Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Chống Giặc Tầu (Bài 4) – Người Tầu, “được làm vua, thua làm giặc.”

1Người Tầu ở lục địa

Nguồn gốc của dân tộc Hán là ở phía Tây Bắc Trung Hoa, thuộc vùng Hoa Bắc, phía trên sông Dương Tử. Dân tộc nầy có thể có liên hệ nòi giống đến các giống dân Mãn Châu hay Triều Tiên, không liên hệ gì đến các giống Bách Việt, tức một trăm giống Việt ở Hoa Nam, là vùng Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây… bây giờ.

Đây là vùng của “Bách Việt”, trước khi Tần Thủy Hoàng “tóm thâu lục quốc” rồi xâm chiếm “Bách Việt”. Lục quốc là những nước còn sót lại trong thời kỳ “Chiến Quốc” như Hàn, Triệu, Yên, Ngụy, Sở, Tề, lập nên Đế Quốc Trung Hoa đầu tiên vào năm 221 Tr. Tây Lịch.

Dân tộc nầy, gọi theo cách Tầu là “Hán Tộc” (Sino).

Người Việt gọi người Tầu theo nhiều cách: Thông thường nhất là “người Tầu” vì họ di cư đến nước ta thường bằng ghe tầu; một cách nghiêm chỉnh là gọi là Trung Hoa hay “người Hoa”, “người Hán”. Những người Cộng Sản Việt Nam thì gọi một cách tôn kính là Trung Quốc, để “vuốt ve” người Tầu vì chính họ muốn được gọi là Trung Quốc (nước ở giữa Thiên hạ). Đôi khi người Việt cũng gọi theo cách người Tây phương là người “Si-noa”, (Chinoise, Mỹ gọi là Chinese. “Si-noa là giống bên Tầu, Đẻ ra con lợn hôi màu cứt heo” – đồng dao miền Trung). Còn như cách gọi nôm na thông thường là “chú Ba” (chú Bảy là Ấn Độ), “Ba Tầu”, Chệt, có khi là “chú khách”, “khách trú” vì đất nước nầy, người Việt làm chủ, người Tầu từ bên Tầu tới nên gọi là “khách”, trái với chủ; cũng có khi gọi là “Ngô”, như trong bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi. Rõ nhất là ở bài:

Ba mươi tết, tết lại ba mươi,
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú khách,
Một tay cầm cái dù rách
Một tay xách cái chăn bông
Em đứng bờ sông
Em trông sang nước người:
“Hỡi chú Chiệc ơi là chú Chiệc  ơi”
Một tay em cầm quan tiền,
Một tay em xách thằng bù nhìn
Quan tiền nặng thì quan tiền chìm
Bù nhìn nhẹ thì bù nhìn nổi,

Ối ai ơi của nặng hơn người.

            Chiệc hay Chệt cũng chỉ là một, ấy là vì cách phát âm của mỗi địa phương.

            Theo Bá Dương, (1) nước Tàu, người Tầu có điều lạ: Cái gì họ cũng lâu dài hết.

Ví dụ thứ nhất là “Đế Quốc Tầu”:

Chế độ nhà Tần được coi như là “Đế quốc đầu tiên của Tầu”. “Đế Quốc Tầu” nầy kéo dài cho tới bây giờ vẫn còn. Các đế quốc khác, như Đế Quốc La Mã, Đế Quốc Tây Ban Nha, Đế Quốc Ottoman, Đế Quốc Mông Cổ, Đế Quốc Hung, Đế Quốc Anh, Đế Quốc Pháp có lên có xuống, nay thì đã tan rã, ngoại trừ Đế Quốc Mỹ thì đang còn thở…

Ví dụ thứ hai là dân tộc:

Xưa họ là người Hán, (Hán tộc), nay cũng người Hán. Họ còn “Hán hóa” các dân tộc bị họ cai trị, như 99 tộc Việt ở Hoa Nam; ngoại trừ Lạc Việt ở lưu vực sông Nhị Hà. Bây giờ chính sách “Hán hóa” đó vẫn còn tồn tại và tiếp diễn đối với người Duy Ngô Nhĩ, người Tây Tạng ở phía tây nước Tầu, và cả người Việt Nam nữa đấy: Bô Xít ở Tây Nguyên hay “Đông Đô Đại Phố” không phải là chính sách “Tầu hóa” cả hay sao?

Trong khi đó, theo Bá Dương, người Ai Cập ngày nay, người Hy Lạp ngày nay, người I-Rắc ngày nay, tuồng như không thấy có liên hệ gì với người Ai Cập, người Hy Lạp cổ đại, và ngay cả ông Saddam Hussein, ông ta cũng không thấy liên hệ gì tới tổ tiên của ông ở vùng Lưỡng Hà, là nơi người ta gọi là “cái nôi văn minh” của nhân loại. Có lẽ ông Saddam thấy có liên hệ đến ông Môhamát (Mohammad) hay các ông giáo chủ Sunni, Shiit như Ali ibn Abi và Talib Ashura nhiều hơn?!

Có người nói rằng người Tầu rất ưa làm quan, làm vua. “Mỗi người Tầu là một ông quan”.

Đọc lịch sử, người ta dễ thấy điều nầy lắm: Ngày xưa, nhiều ông “Thầy Tầu” thường qua nước ta để tìm “huyệt đế vương” cho con cháu, không làm vua thì ít ra thì cũng làm quan nhiều đời, chứ không chịu làm dân như người Việt, “Chúng con xin về cõi tục làm dân” là câu thơ trong bài “Hận Tha La” của Vũ Anh Khanh.

Người Tầu thấy rõ trong lịch sử của họ có nhiều trường hợp “được làm vua, thua làm giặc”. Thực tế, người nào đánh bại được đối thủ thì lên làm vua. Trong “Hán Sở tranh hùng”, Lưu Bang thắng thì làm vua, Hạng Võ thua thì làm giặc, chớ chưa chắc tài trí ai đã hơn ai. Sự tích Hoàng Sào hay Từ Hải cũng tương tự như vậy. Nếu thắng được đối thủ, hai ông nầy cũng đã làm vua rồi. Chắc chi ai đã hơn ai, như trong câu Kiều:“Sao bằng riêng một biên thùy, Sức nầy đã dễ làm gì được nhau!?” Riêng một biên thùy là vua của một xứ đấy.

Ba anh em Lưu-Quan-Trương gốc gác là gì?

Lưu Bị là anh học trò dang dở, thất chí, chỉ là một “anh chàng” “Du tử mộ hà chi?” (Xem “Du tử mộ hà chi?” cùng tác giả). Gần ba mươi tuổi, cái tuổi “tam thập nhi lập” như Khổng Tử nói, ông ta vẫn chưa có sự nghiệp gì. Trương Phi là tay con nhà mổ heo, bán rượu, còn Vân Trường là tay “giang hồ thất chí” bấy lâu nay. Ba tay nầy “kết nghĩa Vườn Đào” mà lật nghiêng thiên hạ. Ấy là “Thời thế tạo anh hùng”.

Đọc lịch sử Tầu ở thời kỳ “hậu Cách Mạng Tân Hợi” (1911), không thể không thấy buồn cười. Bị người Mãn Châu đè đầu 300 năm, người Tầu im re, nhẫn nhịn, đến khi nhà Thanh bị lật đổ rồi, Hoa Bắc cũng như hoa Nam, nổi lên không biết bao nhiêu là tay quân phiệt. Ông nào cũng muốn làm vua, như Trương Học Lương, Ngô Bội Phu, Trương Tác Lâm, Phùng Ngọc Tường… đến nỗi Tôn Văn không dám làm vua mà phải nhường cái ghế ấy cho Viên Thế Khải, “Đại Tổng Thống” đầu tiên của mấy chú Ba.

Thành ra, lịch sử nước Tầu là lịch sử “tranh bá đồ vương”, giặc giả khi nhiều khi ít, thanh bình thì không.

Câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm “Nước thanh bình ba trăm năm cũ” là ý nói đời nhà Hán thiên hạ thái bình được ba trăm năm. Đó chỉ là một cách nói “vuốt đuôi” vua chúa, chớ bên Tầu không khi nào thiên hạ thái bình được lâu. Đọc “Đông Châu liệt quốc” người đọc thấy trên thế giới nầy, không có dân tộc nào, nước nào, người ta đấu đá, tranh giành, đánh nhau kinh hoàng đến như vậy; nhân vật thì đủ hạng người, ăn chơi hoang phí đủ mọi cách, dâm dục, chơi bời đủ hạng thứ, thứ hạng nào cũng nhất thiên hạ, không nơi nào, dân tộc nào bằng.

Biết cái tâm lý người Tầu ai cũng muốn làm vua nên các ông vua Tàu bao giờ cũng ngơm ngớp lo sợ bị tranh mất ngai vàng, mới tuyên truyền rằng ai được ngồi trên ngai là phải có “Thiên mệnh”, “Thiên tử mệnh”. Không có “Thiên mệnh” thì không được làm vua. Nói như thế là để ngăn chặn bớt cái ham muốn làm vua của thiên hạ.

Không như ta, chế độ cũ của ta là Chế Độ Quân Chủ; có khi người ta gọi là Quân Chủ Chuyên Chế.

Tầu mới đích thực là Chế Độ Phong Kiến (Phong tước kiến địa). Chế độ nầy tạo ra các lãnh chúa, các lãnh địa. Từ đó, người thì có nhiều ruộng, người thì không có miếng đất cắm dùi. Kinh tế chính của Tầu là nông nghiệp, dân đông đất ít, sự phân chia đất ruộng không đồng đều tạo nên hoàn cảnh người quá giàu vì có nhiều ruộng, người quá nghèo vì không có ruộng, phải làm tá điền, tá canh, nô lệ, bị người giàu bóc lột.

            Sự phân chia lợi ích như thế làm cho kinh tế không phát triển được. Trong tình cảnh đó, nước Tầu làm sao tránh bất công, tránh mâu thuẫn, và dĩ nhiên là phải loạn lạc.

            Các triều đại cai trị nước Tầu lâu nhứt là Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Trong các triều đại nầy, có cái thì người Tầu cai trị người Tầu, có cái thì ngoại nhân cai trị người Tầu.

Chính cái tâm lý “được làm vua thua làm giặc” làm cho người Tầu khi “lên” thì “vênh mặt”, khi “xuống” thì “cúi mặt”. Ngay chính “Lỗ Tấn” (2) cũng nhận xét về dân tộc ông: “Người Tầu hèn nhát như con thỏ đế, quỷ quyệt như con hồ ly, tàn ác như sư tử”. Hèn nhát là “khi thua”, “quỷ quyệt” là khi tranh giành, “tàn ác” là khi có quyền, làm quan, làm vua.

Quả thật người Tầu “tàn ác như con sư tử”, bởi chính xã hội họ ăn thịt người. Khi đói quá, người ta đi làm giặc và ăn thịt người đã đành. Nhưng khi no quá, như nhiều người Tầu hiện giờ, cũng ăn thịt thai nhi hay trẻ con vì họ nghĩ thịt ấy bổ lắm, cường dương. Những món gì người Tàu cho là bồi bổ sức khỏe, làm gia tăng sự dâm dục, thụ hưởng sự khoái lạc thì người Tầu không chừa bao giờ!

Có lần Lỗ Tấn ví von:

            Khởi thủy nền văn minh Tầu là “Văn minh ăn thịt người”.  

Darwin nói rằng ăn thịt người là mức độ thấp nhất của sự tiến hóa. Khi nhân loại đã tiến hóa thì không còn ăn thịt người nữa.

Lỗ Tấn tán dương tư tưởng đó của Darwin, và dùng tư tưởng đó để nhận xét về lịch sử nước Tầu, lịch sử đó cũng bắt đầu bằng ba chữ “ăn thịt người”, dưới những mỹ từ Nhân Nghĩa, Đạo Đức của Khổng Tử. Cái giả trá của xã hội Tầu bị Lỗ Tấn tố giác bằng học thuyết Darwin. Đã văn minh thì không còn ăn thịt người, nhưng từ xưa cho tới nay, xã hội Tầu vẫn còn “ăn thịt người” dài dài.

            Thực ra, Lỗ Tấn rất băn khoăn về dân tộc của ông. Ông muốn dùng thuyết Darwin để đánh thức người Tầu. Ông muốn chính họ cứu họ, bởi vì theo Lỗ Tấn suy nghĩ, chính người Tầu là kẻ thù tệ hại nhất của chính họ, chớ không phải ai khác.

Lỗ Tấn mượn thuyết tiến hóa là mượn cái vỏ Darwin để nói đến những vấn đề Trung Quốc. Ông muốn tấn công vào cái vỏ, cái đạo đức giả để che đậy cái tàn ác và tham lam, sự ngây thơ nhưng ngu dốt che đậy việc giết người, mê tín, tự tử. Ông tấn công kịch liệt vào bậc chính nhân quân tử bởi vì họ không phải như vậy”.

Người Tầu khi thua thì họ “cúi mặt”, hèn, nhưng không bao giờ nhận mình là hèn. Điều nầy, người ta đọc thấy trong “AQ Chính Truyện” của Lỗ Tấn:

Nhân vật AQ. là con người biểu tượng cho cái tâm lý thua thiệt, không những của y mà cho tất cả những người Tầu.

Không biết y gốc gác như thế nào. Ngay chính y cũng không biết cái gốc gác của mình như ra sao, là một tên lạc vất, lạc vơ đâu đó, trôi giạt vào làng nầy, làng Mùi. Nhưng đôi khi y tự nhận y thuộc dòng họ Triệu, là một họ danh giá trong làng. Trong cách suy nghĩ tự cho là như thế, cách ăn mặc của y bao giờ cũng chuẩn mực, khăn áo đâu đó đàng hoàng, dù những thứ y dùng đã rách cũ. Cách ăn nói, điệu bộ thì bao giờ cũng đúng kiểu cách, ngôn ngữ mở miệng ra là “Chi hồ giả dã” nhưng chữ nghĩa của y thì chẳng có bao lăm.

            Bây giờ y thua mọi người, nhưng y cho rằng con cháu y sẽ hơn mọi người. Y đánh không lại ai, nhưng khi bị ai đánh thì y tự cho rằng mình là “cha người ta” nên ai đánh y thì coi như người đó tự đánh cha mình: “Nó đánh tôi thì khác gì nó đánh cha nó.” A Q. chẳng chịu tỏ ra sự kính nể khác thường, hắn nghĩ: Con của mình sau này còn làm nên bằng mấy kia! Bằng cách đó, y tự thấy mình bao giờ cũng hơn người khác, không thua ai được. Rồi hắn bỏ đi với cái dáng hả hê đắc thắng.

Chính văn hóa của người Tầu đã kìm hãm sự phát riển của họ. Họ tự xem mình như là “Trung tâm văn hóa nhân loại”, tự xem mình như là một dân tộc chuẩn mực. Cũng từ cái tâm lý đó, người Tầu tự cho mình là thượng đẳng, phải khai hóa cho các dân tộc còn man di mọi rợ chung quanh Tầu như “Rợ Hồ, Rợ Quắc,” hay Nam Man là người Lạc Việt ở về phía nam của  Tầu. Đó chính là tâm lý “Đại Hán”, “Đại Bá” của Tầu, khiến họ không bao từ bỏ cái ý tưởng nghĩa xâm lăng và cai trị những nước chung quanh “Trung Quốc”.

Cái “thượng đẳng” của họ là gì? Là Tam Cương, (quân thần, phụ tử, phu phụ), Ngũ Thường là nhân, nghĩa, lễ, trí tín. Hễ giữ dược những cái ấy là trở thành bậc trên thiên hạ.

Thật ra, người Tầu “văn minh” trước người Tây Phương rất lâu.

Thời Xuân Thu (722-481 trước Tây lịch), Khổng Tử (Tr. Tây Lịch 551-479) đã có những tư tưởng mà ngày nay Tây Phương rất khâm phục: Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân(Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác).

Giả dụ như khi mình không muốn bị ai bóc lột thì mình đừng bóc lột người khác. Mình không muốn bị ai khinh khi thì đừng khinh khi người khác. Mình không muốn bị tước đoạt tự do thì đừng tước đoạt tự do người khác… Cứ như thế mà suy thì rõ ràng trong câu nói của Khổng Tử có đủ những tư tưởng về Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái mà người Tây phương thường tượng trưng bằng ba mầu Xanh, Trắng, Đỏ, như trên lá cờ của nước Pháp.

Vậy thì từ trước Công Nguyên, tư tưởng của Khổng Tử (hay của văn minh Trung Hoa?) đã hay lắm. Bên cạnh Khổng Tử, còn có Mạnh Tử, Mặc Địch, v.v… có những thuyết “Tính thiện” hay “Kiêm ái” đều hay cả.

Tuy nhiên, ở xã hội Tầu, tư tưởng hay của Khổng Tử không bao giờ thành hiện thực.

Trong khoảng hai ngàn năm, người Tầu khư khư ôm lấy tư tưởng Khổng Mạnh, có khi tôn phù Tống Nho. Đó là đường lối cai trị độc địa của “Phong kiến Trung Hoa”, với “Trung thần bất sự nhị quân”, hay “Quân khiến thần tử, thần bất tử bất trung”. Tư tưởng như thế, cách cai trị xảo trá như thế, nó trói buộc người dân Tầu hàng ngàn năm qua, khiến nước Tầu tuy đất rộng, dân đông, mà không ngóc đầu lên được.

Người Tầu: Nói và Làm?

Người Tây phương khác với người Tầu ở chỗ Nói và Làm. Người Tây phương có nói và có làm.

Người Tầu thì luôn luôn kêu gọi “Tri hành hợp nhất”, nhưng nói thì như thế nầy mà làm thì ngược lại thế kia. Điều rõ nhứt là những quan điểm như Tự Do, Dân Chủ, Bình Đẳng, Nhân Quyền, Bác Ái, v.v… Người Tầu họ có nói, nhưng thực hiện những tư tưởng đó vào xã hội Tầu thì chưa từng thấy bao giờ, nói chi tới việc họ đem những cái hay đẹp ấy mà thực hiện ở các nước chung quanh.

            Dẫn chứng:

            Người Âu Mỹ có những tư tưởng tiến bộ về Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái. Rồi họ biến những tư tưởng ấy thành hiện thực trong đời sống chính trị, xã hội ở nước họ. Cuộc Cách Mạng Mỹ năm 1776 là cuộc cách mạng thực hiện những tư tưởng đó, nên nước Mỹ mới được như ngày nay. Điều buồn cười là những tư tưởng nói trên đơm hoa kết trái ở Pháp, nhưng lại diễn ra ở Mỹ trước, và phải 13 năm sau (1789) mới có cuộc “Cách Mạng Tư Sản Dân Quyền” bùng nổ ở Pháp.

Người Pháp thì nghĩ ra mà người Mỹ thì làm trước. Dù sao thì ngày nay, hầu hết các nước Âu Mỹ, dù là những nước Đông Âu từng bị Cộng Sản Nga cai trị lâu dài, tại những nước đó cũng đã có Tự Do, Dân Chủ…rồi.

Thật ra, theo nhiều người, cái tính tự tôn của người Tầu cộng với chế độ Phong kiến Trung Hoa đã dìm dân tộc nầy xuống, không ngóc đầu lên nổi suốt hơn hai ngàn năm. Cũng với cá tính tự tôn đó, cộng với chủ nghĩa Cộng Sản, lại tiếp tục đè đầu người Tầu xuống gần một trăm năm qua, cho tới bây giờ, ngoài cái số đông dân số, “lấy thịt đè người”, người Tầu không hơn ai về khoa học kỹ thuật, nông nghiệp, kinh tế.

Quan điểm sống thụ hưởng, coi “đời như một bữa tiệc” thì xã hội Tầu làm gì có Tự do, Dân Chủ, Bác Ái. Có người ăn no ắt phải có người nhịn đói. Có người ăn dư thừa thì phải có người đói gầy trơ xương. Người ta khó tìm việc làm có điều Nhân của Khổng Tử trong xã hội Tầu.

Năm 1935, khi Thụy Điển trao giải Nobel cho Carl von Ossietzky, Hitler phẫn nộ và cấm công dân Đức nhận bất kỳ giải Nobel nào.

Gần một trăm năm sau, Lưu Hiểu Ba của Tầu cũng không được cho đi nhận giải Nobel. Việc ngăn cấm ấy chấm dứt ở Đức đã lâu. Bao giờ thì nước Tầu sẽ không còn sự cấm cản ấy, hay sẽ không bao giờ xảy ra cả.

            Một đất nước mà dân chúng có tinh thần như vậy thì giặc giả không bao giờ dứt cũng không có gì là lạ. Nếu nói tới thống nhất thì nước Tầu không bao giờ Thống Nhất trong Tự Do, Dân Chủ mà chỉ là thống nhất bằng bạo lực.

            Tưởng Giới Thạch “thống nhất” Trung Hoa cũng chỉ bằng quân đội; dưới chế độ Cộng Sản, Mao “thống nhất” Trung Hoa bằng gì, nếu không bằng súng đạn, bằng “nhân trị” (người trị người).

Hết bạo lực, nước Tầu sẽ tan rã như ổ bánh mì gặp trận mưa rào.

Lịch sử Tầu như thế là vì bản tính người Tầu như thế. Họ chỉ có thể “nhất thống” dưới bạo lực, tồn tại trong bạo lực. Từ khi Mao chiếm xong lục địa năm 1949 cho tới giờ, đã hơn nửa thế kỷ, nước Tầu thống nhất dưới ách cai trị đàn áp tàn bạo của Cộng Sản.

Chế độ Cộng Sản không tồn tại lâu dài được, thì cái ách nô lệ đang tròng lên đầu người Tầu cũng sẽ được cởi bỏ. Rồi nước Tầu sẽ rơi vào một cuộc phân hóa khác. Đó chính là điều những người có trách nhiệm cai trị nước Tầu hiện nay rất sợ.

            Thật vây, khi thiếu một cái gì đó, thua thiệt một cái gì đó, người ta tự tìm ra một cái gì khác, để khỏa lấp cái thất bại, thiếu vắng trong cuộc sống của họ.

            Đó là căn bệnh của người Tầu trước khi có cuộc nổi dậy của cách mạng vô sản.

            Tâm lý chung đó của người Tầu là miếng đất mầu mỡ cho chủ nghĩa Cộng Sản mà hận thù và tự tôn là nền tảng của chủ nghĩa nầy, là nơi thuận lợi bậc nhất hạt giống thù hận giai cấp, thù hận các dân tộc Tây phương mà Cộng Sản Tầu muốn.

Chủ nghĩa Cộng Sản chỉ có thể được nuôi trồng và nảy nở trong các dân tộc như Tầu để họ xây dựng Xã hội Xã hội Chủ nghĩa.

            Bằng hận thù và tham lam, các lãnh tụ ở Trung Nam Hải sẽ dẫn dắt dân tộc Tầu tiến tới đâu, để người Tầu vừa có Cơm Áo, vừa có Tự Do.

            Hiện nay, người Tầu cho rằng, mấy trăm năm nay, người Tây phương, với sức mạnh quân sự và tiến bộ khoa học kỹ thuật, chiếm giữ hầu hết các tài nguyên thiên nhiên trên địa cầu. Nay là lúc các nước Âu Mỹ phải rút lui, nhường lại những tài nguyên ấy cho họ. Đã đến phiên họ thay cho người Âu Mỹ.

            Từ quan điểm đó, họ đi ngược lại những cái gì người Âu Mỹ đã làm. Sau Thế Chiến Thứ Hai, các nước thực dân Âu Mỹ chủ trương “giải thực” thì người Tầu bây giờ chủ trương “thực dân”. Trước đây, các nước Nam Mỹ bị coi là “Sân sau của Mỹ”, dần dần được Mỹ nới lỏng ra, thành lập các nước có Dân Chủ, Tự Do thật sự, đến nỗi như Cuba thành cộng sản, Venezuela thiên Cọng… thì nay người Tầu muốn xâm lăng hoặc khống chế các nước Đông Nam Á để biến các nước nầy thành “Sân sau của Tàu”.

            Đi con đường ngược chiều quay lịch sử, liệu mấy chú Ba ở Trung Nam Hải có thành công? Kim đồng hồ có quay ngược bao giờ!

Chế độ phong kiến Tầu:

Giàu nghèo là hiện tượng xảy ra trên nhiều vùng địa cầu.

Giàu nghèo là mâu thuẫn muôn đời của người Tầu, là hai thái cực đối nghịch đến cùng cực. Nó có nghĩa là người giàu thì quá giàu, “nứt đố đổ vách”; người nghèo thì quá nghèo, “nghèo mặt rệp”, “nghèo rớt mồng tơi.”

            Tôi có quen vài gia đình người Tầu ở Chợ Lớn. Lúc ấy, trước 1975, họ làm ăn đã khá giả, nhưng đến bữa ăn, dù đầy đủ thịt cá, cơm trắng, canh ngọt như thế nào, khi ăn xong, mỗi người cũng ăn một chén cháo trắng to nhỏ tùy người.

Tại sao ăn cháo trắng?

Một ông Tầu già giải thích vớí tôi: “Phải ăn chén cháo để nhớ lúc hàn vi, không đủ gạo phải nấu cháo để mỗi người được một tô”. Đó là một sự giáo dục đấy, nhắc nhở người ta đừng bao giò quên lúc nghèo khổ. Dĩ nhiên, việc ấy có nhiều ý nghĩa hay, khỏi nhắc lại dông dài. Trên thực tế, bọn trẻ Tầu ở Chợ Lớn, có ăn chén cháo, thì việc ấy chúng coi như một thói quen, tập tục mà chúng không hiểu hay suy nghĩ gì sâu sắc cả.

            Tuy nhiên, vấn đề không phải là nghèo. Chính yếu là mâu thuẫn giàu nghèo. Một đất nước, một chế độ, một dân tộc có tâm lý phức tạp như Tầu, thử hỏi bao giờ nước Tầu có thể làm giảm bớt sự mâu thuẫn giàu nghèo, chớ đừng nói chi tới mọi người no cơm ấm áo như nhau?

            Ở Âu Mỹ, sự cách biệt giàu nghèo có giảm bớt – chỉ nói giảm bớt thôi – là nhờ có dân chủ. Dân chủ là đem tới luật pháp cho xã hội. “Luật pháp dân chủ” ngăn chận bớt sự bóc lột, đàn áp.

Xã hội Mỹ là như thế, vậy mà người giàu ở Mỹ càng ngày càng giàu hơn. Hễ người giàu càng giàu hơn, thì người nghèo càng nghèo hơn. Sự “mâu thuẫn giàu nghèo” dễ đưa xã hội đến đấu tranh, và có khi đổ vỡ.

            Trong viễn tượng nầy, “đạo đức tôn giáo” đóng một vai trò quan trọng. Ngăn chận bớt lòng tham của người giàu, buộc người giàu phải vị tha hơn. Trong viễn tượng đó, người ta khó phủ nhận lòng bác ái của người Âu – Mỹ.

            Một nữ giáo sư ở University of Mass Amhert, Giám Đốc chương trình Nghiên Cứu về Châu Á, di tản hồi 30 tháng Tư/ 75, tốt nghiệp đại học ở Việt Nam, ở Pháp nói chuyện với tôi: “Khi mình đến tỵ nạn ở Mỹ, họ giúp đỡ mình đủ thứ. Giả thử như một ngày kia, có một người Mỹ đến tỵ nạn ở Việt Nam, người mình “lột” nó tới cái quần xà-lỏn.”

            Đang suy nghĩ về người Tầu, tôi hỏi bà ấy: “Người Tầu thì chị nghĩ sao?” Bà ấy trả lời: “Người Tầu người Việt khác chi nhau?!”

            Người Tầu thường nói đến chữ “Nhân” của Khổng Tử, cũng có khi nói tới hai chữ “Từ bi” của Phật, nhưng xem ra, người Tầu nói và làm thường không đi đôi.

            Bởi tình trạng nầy, như đã viết ở phần trên, nhà văn Lỗ Tấn muốn dùng những tư tưởng Tây phương, Darwin chẳng hạn, để cảnh tỉnh người Tầu, cứu vớt dân tộc Tầu. Việc ông ta làm cách nay đã gần trăm năm mà xem ra, chưa có chút “xê-xích” nào.

            Những trí thức sau Lỗ Tấn, người ta đang nghĩ gì, làm gì?

Trí thức là một lực lượng đáng kể, đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt xã hội, về nhiều mặt: chính trị, giáo dục, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật… Họ là trí thức, có kiến thức tổng quát, số đông có tinh thần Dân Tộc, yêu chuộng Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái… Trong viễn tượng đó, họ thường có ý thức chống đối việc thống trị xã hội, nhất là trong những xã hội có áp bức, độc tài, tham nhũng, bóc lột…

Khi nước Tầu mở cửa với thế giới bên ngoài, trí thức Trung Hoa không còn là những con ngựa “mang dàm”, cứ một đường mà đi như lời “chủ”, tức là đảng CS Tầu, chỉ dạy. Họ thấy được sự tiến bộ của nhiều nước trên thế giới, nhờ khoa học kỹ thuật, nhờ có Tự Do, Dân Chủ… Từ chỗ đứng đó, họ biết họ phải làm gì cho họ, cho đất nước họ. Đó là khởi điểm của những cuộc chống đối, biểu tình, đòi hỏi.

Không có trí thức thì không có cách mạng. Không có những tư tưởng tiến bộ của Voltaire, Diderot, Rousseau… phổ biến trong giới trí thức thì người ta làm sao ý thức được thế nào là Dân Chủ, Tự Do, Bình Đẳng để làm cách mạng?

Bên Tầu, chính Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi làm cái công việc phổ biến tư tưởng ấy. Chính trí thức đã đem ánh sáng ấy đến với nông dân, công nhân, binh lính để họ tham gia cuộc Cách Mạng Tân Hợi.

Trong tương lai, nếu muốn có một cuộc cách mạng, giới trí thức phải làm cái công viẹc ấy, bởi vì trình độ chính trị của giới nông dân, công nân, binh lính còn thấp, hay suy nghĩ một chiều như dưới chế độ Cộng Sản, làm sao họ biết cái gì, mục đích gì, quyền lợi gì để thực hiện những cuộc lât đổ.

Muốn xây dựng đất nước, trí thức lại cũng phải làm cái công việc ấy. Không riêng gì bên Tầu, mà ngay ở nước ta, sau nầy cũng vậy.

Thật ra, cuộc đàn áp ở Thiên An Môn, cũng như tất cả các cuộc đàn áp của chính quyền Cộng Sản Tầu khác, trên khắp nước Tầu và những vùng họ cai trị như ở Tân Cương, Tây Tạng, không bao giờ là không tàn ác, khốc liệt… Bên cạnh đó, tinh thần đấu tranh của người Tầu không nhiều gan dạ, không mạnh mẽ.

Cuộc nổi dậy ở Thiên An môn xảy ra vào mùa hè năm 1989, bị đàn áp khốc liệt ngày 4 tháng 6 năm đó, tính ra đến nay là đã 26 năm, một phần tư thế kỷ, mà vẫn chưa có cuộc nổi dậy nào khác. Không có cuộc nổi dậy nào khác, không phải là vì nước Tầu nay có chế độ dân chủ hơn, bình đẳng hơn hay tốt đẹp hơn chẳng hạn. Có lẽ có tình trạng ấy vì Cộng Sản Tầu nắm dân kỹ quá, hay tinh thần người Tầu xưa nay không khác gì nhau. Người Mãn Châu còn cai trị người Tầu hơn 300 năm, huống chi Cộng Sản Tầu mới cai trị 66 năm. Chắc phải chờ tới đủ một trăm năm, mới tính chuyện người Tầu có đủ can đảm để vùng lên.

Hãy nhớ lại câu phê bình của Lỗ Tấn đối với dân tộc của ông: “Nhát như thỏ đế…”

Người Tầu không có truyền thống đoàn kết. Ai cũng muốn làm quan, làm vua thì đoàn kết thế nào được. Không đoàn kết thì dễ chia rẻ, tan rã. Hễ tan rã, thì nạn quân phiệt cát cứ các nơi xảy ra, tranh bá đồ vương, xưng hùng xưng bá, không thể nào thống nhất lại được. Đến lúc đó, dù giương lên cái chiêu bài gì, Dân Tộc, Dân Chủ, Tự Do, v.v… cũng khó lôi kéo được người Tầu.

Trông người mà nghĩ đến ta!

            Văn hóa Tầu ảnh hưởng khắp vùng Đông Nam Á, nhưng với người Nhật, người Đại Hàn, chúng ta thấy họ khác Tầu. Tinh thần người Tầu không thể bằng tinh thần người Nhật. Người Đại Hàn thì càng ngày càng cao hơn.

            Ở Việt Nam, từ trước năm 1975, người dân vùng Quốc Gia cũng có giống người Tầu ít nhiều và cũng khác nhiều. Nó có khác đi là vì người Việt phải luôn luôn chống ngoại xâm, xưa cũng như về sau, để giữ nền tự chủ.

            Còn như bây giờ, dưới chế độ Cộng Sản, nhất là ở miền Bắc, người ta, nhất là người Cộng Sản Việt Nam, không khác người Tầu bao nhiêu cả. Có thể là khi Việt Cọng cai trị đất nước, họ đã dùng cái “văn hóa Tầu” để đồng hóa “văn hóa Việt”.

            Điều đó mới thật là đáng sợ. Trong viễn tượng đó, sự “tiêu vong dân tộc” sẽ đến một cách mau lẹ nhất, sâu sắc nhất và triệt để nhất, không khác chi 99 tộc Việt ở Hoa Nam đã bị “Hán hóa”, không còn một chút dấu tích Việt nào, trên những người nầy./

Kỳ tới: Người Tầu ở hải ngoại

hoànglonghải

(1)-Bá Dương (7 tháng 3 năm 1920 – 29 tháng 4 năm 2008) là một người viết tạp văn Đài Loan. Ông còn là nhà thơ, nhà văn, nhà báosử gia. Ông nổi tiếng vì tác phẩm “Người Trung quốc xấu xí”. Vợ ông là Dương Hương Hoa, một thi sĩ.

Bá Dương sinh năm 1920 ở Khai Phong, Hồ Nam, Trung Quốc đại lục và sang Đài Loan vào năm 1949. Từ năm 1967-1977 ông bị chính phủ Trung Hoa Dân Quốc bắt giam vì dịch sang tiếng Trung Quốc một tranh hý họa Popeyechính phủ cho là phạm thượng. Cũng trong năm 1977, ông bắt đầu đi nói chuyện về hiện tượng “Người Trung Quốc xấu xí”. Những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông được tập trung lại thành quyển sách người Trung Quốc xấu xí. Ông chết vì bệnh viêm phổi ngày 29 tháng 4 năm 2008 tại Đài Loan. (theo Wiki)

(Độc giả có thể đọc thêm “Người Trung Quốc xấu xí” của Bá Dương).

(2)-Lỗ Tấn (1881-1936) tên thật: Chu Thụ Nhân, tên chữ là Dự Tài, Lỗ Tấn là bút danh lấy từ họ mẹ (Lỗ Thuỵ) và chữ “Tấn hành”; quê ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.

Trước khi trở thành nhà văn, ông đã học nhiều nghề: Hàng hải (mong được đi đây đi đó để mở rộng tầm mắt), khai mỏ (làm giàu cho đất nước), nghề y (chữa bệnh những người nghèo ốm mà không thuốc như bố ông). Cuối cùng ông thấy rằng chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần nên ông chuyển sang làm văn nghệ. Ông chủ trương dùng ngòi bút để phanh phui các căn bệnh tinh thần của quốc dân, lưu ý mọi người tìm phương thuốc chạy chữa.

– Sáng tác của Lỗ Tấn đã phê phán mạnh mẽ những căn bệnh tinh thần khiến cho quốc dân mê muội, tự thoả mãn “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”; và kêu gọi mọi người tìm phương thuốc chạy chữa để cứu dân tộc.

Lỗ Tấn là nhà văn hiện thực xuất sắc của Trung Quốc, có tư tưởng yêu nước tiến bộ. (theo Kiwi)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: