Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Chống Giặc Tầu (Bài 3) – “Đàn bà dễ có mấy tay…”

Những người đàn bà

làm “loạn triều chính” nước Tầu.

(Triết phu thành thành,

triết phụ khuynh thành)

hoànglonghải

            Lý Diên Niên viết trong Hán Thư: “Bắc phương hữu giai nhân, tuyệt thế nhi độc lập, nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc”. Nghĩa là: “Phương Bắc có người đẹp, một mình nhất thế gian, nhìn một cái nghiêng thành của người ta, nhìn hai cái thì nghiêng nước của người ta” (theo “Từ Điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh). Nói gọn là:

            “Khuynh Quốc, Khuynh Thành”, người Việt nói nôm na là “Nghiêng Nước, Nghiêng Thành”. Ở Saigon, một thời mấy “em Mari Phông-ten” tranh nhau bồ bịch, vác đòn gánh đánh nhau, làm đổ thùng gánh nước máy, nên có ông nhạc sĩ gọi đùa là “Nghiêng nước, nghiêng thùng” (thùng gánh nước).

            “Văn Chương Bình Dân”, – bình dân thì vừa thô vừa tục -nói huỵch toẹt rằng:

                        “Quan to súng lớn bề bề,

                 Thần lồ…ám ảnh cũng mê mẩn đời”.

            Nói chung, ấy là chuyện các người đẹp, bên Tầu cũng như bên ta. Bên Tầu thì mấy bả ngồi trong cung mà làm “loạn triều chính”. Bên xứ ta thì ngược lại.

            Xứ ta, loạn thì chỉ ở chỗ máy nước công cộng (fontaine), còn trong triều đình thì mấy bả giỏi lắm, lại có bà tài ba lắm, như “Hai Bà Trưng”, với các nữ tướng của Hai Bà, “Bà Triệu”, “Ỷ Lan Phu Nhân”, “Huyền Trân Công Chúa”, “Ngọc Hân Công Chúa”, “Ngọc Vạn Công Chúa”. Tệ thì có bà Trần thị Lệ Xuân, tức “Bà Nhu”. Chuyện xứ ta, sẽ nói sau. Bây giờ nói chuyện bên Tầu trước.

            Người đẹp bên Tầu, có một thứ vũ khí giống nhau như Mao Tôn Cương nhận xét:

              Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ.

              Đó là thứ vũ khí hiệu quả nhất, bao nhiêu vua chúa, tướng tá tài giỏi, đều chịu thua.

              Nguyễn Giản Thanh nước ta, trong câu đối lại câu của thầy: “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” cũng xác nhận đàn bà đã “nhận chìm” đàn ông:

              “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (1)

              Người Tầu khinh thị giới phụ nữ. Có lần Khổng Tử nói “Phụ nhân nan hóa”. Đàn bà Tầu không những chỉ “nan hóa” mà còn đáng sợ hơn cả đàn ông.

            “Cung Oán ngâm khúc” có mấy câu thơ nói về người đẹp (bên Tầu) như thế nầy:

                        Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn

                        Lững da trời nhạn ngẩn ngơ sa  

                          Hương trời đắm nguyệt say hoa,

                   Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.

            Chìm đáy nước là “trầm ngư”, “nhạn ngẩn ngơ sa” là “lạc nhạn”. Nói chung là trầm ngư  lạc nhạn, tức là đẹp đến nỗi, cá thấy cũng lặn mất vì ghen, chim đang bay trên trời vì người đẹp cũng sa cánh rơi xuống, hoặc có bà làm cho “bế nguyệt” (trăng lặn), hay “tu hoa” (hoa không nở).

            “Hương trời đám nguyệt say hoa” là do ở câu: “Quốc sắc triêu (hay chiêu) hàm tửu, Thiên hương dạ nhiễm y” là nói về hoa mẫu đơn, nhưng mẫu đơn cũng là “người đẹp (nổi tiếng) trong nước làm cho người đàn ông sớm (chiêu) say rượu (hàm tửu). Tối (dạ) sương làm cho “ướt áo” (nhiễm y). Người ta thường nói gọn lại là quốc sắc, thiên hương”.

            Nhiều người đàn ông thấy đàn bà đẹp mà bỗng giật mình. Ở đây, tôi không nói chuyện “giật mình”. Thấy người đẹp đến nỗi phải “giật mình”, mà chỉ nói về người đẹp Trung Hoa, tức là nói về “Tứ Đại Mỵ Nhân” và những người làm “nghiêng thành đổ nước” bên Tầu.

            “Tứ đại Mỹ nhân” bên Tầu gồm những ai?

            1)-Kể theo thứ tự thời gian thì người “xưa” nhất là Tây Thi (thế kỷ thứ 5 hoặc 6, trước Công Nguyên), quê ở vùng Triết Giang ngày nay, họ Thi, làng (Tây) Trữ La nên gọi là Tây Thi, làm nghề dệt vải, cha làm nghề kiếm củi. Cái xấu của Tây Thi là có hai bàn chân to. (Có phải người miền cao, thường leo dốc, leo đồi nên chân to như Nông Thị Xuân của Hồ Chí Minh vậy?)

            Dĩ nhiên, theo dã sử, Tây Thi rất đẹp. Mỗi lần Tây Thi xuống sông, cá thấy Tây Thi đẹp quá, bèn lặn xuống đáy sông. Do tích nầy, trong “Tần Cung Nữ Oán Bái Công Văn” của Đặng Trần Thường có câu thơ tả sắc đẹp của một cung nữ:

                        Cặp mày xanh chiếc lá cũng ghen,

                   Câu khiển hứng, đánh chìm dòng nước chảy. (2)

            Theo Đông Châu Liệt Quốc, Ngô Phù Sai đánh bại Việt Câu Tiễn. Mưu thần của Câu Tiễn là Văn Chủng và Phạm Lãi, bàn với Tiễn dụng “mỹ nhân kế” để phục thù.

            Họ tìm được Tây Thi và Ngọc Đán bèn đem dâng cho Phù Sai. Vua Ngô được Tây Thi, ngày đêm mê mẩn, vui chơi, xướng hát, chiều chuộng Tây Thi đủ mọi điều. Chẳng bao lâu việc triều chính hư nát. Câu Tiễn nhân đấy đem quân đánh Phù Sai, phục được mối hận.

            Vì sắc đẹp, Tây Thi cũng khó ở yên với vua Việt, “mấy bả” ghen và cố diệt nhau. Phạm Lãi bèn cùng Tây Thi bỏ vào Ngũ Hồ. Tây Thi chết ở đó. Phạm Lãi cũng “nước mắt (tôi) rớt bên bờ sông (hồ)” mà chết theo.

            Tây Thi làm cho người Tầu (Ngô-Việt) đánh nhau và tiêu diệt lẫn nhau.

            Có người cho rằng Việt Câu Tiễn là một trong “bách Việt” sau bị người Hán đồng hóa.

            2)-Người thứ hai là Chiêu Quân, đời Tây Hán, thế kỷ thứ 1 trước Công Nguyên. Chiêu Quân hay còn gọi là Vương Chiêu quân, tên thật là Vương Tường, quê ở Nam Quận, tức Giao Châu tức là người nước Nam (3).

            Tuy nhiên, cũng có sách nói “Nam Quận” là thuộc tỉnh Hồ Bắc, bên Tầu. (Mao Trạch Đông cũng quê ở Hồ Bắc).

            Vương Tường được tuyển làm cung phi đời Hán Nguyên Đế. Vì trong cung quá nhiều cung phi mỹ nữ, nên những người được tuyển vào cung đều đươc thợ vẽ vẽ hình để vua hay hoàng hậu… chọn vào “hầu” vua (bây giờ Việt Cộng gọi là “phục vụ”, như Nông Thị Xuân “phục vụ Bác” vậy). Đời bấy giờ có anh thợ vẽ tên là Mao Diên Thọ, những người ăn hối lộ nên thờ ông nầy làm “tổ sư” vì ông là “tay tổ” hối lộ. Cô nào không chịu đút lót, Diên Thọ vẽ cho xấu đi. Vương Tường quá đẹp, Diên Thọ không dám vẽ xấu, dù cô ta có đôi vai lệch, y bèn chấm một chấm dưới mắt người đẹp, tưởng như đó là một nút ruồi.

            Theo sách tướng, những người có nút ruồi như vầy, gọi là “Thương phu trích lệ”. Theo Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh, “thương” có nghĩa là chết yểu, chết non. Câu trên có nghĩa là: Giọt nước mắt thương chồng chết yểu. Dĩ nhiên, Vương Tường không được vua đoái tưởng tới.

            Bây giờ, vua Hung Nô là Hồ Hàn Tà trở chứng làm khó vua Tầu chơi. Vua Hồ đòi vua Hán phải gã cho anh ta một công chúa, không thì y sẽ đem quân sang đánh. Vua Hán lạnh giò. Tuy nhiên, thay vì gã một công chúa thì vua Hán “biếu” 5 cung phi “làm quà”. Đổi 1 lấy 5, vua Hồ thấy có lời bèn chịu.

            Vua Hán chọn 5 cung nữ cho đi, trong số có Vương Tường. Thấy hình Vương Tường đẹp, vua Hán thấy cho đi thì cũng uổng, nhưng ông ta sợ cái nút ruồi “Thương phu trích lệ”, nên muốn mau mau giao cho vua Hồ. May ra, Hồ Hàn Tà vì cái nốt ruồi mà “thương” cho lẹ, thì cũng yên ổn cho ngai vàng của ông ta.

            Đến khi vua cho gọi các cung phi lên phủ dụ để đưa qua xứ Hung Nô, bấy giờ vua thấy Vương Tường không có cái nốt ruồi nào cả mà lại đẹp quá, bèn tiếc của, ngần ngại, nhưng lại ngại triều thần. Cuối cùng, vua đành phải chiều, cho Vương Tường đi, sau khi làm một bài thơ phủ dụ người đẹp.

            Sau khi qua khỏi Nhạn Môn Quan là cửa ải cuối cùng, buồn vì nhớ quê, thương phận mình, Chiêu Quân đánh khúc đàn “Xuất Tái Khúc” để giải khuây. Đàn chim nhạn bay ngang qua, nghe tiếng đàn của Vương, có con đứt ruột rơi xuống mà chết. Câu chuyện nầy trở thành điển tích “lạc nhạn”. Bản đàn có tên là “Khúc Hồ Cầm”.

            Trong tuyện Kiều có câu: “Nghề riêng ăn đứt Hồ Cầm một chương” là do tích nầy.

            Người Tầu thường tự hào là Nam tử Hán(Người đàn ông anh hùng Hán tộc).

            Xem ra, qua câu chuyện nầy, “Nam tử Hán” không những nhát gan mà còn hèn. Muốn được yên thân, “Nam tử Hán” bèn núp bóng “quần hồng” (đàn bà). Đừng quên xã hội Tầu là xã hội trọng nam khinh nữ. “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”.

            Câu chuyện Vương Tường có liên hệ đến lịch sử và văn học nước ta.

            Năm 1309, Huyền Trân Công Chúa lên đường qua Chiêm Thành mà làm vợ Chế Mân. Bấy giờ, như Cụ Trần Trọng Kim viết “trong triều đình có người không thuận”; trong dân chúng thì có câu ca dao:

                        “Tiếc thay câu quế giữa rừng,

                        Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.”

            Thằng Mán thằng Mường ám chỉ ông vua Chàm. Hoặc:

                        “Tiếc thay hột gạo trắng ngần,

                        Đã vo nước đục lại vần lửa rơm”

            Hột gạo trắng ngần là ví với Huyền Trân Công Chúa. Nước đục là Chế Mân, lửa rơm là Trần Khắc Chung. Độc giả muốn rõ hơn câu chuyện tình tay ba nầy, xin đọc “Những bài thơ Nôm đầu tiên trong Văn học nước ta”, cùng tác giả.

            Cũng từ câu chuyện tình nầy, trong văn học nước ta có hai bài thơ Nôm, không rõ tác giả.

Bài số 1:

Vua Dụ Vương Tường

Gã Cho Chúa Thuyền Vu

Hán Hồ vẫn muốn vẹn trăm đường

Há trẫm riêng tây có phụ nường
Bắc quốc tuy rằng ngoài d
ị vực
Vương đình song cũng m
ột biên cương
Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt
Về đấy sen tàn l
ổi cỏ hương
Hơn thiệt thôi đ
ừng ai oán nữa
Chờ ngày áo g
ấm lại hoàn hương.

Bài số 2:

Vương Tường Bái Yết Hán Vương

Từ nan khôn chối lệnh quân vương
Rõi rõi thêm đau n
ỗi đoạn trường
Khúm núm kh
ấu đầu ngoài bệ ngọc
Thẹn thùng ra m
ặt trước nhà vàng
M
ặt hoa dượi dượi chiều đeo tuyết
Mày li
ễu rầu rầu dáng ủ sương
Hang thẳm phen nầy xuân n
ở phụ
Lòng quì khôn xi
ết ngóng về dương

            3)-Về Điêu Thuyền, trong “Thánh Thán Ngoại Thư”, Mao Tôn Cương bàn như sau:

“18 lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lã Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền thắng nổi. Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ. Xem thế thì cái bản lãnh của “nữ tướng quân” quả là tuyệt cao cường, đáng sợ thay!”

Khuyết điểm cua Điêu Thuyền là có hai tai nhỏ.

“Lữ Bố hí Điêu Thuyền” là một tuồng tích trong hát bộ được nhiều khán giả ưa thích.

Điêu Thuyền sinh vào những năm cuối thời Đông Hán. Thời đó trong cung, bọn hoạn quan câu kết khuynh đảo triều chính, ngoài cung thì giặc giã như ong khiến trăm họ không yên.

Điêu Thuyền hơn 10 tuổi, theo gia đình chạy loạn đến Lạc Dương nhưng bị lạc nhau, thành ra chỉ có cô và cha đến được kinh đô. Vừa đến Lạc Dương, cha Điêu Thuyền đổ bệnh, lại không có tiền thuốc thang nên qua đời.

Thương cha mất nơi đất khách quê người không có tiền chôn cất, Điêu Thuyền ôm xác cha ngồi bên chợ khóc lóc, cầu xin mọi người cho tiền chôn cha và nguyện bán thân làm tỳ nữ suốt đời.

Lúc đó, quan tư đồ Vương Doãn đi qua, thấy cảnh thương xót bèn cho tiền để Điêu Thuyền chôn cha. Nhận thấy cô bé này có hiếu nên Vương Doãn nhận làm con nuôi mang về phủ, cho ăn học đàng hoàng, mướn thầy giỏi dạy cầm kỳ thi họa.

Vương Doãn làm quan to trong triều Hán nhưng bấy giờ quyền bính nằm trong tay thái sư Đổng Trác. Đổng Trác có người con nuôi là Lữ Bố. Bố có sức khỏe địch muôn người nên triều thần  không ai dám chống lại.

Năm 190, quân chư hầu các nơi thảo phạt Đổng Trác, vây đánh kinh đô Lạc Dương. Trước thế mạnh quân chư hầu, Đổng Trác bắt vua và trăm quan phải chuyển sang Trường An để dễ phòng ngự. Vương Doãn cũng như các quan phải dắt gia quyến đi từ Lạc Dương đến Trường An.

Năm đó, Điêu Thuyền tròn 16 tuổi và sắc đẹp rạng ngời. Khi Điêu Thuyền ngắm trăng thì mây che trăng, vì trăng thấy thẹn. Người xưng tụng là Bế nguyệt”.

Vương Doãn sợ con gái nuôi khổ nên thuê một cỗ xe ngựa chở Điêu Thuyền đến Trường An. Vì loạn lạc nên giữa đường, Vương Doãn lạc xe ngựa của Điêu Thuyền. Xe của Điêu Thuyền bị bọn giặc cỏ chặn lại, định làm nhục Điêu Thuyền.

Lữ Bố đi ngang thấy vậy, bèn đánh tan đám giặc, cứu Điêu Thuyền. Thấy mỹ nhân, Lữ Bố tuy si mê nhưng không dám thất thố. Lữ Bố hỏi thăm tên tuổi gia cảnh rồi đích thân đưa Điêu Thuyền đến tận phủ Vương Doãn ở Trường An.

Sau khi cha con trùng phùng, Vương Doãn biết Lữ Bố si mê Điêu Thuyền. Vương Doãn nảy ra một kế, dùng Điêu Thuyền để làm ly gián hai cha con Đổng Trác và Lữ Bố bằng cách gả Điêu Thuyền cho Đổng Trác.

Cuối cùng, Lữ Bố giết Đông Trác để cướp Điêu Thuyền.

4)-Tượng Dương Quí Phi mới được dựng ở  Tây An. Người Tầu tỏ lòng ngưỡng mộ thủ phạm đã gây nên cái loạn An Lộc Sơn vì Dương đã tư tình với tên tướng gốc Hung Nô nầy.

Khuyết điểm của Quí Phi là mồ hôi nặng mùi.

Dương quý phi tên thật là Dương Ngọc Hoàn,sinh năm 719, tại Thục Quận (nay là tỉnh Tứ Xuyên), nguyên quán Bồ Châu, là con út trong số bốn người con gái của quan Dương Nguyên Diễn. Dương Nguyên Diễn, thuộc dòng khá giả, tổ phụ từng làm thứ sử tại quận Kim. Xuất thân trong gia đình quan lại, cùng gia quyến sống ở Tứ Xuyên, từ nhỏ Dương Ngọc Hoàn được học hát, múa. Đến năm 10 tuổi, cha mẹ mất, Ngọc Hoàn mới đến Lạc Dương, sống với nhà bác ruột.

Năm 14 tuổi, Võ huệ phi, một phi tần đắc sủng của Đường Huyền Tông, chọn Ngọc Hoàn làm vương phi của hoàng tử thứ 18 của Đường Minh Hoàng là Thọ Vương. Dương Ngọc Hoàn trở thành Thọ Vương phi. Thọ vương tính nhút nhát, thích ngắm mỹ nhân. Dương Ngọc Hoàn làm Thọ Vương phi được ba năm, chưa chuyện chăn gối vì Thọ Vương còn nhỏ.

Võ Huệ phi, là phi tần của Đường Minh Hoàng qua đời, Huyền Tông buồn rầu, ngày đêm nhớ thương. Nội giám bèn tìm đủ cách để hoàng đế nguôi buồn. Một hôm Cao Lực Sĩ đi ngang phủ Thọ Vương, thấy Ngọc Hoàn là giai nhân tuyệt sắc, bèn âm mưu dung mỹ nhân này thay Võ Huệ Phi.

Nhân buổi hầu vua, Cao Lực Sĩ mật tấu với Huyền Tông, truyền đưa Dương Ngọc Hoàn vào Tập Linh đài để trông coi đèn nhang sớm hôm cầu nguyện cho Võ huệ phi.

Do đó, Ngọc Hoàn phải vào cung Hoa Thanh, đến đài Tập Linh làm sãi, lấy đạo hiệu là Thái Chân.

Cao Lực Sĩ lại chọn gả con gái của Vi Chiêu Huấn để thay Ngọc Hoàn làm Thọ Vương phi. Xem như xuất gia là thay đổi đời người, không còn là vương phi của Thọ Vương (Lý Mạo) nữa.

Huyền Tông sủng ái Dương Ngọc Hoàn, từ đó quên dần Huệ phi.

Huyền Tông lập Ngọc Hoàn làm quý phi. Anh trai của Quý phi là Dương Xuyên được phong làm tể tướng, tức là Dương Quốc Trung.

Huyền Tông say đắm Dương Quý phi, chiều chuộng hết mực. Dương Quý Phi đã đẹp lại có tài gẩy đàn, giỏi về âm nhạc. Quí Phi lại đặt nhiều khúc hát và điệu múa làm cho Huyền Tông càng thích thú say sưa hơn. Quí Phi nổi tiếng với điệu múa Hồ hoàn vũ, là điệu múa xuất phát từ người Hồ.

Huyền Tông gặp Dương quý phi lúc tuổi đã ngoài 50, cơ thể suy nhuợc vì sắc dục thái quá. Hoàng đế nhờ An Lộc Sơn dâng một thứ linh đan gọi là “Trợ tình hoa”, giúp có nhiều sức khỏe để được hòa hợp vui say cùng Dương Quý Phi.

Huyền Tông tin dùng An Lộc Sơn cho làm chỉ huy lực lượng quân sự của triều đình. An Lộc Sơn là người Liễu Thành, gốc rợ Hồ.

Huyền Tông nhận An Lộc Sơn làm con nuôi. Dương Quý phi là mẹ nuôi An Lộc Sơn, tuy kém Lộc Sơn 16 tuổi. An Lộc Sơn và Dương Quý Phi tư tình với nhau.

Vì mâu thuẫn giữa Dương Quốc Trung và An Lộc Sơn khiến An Lộc Sơn bỏ trốn.

Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn, đem quân từ Ngư Dương  tiến về kinh đô Trường An. Năm sau, khi quân của An Lộc Sơn đánh tới  Trường An thì thái tử Lý Hanh tự lên ngôi ở núi Linh Vũ, tức là Đường Túc Tông và vọng tôn Đường Minh Hoàng làm Thái thượng hoàng. Tướng sĩ Huyền Tông không chống nỗi quân An Lộc Sơn. Huyền Tông và Dương Quý phi cùng binh lính bỏ kinh thành chạy vào đất Thục.

Ngày 14 tháng 7 năm 756 mọi người đến Mã Ngôi thì tướng sĩ không chịu đi nữa, vì lương thực đã hết, vì quân sĩ khổ nhọc, vì lòng căm phẫn với anh em họ Dương. Họ buộc vua phải thắt cổ Dương Quý Phi thì họ mới chịu khuông phò.

Binh sĩ tâu:

Quốc Trung mưu phản, không nên để Quý Phi hầu hạ ở bên bệ hạ nữa, xin bệ hạ vì quốc pháp mà cắt bỏ tình riêng.

Vua nói với Cao Lực Sĩ:

Quý Phi ở trong thâm cung, sao biết được Quốc Trung mưu phản?.

Cao Lực Sĩ nói:

Quý Phi quả thật vô tội, nhưng nay tướng sĩ đã giết Quốc Trung rồi, mà Quý Phi còn sống bên cạnh bệ hạ, tướng sĩ đâu có yên lòng? Xin bệ hạ suy xét kỹ lại. Tướng sĩ được yên lòng, tức bệ hạ được bình an.

Huyền Tông không còn cách nào, đành ban cho Quý phi một dải lụa trắng, cho Cao Lực Sĩ thắt cổ Quý Phi.  Năm ấy Dương Quý Phi 38 tuổi.

An Lộc Sơn chiếm được Trường An, ra lệnh cho quân lính đốt phá kinh đô, tàn sát dân chúng.

Ngọc Hoàn có sắc đẹp được ví là “tu hoa”, nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ, khép lá lại. Đó chỉ là cây trinh nữ.

Thi sĩ Bạch Cư Dị có bài “Trường Hận Ca” nổi tiếng kể về chuyện tình giữa Dương Quí phi với Đường Huyền Tông.

Bây giờ, người Tầu dựng tượng Dương Quí phi ở Tây An. Để làm gì? Bây giờ họ giàu có, muốn bắt chước người Mỹ, tôn thờ “thần tượng Sex”, như người Mỹ với Marylin Monroe?

Xét về mặt luân lý, một người từng làm vợ của cha, sau lại làm vợ của con, dù là vua, cũng không trọng luân lý hay sao?

“Thừa cơm rửng mở”, người Tầu ngày nay đúng là hạng người như cha ông chúng ta từng phê phán.

5)-Những người đàn bà khác làm “loạn triều chính”:

            a)-Trần Viên Viên:

Có thể kể tên một “Đại Hán gian” là Ngô Tam Quế. Quế được vua nhà Minh cử làm tướng trấn giữ Sơn Hải Quan, ranh giới giữa Trung Nguyên với Mãn Châu. Bấy giờ Mãn Châu đã mạnh, muốn xâm lăng nước Tầu nhưng không qua được cửa ải do Ngô Tam Quế trấn giữ. Ngô Tam Quế có người thiếp yêu tên là Trần Viên Viên, để lại ở Trường An.

Khi Lý Tự Thành lật đổ nhà Minh, Ngô Tam Quế dự tính bỏ nhà Minh theo về với Lý Tự Thành. Bất đồ Quế nghe tin Lý Tự Thành (hay tướng của Thành?) cướp mất người thiếp yêu của mình, y bèn hợp mưu với quân Mãn Châu, mở cửa Sơn Hải Quan cho quân Thanh tràn vào. Nhà Minh dứt nghiệp, người Mãn Thanh làm vua ở Trung nguyên, triều đại kéo dài 3 trăm năm.

b)-Võ Tắc Thiên con nhà quí tộc, quê ở Sơn Tây (nước Tầu), 14 tuổi được đưa vào cung, một trong 9 người thiếp của vua. Ngay lúc đó, Võ đã tư tình với thái tử. Vợ của cha mà là nhân tình của con! Khi vua Đường Thái Tông băng hà, đúng ra, Võ phải vào chùa. Nhưng thái tử Lý Trị lên ngôi, ông vua mới nầy lại đưa bà vào cung. Điều thương luân bại lý là vợ vua cha trở thành vợ vua con, sau Võ thị được phong làm hoàng hậu.

            Khi vua Cao Tông già yếu, thái tử Lý Cường làm giám quốc, nhưng mọi việc thâu tóm vào tay Võ. Lý Hoằng muốn chống lại mẹ, liền bị đầu độc chết. Vì tham quyền lực mà mẹ giết con.

            Trung Tông lên ngôi, chỉ làm vua, quyền hành trong tay Võ Tắc Thiên. Võ hậu cho xây dựng nhiều cung điện, lớn nhất là tòa Minh Đường cao ba trăm trượng, sau đổi là Vạn Tượng Thần Cung. Năm 690, Võ Tắc Thiên lên ngôi vua, dung nhiều mưu mô xảo quyệt, hung bạo. Khi về già, Võ hậu sủng ái hai anh em họ Trương là hai kẻ bất tài nhưng đẹp trai.

            Tháng 2 năm 705, tể tướng Trương Giản Chi giết hai anh em họ Trương, buộc Võ Tắc Thiên, bấy giờ đã 80 tuổi, truyền ngôi cho thái tử. Sau khi chết, bia mộ của bà để trống hoàn toàn, (vô tự bi) ý là để đời sau phán xét.

c)-Từ Hi Thái Hậu là người không lên ngôi như Võ Tắc Thiên, nhưng quyền lực của bà còn hơn cả vua, độc ác và gian xảo cũng không kém chi! Bà nắm quyền lực trong tay gần 50 năm.

            Từ Hi thuộc dòng quan lại nhà Thanh, là phi tần của vua Hàm Phong. Con trai của bà là con trai duy nhất của nhà vua. Khi vua Hàm Phong sức khỏe kém đi nhiều, bà bắt đầu tham gia chính sự.

            Vua Hàm Phong băng hà (1861), để di chiếu cho hai bà thái hậu và triều đình hỗ trợ hoàng đế trị nước vì vua còn nhỏ tuổi. Không theo di chiếu, Từ Hi mưu với các quan đại thần, bỏ tù và giết hại các đại thần được vua Hàm Phong ủy nhiệm trong di chiếu. Việc nầy được coi như cuộc đảo chính năm Tân Dậu. Từ đó, mỗi khi thiết triều Từ Hi Thái Hậu ngồi sau rèm “thính chính”.

            Trong suốt thời kỳ Từ Hi nắm quyền, hai ông vua Đồng Trị và Quang Tự là nạn nhân của bà, mặc dù cả hai ông đều chống lại Thái Hậu nhưng không làm gì được. Việc làm của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu không giúp vua Quang Tự chống lại được Thái Hậu, nhưng phổ biến được những tư tưởng Dân Chủ, Tự do của người Âu Mỹ cho người Tầu.

            Trong thời gian nầy, nước Tầu có nhiều cuộc nổi loạn, đáng kể nhất là “Thái Bình Thiên Quốc” và “Nghĩa Hòa Đoàn”.

            Ngoài thì có “Nha Phiến Chiến Tranh” đánh nhau với người Anh, “Bát Quốc Liên Minh” đánh vào tận Bắc Kinh, khiến Từ Hi cùng nhà vua chạy trốn. “Trung Nhật Chiến tranh”, một cuộc chiến làm cho người Tầu thức tỉnh.

            Bà qua đời năm 1908, lịch sử coi là người chịu trách nhiệm về sự sụp đổ của nhà Thanh.

            d)- Ba người đàn bà họ Tống, tuy nổi tiếng thời Trung Hoa Dân Quốc nhưng không đến nỗi như những người đàn bà trước và sau họ. Ba bà đó thường được người Tầu gọi là “Tống Thị Tam Tỉ Muội”, là những người có chồng nổi tiếng trong lịch sử nước Tầu hồi đầu thế kỷ 20.

            Đặc điểm của mỗi người là:

            –Tống Ái linh, “người yêu tiền”. Chồng là Khổng Tường Hi, người giàu nhất nước Tầu hồi bấy giờ.

            –Tống Mỹ Linh, “người yêu quyền”, trẻ nhất trong ba chị em, là vợ của Thống chế Tưởng Giới Thạch.

            –Tống Khánh Linh, “người yêu nước”. Chồng là Tôn Văn, Tổng thống đầu tiên của nước Tầu.

            Anh của ba bà là Tống Giáo Nhân, bị ám sát trước “Cách Mạng Tân Hợi”, thân phụ là Tống Gia Thụ, một mục sư, giàu có, kinh doanh trong ngành ngân hàng và ấn loát.

            e)-Dưới chế độ Cộng Sản Tầu:

            Thời kỳ “Cách Mạng Vô Sản”, nhiều bà rất nổi tiếng, thường can dự vào công việc của chồng. Đó là:

            –Diệp Quần, vợ Lâm Bưu. Các “ông lớn Tầu Cộng”, về tình ái, bê bối không khác chi “ông lớn Việt Cộng”, hay “ông lớn Việt Cộng” bắt chước “ông lớn Tầu Cộng”).

Người tình đầu tiên của Lâm Bưu là Lục Nhược Băng, trong khi đó, ông theo gia đình, đã hứa hôn với Uông Tịnh Nghi. Người vợ chính thức đầu tiên là Lưu Tân Dân (Trương Mai), được mệnh danh là “Bông Hoa của Thiểm Bắc”. Người đàn bà được Lâm Bưu yêu nhất là Tôn Duy Thế, con nuôi của Chu Ân Lai. Khi Lâm Bưu rời Nga về Tầu, Tôn Duy Thế không chịu về cùng Lâm Bưu. Diệp Quần (Diệp Tịnh Nghi), là người vợ thứ hai của Lâm Bưu. Bà là người chỉ huy chồng, “Lệnh ông thua cồng bà”.

            –Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Lai. Bà là người giới thiệu và chủ hôn đám cưới Hồ Chí Minh kết hôn với bà vợ Tầu Tăng Tuyết Minh.

Lấy nhau chưa được bao lâu, Hồ Chí Minh, vì nhiệm vụ Cộng Sản, bỏ đi biệt. Sau năm 1955, khi Hồ Chí Minh trở về cầm quyền ở Bắc Việt Nam, Tăng Tuyết Minh, từ bên Tầu muốn qua VN chung sống với Hồ. Hồ Chí Minh không chịu, bởi vì ông chê “cỏ già” Tăng Tuyết Minh mà chịu “cỏ non” Nông Thị Xuân, mặc dù Hồ lúc đó đã ở tuổi 65.

            –Vương Quang M, vợ Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch nước, một trong những người phụ nữ có ảnh hưởng lớn nhất ở bên Tầu của thế kỷ 20. Bà được mọi người biết tới với cái tên “Nữ hoàng toán học”, “thạc sỹ vật lý nguyên tử đầu tiên của Trung Quốc” hay “Đệ nhất phu nhân được ngưỡng mộ nhất”. Bà cùng chồng là Lâm Bưu chống lại phe nhóm Mao Trạch Đông.

            Trong cái gọi là “Cách mạng Văn Hóa”, “Hồng Vệ Binh” vũ khí Mao Trạch Đông và Giang Thanh dùng để triệt hạ các đối thủ: Lưu Thiếu Kỳ bị đấu tố, bị tù cho đến chết, bà cũng bị Hồng Vệ Binh đấu tố như chồng suốt 6 giờ đồng hồ, đến khi bị ngất xỉu.

            Mao Trạch Đông có những bốn bà:

            – Thứ nhất là La th – 1889-1910 – (không rõ tên), do cha mẹ cưới cho, hồi Mao còn là học trò. Tài liệu lịch sử Tầu Cọng nói hai người “chưa từng sống chung”. (Xem bộ sách 4 cuốn: “Mao Trạch Đông, tấn thảm kịch của đảng Cộng Sản Trung Quốc”.)

            -Thứ hai là Dương Khai Tu, (1901-1930), con gái của giáo sư Dương Xương Tế, Quản thủ Thư viện Bắc Kinh, nơi Mao được ông giáo sư nầy hướng dẫn đọc và nghiên cứu nhiều sách vở, yêu mến và gả con gái cho. Dương Khai Tuệ bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa giết năm 1930.

            -Thứ ba là Hà Tử Trân, (1910-1984), không nổi tiếng lắm vì bị bệnh thần kinh.

            -Thứ Tư là Giang Thanh (1938-1991). Giang Thanh sinh tháng 3 năm 1915 tại Chư Thành, Sơn Đông, con một người thợ mộc. Sau khi theo học tại Đại học Thanh Đảo, bà trở thành diễn viên sân khấu và điện ảnh ở Thượng Hải, nghệ danh Lam Bình. Năm 1938, Giang Thanh gặp Mao Trạch Đông ở Diên An, hai người kết hôn.

            Sau khi làm vợ Mao, thường gọi là “vợ thứ ba”, nếu không kể La thị, suốt trong thời kỳ Mao cầm quyền, Giang Thanh là trợ thủ đắc lực trong cái gọi là “Cách Mạng Văn Hóa”, thực chất để loại các phần tử bị tình nghi không trung thành hay chống Mao, đặc biệt các nhân vật nổi tiếng, phần nhiều bị giết là Nguyên soái Lâm Bưu, Nguyên soái Bành Chân, Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình.

            Gần cuối đời, Mao không còn tin tưởng Giang Thanh, muốn Hoa Quốc Phong kế vị. Giang Thanh cùng ba người nữa chống lại. Ba người đó cùng Giang Thanh, thường đưọc gọi là “Bè lũ bốn tên” (Tứ Nhân bang), gồm có: Giang Thanh, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn.

            Lúc Mao Trạch Đông hấp hối, việc tranh giành quyền lực xảy ra giữa “Tứ Nhân Bang” và nhóm của Đặng Tiểu Bình, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh. Khi Chu Ân Lai mất năm 1976, Hoa Quốc Phong được cử giữ chức Thủ Tướng Quốc Vụ viện.

            Năm 1981, “Tứ Nhân Bang” bị bắt đưa ra xét xử trước tòa với tội danh chống Đảng.

            f)-Bây giờ thì sao?

            Vụ Bạc Hy Lai là bề mặt của việc tranh giành trong giới chóp bu của Cộng Sản Tầu hiện nay. Vợ ông, Cổ Khai Lai đang chịu án tử hình “giả” về việc giết doanh nhân người Anh. Người nầy cũng là tình nhân của bà trong khi bà đã có chồng.

            Người ta không nghĩ tấn tuồng nầy đã hạ màn. Bên cạnh các nhân vật nầy, bà Lưu Diên Đông, Ủy viên bộ Chính trị càng ngày càng trở nên một nhân vật quan trọng, làm nảy sinh mâu thuẫn giữa những phụ nữ nầy với Bành Lệ Viên, vợ của Tập Cận Bình. Người đàn bà nầy càng ngày càng nổi tiếng.

            Giới phụ nữ thống trị nước Tầu càng lúc càng mạnh, không mấy khi họ chịu ngồi yên trong vị thế của mình. Tham vọng quyền lực của người đàn bà thường cao và mạnh hơn người đàn ông. Lịch sử phương Tây cũng y như thế. Tham vọng quyền lực của Cleopatra là một thí dụ.

Nhận xét chung

            Có hai điều nên nói về nước Tầu, người Tầu.

            Một là, kể từ khi Tần Thủy Hoàng “tóm thâu lục quốc” lập nên Đế quốc Trung Hoa đầu tiên, năm 246 trước CN, đến nay là hơn hai ngàn hai trăm năm. Trong suốt thời gian nầy, không phải bao giờ người Hán cũng cai trị người Hán. Ngoại nhân – không thuộc Hán tộc -, cai trị người Hán cũng không ít ỏi gì.

            Ví dụ: Nhà Đường, như có nói ở trên, nguồn gốc thuộc giống Hồi, triều đại kéo dài từ năm 618 đến 907, là gần 3 trăm năm. Nhà Nguyên, thuộc giống Mông Cổ, cai trị Trung Nguyên từ năm 1271 đến 1368, là gần một trăm năm. Nhà Thanh, thuộc giống Mãn Châu, cai trị từ năm 1644 đến cách mạng Tân Hợi (1911) cũng khoảng 3 trăm năm. Ba triều đại nầy cộng lại là một khoảng thời gian dài 7 trăm năm. Tính ra, đế quốc Trung Hoa dài hơn hai ngàn năm, bị ngoại tộc cai trị 7 trăm năm, mà chính sách cai trị tàn ác, người Hán phải cúi đầu chịu nhục, thì những “Nam tử Hán” đâu có vẻ vang gì, đâu có đáng chi để tự hào.

            Ấy là chưa kể, mấy bả Tầu làm nghiêng nước đổ thành, cai trị tàn ác, loạn luân, bất kể đạo lý thì người Hán chẳng có gì để khoe khoang cả.

            Người Tầu, chẳng qua được cái số đông mà hiếp đáp các dân tộc khác ít dân hơn, chớ khi họ ở dưới “cơ” (queue) người khác thì nhủn lắm, vâng vâng, dạ dạ, cúi thấp đầu, “xuân thu nhị kỳ” để mua chuộc người quyền thế.

            Hai là, nhìn chung, không có dân tộc nào chịu mình là những người hèn yếu. Ngày nay, dù có tàn mạt như thế nào, họ cũng ca ngợi rằng tổ tiên họ ngày xưa văn minh, tiến bộ, thông minh, tài ba hơn các dân tộc cùng thời. Người Ai Cập ngày nay tự hào về những Kim Tự Tháp; người Miên, tự hào về Đế Thiên Đế thích của họ vậy.

            Thật ra, một dân tộc có được điều gì để tự tin, tự hào… là do ở chế độ cai trị, giáo dục hơn là do ở truyền thống.

            Dân tộc Nam Bắc Triều Tiên bây giờ chẳng hạn. Tổ tiên của họ, Nam hay Bắc cũng đều là môt tổ tiên cả. Họ cũng có những trang sử hào hùng, chống Tầu, chống Nhựt, qua đó không ít công trạng của dòng dõi Lý Long Tường, là tôn thất nhà Lý nước ta, chạy loạn mà qua định cư bên đó.

            Vậy mà bây giờ, chế độ cai trị miền Nam, nền giáo dục Nam Triều Tiên đã đào tạo nhiều người tài giỏi, tư cách, đạo đức, chí khí thật đáng nễ trọng. Trong khi đó, nhìn lên phía Bắc, cả một “dân tộc” đều khóc thảm thiết như nhau trước đám tang Kim Chính Nhứt, đều vỗ tay to và đều như nhau khi Kim Ủn Ỉn đọc diễn văn. Người ta tự hỏi, bao giờ thì người dân Bắc Triều Tiên thoát ra khỏi cảnh “khóc cười” đồng loạt như vậy.

            Nhìn lại trong nước, người ta thấy gì?

            Một chế độ Cộng Sản Hà Nội cai trị như vậy, một nền giáo dục như vậy, liệu con cháu chúng ta ở trong nước, mai đây sẽ trở nên cái giống gì?

            Nghĩ không lo buồn sao được!!!

hoànglonghải

(Bài tới, số 4: Người Tầu, “được làm vua, thua làm giặc!”

(1)-Lúc Nguyễn Giản Thanh còn đi học, thầy học là Đàm Thận Huy thấy học trò sắp ra về thì trời đổ mưa to, học trò không về được, thầy bèn ra vế đối để thử tài học trò:

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách

(Mưa không có then khóa mà có thể giữ được khách).

Nguyễn Giản Thanh liền đối lại là:

Sắc bất ba đào dị nịch nhân

(sắc đẹp của phụ nữ, không phải là sóng, nhưng dễ nhận chìm người).

Thầy Đàm Thận Huy nói:

Câu đối này hay, chỉnh, văn khí này có thể đậu Trạng nguyên, nhưng về sau coi chừng việc sắc dục làm hại sự nghiệp.

Tương truyền, Nguyễn Giản Thanh chỉ đậu bảng nhãn còn Hứa Tam Tĩnh (làng Ngọt) đậu trạng nguyên. Khi triều kiến, các tân khoa phải làm một bài phú dâng vua và hoàng thái hậu. Hoàng thái hậu thấy Hứa Tam Tỉnh dung mạo xấu xí thì không ưng lắm, trong khi đó Nguyễn Giản Thanh mặt mũi khôi ngô thanh tú nên bà muốn nhắc ông lên làm trạng nguyên. Vì chiều lòng mẹ vua đánh giá bài phú của Nguyễn Giản Thanh cao hơn, cho ông đậu trạng nguyên. Do câu chuyện nầy, người ta có câu Trạng Me đè trạng Ngọt

(2)-Nét mày xanh từ cái lá cũng ghen,

Câu khiển hứng đánh chìm dòng nước chảy,

Làn môi thắm đến con chim còn ghét,

Giấc thừa ân nhắc nổi bóng trăng tà.

Chú thích:

Cái lá cũng ghen: Đời xưa một người cung nữ để một bài thơ trên ngọc lá, thả trên dòng nước. Một người đàn ông bắt được bài thơ ấy, họa một bài thơ khác trên lá rồi thả đi. Người cung nhân ấy lại bắt được bài thơ ấy. Sau hai người kết duyên cùng nhau.

Câu khiển hứng: Tiêu buồn. Thơ khiển hứng là thơ làm trong khi buồn nhớ ai.

Con chim còn ghét: Gần sáng có chim kêu làm tỉnh giấc mộng.

Giấc thừa ân: Giấc chiêm bao được gần vua.

Cái lá ghen với nét mày xanh, cho nên nó làm chìm bài thơ thả trên dòng nước –  Con chim ghét với làn môi thắm nên nó đánh thức mình giậy, làm không trọn giấc chiêm bao được gần vua.

Cổ tích:

Xưa có cung nữ, buồn tình làm bài thơ viết vào cái lá thả xuống dòng nước trong cung cấm. Có anh học trò nhặt được cái lá ấy, lại viết bài thơ trả lời. Cung nữ bắt được. Về sau, một số cung nữ được cho về quê, có cung nữ viết thơ vào cái lá nói trên. Cung nữ lại gạp người học trò, sau hai người kết duyên.

            Câu thơ ở đây ý nói vì cung nữ đẹp, chiếc lá cũng ghen, thay vì trôi theo dòng nước, chiếc lá chìm xuống đáy.

2

(3)-Tại một làng quê nhỏ vùng đồng bằng Bắc bộ (làng Diêm Tỉnh, xã Thụy Dũng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Việt Nam) cũng có một Vương Chiêu Quân đền thờ hiện còn, thần tích còn ghi rõ.

2

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: