho chị em tôi về thăm quê mẹ.  Bấy giờ Nghi Tàm còn thuộc Hà Đông, ở ngoại ô Hà Nội, muốn đến nơi phải qua con đê Yên Phụ, nhà máy đèn và nhà in Ideo.  Quê mẹ tôi nổi danh về trồng hoa cũng như Nhật Tân, Quảng Bá, lại có hồ tắm để dân Hà Nội mùa hè kéo về nghỉ ngơi, lặn ngụp thỏa thích.  Dân làng nhờ đó cũng kiếm thêm chút thu nhập do nơi việc nhận trông giữ xe đạp cho khách Hà Nội về.

Thân tộc của mẹ không còn nhiều, sót vớt lại dăm ba người thuộc vai vế là trưởng tộc, một bà mợ lớn, vài ông cậu, một bà dì.  Được cái tuy mẹ đi xa, nhưng ai nhắc đến cũng đều khen.  Có điều về nằm tại lầu Nghênh Phong của bà, tôi dần dần nghe được về cuộc đời quá khứ của mẹ, không hiểu sao thuở đó tôi đã khóc vì thương mẹ vất vả quá.  Sau này tôi mới biết ra mẹ sở dĩ vào Nam là cũng vì không muốn đắm đuối trong hoàn cảnh mãi.

Ông bà ngoại tôi mất sớm, gia tài để lại riêng cho mẹ tôi là một mảnh vườn con, nhưng không bao giờ tôi nghe mẹ hỏi han hay nhắc đến.  Mảnh vườn để mặc cho người dì cùng cha khác mẹ với mẹ tôi muốn trồng hay làm gì thì làm, mẹ tôi không bao giờ để tâm đến.  Tôi về Nghi Tàm lần nào thì cũng mang màng trong lòng tình cảm thương và quí mẹ nhiều lên, đôi lúc xót xa sao đời mẹ gian truân quá thể.  Có lần tôi đã gục vào cánh tay bà mà khóc da diết, đến nỗi cụ mợ cũng quính quáng vừa dỗ, vừa lau nước mắt và khuyên nhủ tôi.

Phần bố tôi có vẻ nhỉnh và đắc thế hơn.  Ở quê nội còn đông họ hàng, thân quyến.  Phần lớn người làng vào Nam đều làm nên cơ nghiệp nên khi về thăm làng thì đóng góp vào việc xây dựng hoặc tạo nhà cửa to đùng ngay hai bên cổng làng.  Quê bố tôi làng Phù Lưu, thuộc Từ Sơn, Bắc Ninh, đường làng lót toàn gạch tàu vuông vức to và đình làng đồ sộ với những cột lim dầy và chắc.  Đình còn thờ con ngựa gỗ rất to và uy nghi mà danh truyền là ngày xưa thánh Gióng đã cưỡi diệt giắc Ân, sau đó biến mất trên núi Sóc Sơn.

Lẽ ra bố chẳng cần vào Nam cũng được, song vốn tính thích phiêu lưu thì đi, nên dù hiểu thân phận dân phu đi đồn điền cao su vốn rất cực, nhưng bố tôi vẫn quyết đi cho biết.  Sau này khi đã ăn nên làm ra, bố tôi đã từng sắm xe riêng đưa tất cả gia đình về làng, cùng với gia đình ông anh ruột, hai xe ti toe vào cổng làng khiến ai cũng trầm trồ tấm tắc. Bác tôi vào Nam làm cho Ngân Hàng Đông Dương (Banque de L’ Indochine) đến mãi khi mất nên cũng gọi là nở mày, nở mặt.

Tôi còn nhớ từ Hà Nội về quê Chợ Dầu, Đình Bảng, bố tôi thường chọn đi chuyến tàu đêm và ông cũng rất thích đi bằng ô tô ray thay vì tàu hỏa thường vì biết tính tôi ưa nghe réo rắt điệu còi của ô tô ray và ưa tốc độ nhanh vun vút của đoàn tàu đặc biệt này.  Tàu dừng ở ga Từ Sơn, bố con hối hả xuống toa và mằn mò bước qua con đường sắt theo lối ngõ nhỏ về làng.

Quê nội tôi không to nhưng còn giữ được nhiều cốt cách truyền thống.  Mỗi tháng đều mở phiên chợ, hội hè đều tập trung ở đình làng, dân tình cũng không đến đỗi vất vả nhiều nơi nên loáng thoáng cái cung cách lãng mạn và tình tứ của quê hương quan họ vẫn không thể lẫn được.  Phần lớn tâm hồn tôi kết tụ nét yêu chuộng chữ nghĩa, văn thơ cũng là từ những đêm nằm nơi quê bố và thấm nhập vào hồn câu ca tiếng phách xênh xang của liền anh liền chị mà kết tụ hồi nào cũng không hay.

Tôi đã sống với Hà Nội trước lâu đến 2 năm, trải qua nhiều cảnh mùa đất Bắc.  Đối với tôi hình ảnh Hà Nội những năm 40 khó có thể phai, mặc dù sau này kinh qua bao buồn vui thăng trầm thì Hà Nội vẫn là nơi nuôi nấng tôi lớn lên từ thể xác lẫn linh hồn.  Tôi ôm ấp hình ảnh 36 phố phường, 5 cửa ô xưa mà dù được sinh trưởng trong Nam, tôi vẫn mang mang tôi có chút gì hơi hướm của Hà Nội.

Phương chi tôi đã từng được nếm trải mùi vị của Tràng An, Thăng Long với ông bà, các dì, các cậu ở quê nội lẫn quê mẹ mà đối với tôi đều là những nét chạm trỗ khắc sâu vào ấu thơ dến không bao giờ phai nhạt.  Nói một cách ví von tôi đã từng khoác áo mùa thu Hà Nội bằng những lúc lặng ngắm cảnh lá vàng rụng ào ạt trên hồ Gươm với chiếc thuyền lan con người phu nhẫn nại đi vớt từng chiếc lá mà nghe như thời gian vàng chậm đổ dồn xuống mặt hồ.

Tôi thích những ngọn gió heo may se se lạnh khi trầm mình đứng lặng im bên Tháp Bút lối cầu Thê Húc vào đến Ngọc Sơn để nhớ miên man về mẹ, về các em nơi miền Nam chưa hề biết dáng mùa thu Hà Nội là thế nào.  Tôi từng bước đi những bước trừ tịch đêm cuối năm vào đền đón giờ nguyên tiêu lặng lẽ đến mà nghe tiếng vỏ cây nứt mông khẽ róc rách đâu đây.  Tôi nhìn quanh lớp sương mù phả kín quanh hồ và thấy lăn tăn cái rét luồn trong mưa phùn thẩm thấu vào cổ áo.

Hà Nội của tôi là thế đó.  Làm sao tôi có thể quên được dáng ông tàu già ngồi nép dưới cái tháp nhỏ ven hồ Gươm, miệng huýt sáo cho đỡ lạnh và chờ khách âm thầm ghé mua bao lạc rang mà nhâm nhi tí tách trong cái rét.  Hà Nội không cao sang, quyền quí, diêm dúa, nhưng Hà Nội là một phần huyết mạch của quê hương, với tiếng sóng sông Hồng, Hát Giang, Bạch Đằng, sông Thao đã từng ấp ôm cho người Việt ngày một lớn dậy.

Đối với tôi điều gì có thể lơ là quên đi được, nhưng nhất định không bao giờ tôi quên những bước chân dặt dìu qua phố mà nghe bát ngát mùi cốm mới ngào ngọt đâu đây.  Tôi có thể say sưa với con sông ở bất nơi đâu, nhưng nhất định chẳng con sông nào so sánh được con sông chảy qua làng.  Đó là điều mà sau này dù hÀ Nội chỉ còn là ký ức thì đối với tôi vẫn sáng rực như hôm nào đứa bé 8 tuổi nhìn con đê Yên Phụ mà thấy như mình đang được ru trong vòng tay của Mẹ.

Làm sao tôi có thể quên được buổi phá cỗ trung thu mà bà tôi đã bày biện thưởng tôi tại phố Blockhaus Nord những năm 40 để gọi là đứa cháu thân yêu sẽ goi gương mà học hành tấn tới.  Làm sao tôi có thể quên được những cái xoa đầu âu yếm hôn lên trán tôi với ước mơ sau này đứa cháu thân yêu của các cậu các dì sẽ không làm hổ danh người con của Hà Thành văn vật.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: