Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 24) Cơm Tù

1Cây Cải trời

                Ở “tù Việt Cộng” mà nói “Cơm Tù” là trật lất, bởi vì Việt Cộng có nuôi tù bằng cơm bao giờ đâu! Cũng không thể gọi Việt Cộng nuôi tù. Chính là tù nuôi tù. Tù trồng khoai mì (sắn) nuôi tù; tù trồng rau nuôi tù… và nuôi cả Việt Cộng nữa.

                Việt Cộng vô ơn và tham lam. Không những bọn chúng không nhớ ơn tù trồng tỉa nuôi chúng, mà chúng còn giành lấy cái ngon, cái tốt. Cái dở, cái siu thúi, hư mốc thì đem cho tù ăn.

                Trong trại tù, con chi ăn được là người tù ăn, rau trái chi ăn được là người tù ăn, dù cái ấy là người tù nuôi trồng hay thú hoang, cây lá mọc hoang.

                Có một thứ cải không ăn được, không ai dám ăn!

                Đó là cây chi?

                Khi tôi còn ở “Đội Mộc”, đội mộc gồm nhiều tù nhân gốc miền sông nước Cửu Long, nói nôm na là gốc “người nhà quê” nên so với dân thành phố như chúng tôi, lớn lên quanh quẩn trên những con phố, đại lộ, biết gì về rau trái mọc trong vườn, trong đồng, nên một hôm tôi ra khoảng sân trống giữa đội mộc và xưởng cưa, hái mấy cây cải, định đem về luộc ăn chơi. Nói thật lòng, không phải “ăn chơi”, mà “ăn no”, “độn” thêm rau vào bụng cho no, như mẹ tôi thường nói theo câu tục ngữ, “Đói ăn rau, đau uống thuốc”.

                Thấy tôi cầm mấy cây cải trong tay, cựu Đại úy Nguyễn Tấn Trí, ông nầy gốc là lính của ông Năm Lửa, nói:

                -“Cây “cải trời”, không ăn được đâu!

                Ông Trịnh Xuân Chính, đúng là “chuyên viên hạng hai” của Văn phòng Phụ Tá Ngoại Vụ Tổng Thống, chẳng biết mô tê gì cây lá miền quê, “cải” lại, đúng “lý thuyết”:

                -“Đã gọi là cải sao không ăn được?

                Ông Trí thực tế hơn:

                -“Không ai ăn được nên không ăn được.”

                Tôi cũng mù tịt về hoa lá “vùng nước nổi” bèn hỏi:

                -“Cây nầy là cây cải chi?”

                -“Cây cải trời.” Ông Trí nói lại.

                Ông Cựu Đại úy Lương Văn Lịch, nhìn vấn đề theo “lăng kính chính trị”, cười nói:

                -“Mấy cha nầy cãi nhau vô ích. Cây “cải trời” là “cây Cộng Sản”. Chỉ có Việt Cộng mới cãi lại Trời. Mấy ông ăn vô là thành Việt Cộng. Bộ ưng thành Việt Cộng lắm hả?”

                Tù mà thành Việt Cộng thì mau được tha. Ai cũng muốn được tha, nhưng không ai muốn thành Việt Cộng. “Đời là thế đấy!”

                Tôi đem mấy cây cải bỏ vô đống mạt cưa, vừa cười vừa nói:

                -“Cho nó vô mạt cưa. “Mạt cưa mướp đắng gặp nhau là xứng đôi.” Đấy là tôi nói theo ý một câu Kiều. (Tình cờ chẳng hẹn mà nên
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường. Chung lưng mở một ngôi hàng. Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề)

Nấm Chỉ

                Tôi và anh Lã Trung Tâm đang ngồi ăn chiều. Trời cuối hè, cái nóng bớt đi, mấy hôm nay buổi tối có mưa lai rai. Trời âm u và có nhiều sương. Dù trời thế nào, cũng lo ăn cho mau xong, còn rửa chén bát và tập họp “vào chuồng”, tức là Công an điểm danh, cho vào phòng và đóng cửa lại.

                Bỗng anh Tâm nói:

                -“Tụi thằng Đông thiệt ghê! Không biết nấm chi mà nó dám ăn!

                Tôi nói đùa:

                -“Nấm chỉ đó anh!”

                Anh Lã Trung Tâm nôn nóng:

                -“Răng” mi biết nấm chỉ. Nấm đó ăn được?” (Ăn chung với tôi, anh thường bắt chước tôi dùng: mô tê, răng rứa để chọc quê tôi.).

                -“Tui nghe Ngọc Xùi nói. Không biết ai nói với nó là nấm chỉ.” Tôi trả lời.

                -“Tao chưa nghe ai nói cái thứ nấm chỉ nầy bao giờ. Nấm mối, nấm rơm, nấm Đông-Cô… Làm chi có cái thứ nấm chỉ mà ăn được.”

                Tôi cười:

                -“Anh đúng là “ông già ham vui” mà chẳng biết gì cả. Bọn nó nói, ăn xong, cả bọn thằng Đông kéo nhau lên Trạm Xá xin thuốc. Bác sĩ Đôn hỏi đau chi? Bọn nó chỉ vô họng. “Á khẩu” hết rồi, không nói được, nên đưa tay chỉ vào họng. Không gọi là “nấm chỉ” thì gọi là chi?

                -“Mày!… “đâm hông không?”

                -“Không phải tui. “Không phải tui mấy ông ơi! Người ta mới cho tiền để tui cưới vợ. Tụi nó nói, không phải tui nói ông Tâm ơi!”

                (“Không phải tui mấy ông ơi.” là câu chúng tôi thường nói nhại theo Nguyễn Văn Trỗi, hôm y bị đem xử bắn.)

Sự việc là, hôm ấy phá rừng về, Dương Tiến Đông và một đám khoảng bốn năm người, mỗi người ôm một cái mũ hay nón đựng đầy nấm. Bọn họ kéo nhau ra hồ nước rửa sạch nấm, nhóm lửa để luộc, lấy muối ớt làm nước chấm. Sau đó, mấy chả đem ra ăn, hì hà hì hụp khen ngon.

Có người hỏi:

-“Biết nấm có ăn được không, mấy ông ăn với nhau.”

-“Được chớ! Được chớ. Ngon lắm!” Đông nói.

-“Sao ông biết ăn được?” Có người hỏi.

-“Hễ nai ăn được là mình ăn được!” Đông trả lời.

-“Làm sao ông thấy nai đang ăn?”

-“Có dấu chân nai. Chỗ nấm có nhiều dấu chân nai.” Đông trả lời.

-“Thôi đi! Để chúng nó ăn. Ông hỏi khắc hoài, nổi sùng, nó cự cho bây giờ.”

Thế là họ bỏ đi.

Đêm hôm đó, không thấy ai rên la gì. Ai nấy ngủ ngon.

Đúng là trời không hại người ngay bao giờ!

Thuốc Suyễn

Nhiều người từng bị suyễn khi còn nhỏ, như ông Trịnh Xuân Chính chẳng hạn.

Tới năm mười tuổi, ông Chính hết bệnh suyễn. Người ta bảo là khi đã lớn hơn chút ít, nhờ ăn uống đầy đủ, nên người ta không còn bị suyễn.

Tới khi vô trại tù, ăn uống kham khổ, thiếu thốn, chất kháng sinh yếu đi, bệnh suyễn lại tái phát.

Mỗi lần Chính lên cơn suyễn, trông tôi nghiệp lắm. Ngồi tựa lưng vào tường, lót hai ba cái gối, người anh gục xuống, tóc rủ rượi, mắt nhắm nghiền, thở khò khè, như có ai lấy tay chận ở cổ họng anh, không cho anh ta thở.

Huỳnh Hà Đông ngồi trước mặt Chính, chờ Chính biểu gì làm nấy. Chính đưa tay chỉ phía trái, Đông không hiểu Chính muốn gì nên chưa kịp làm chi thì Chính đã nạt: “Bơm. Bơm!” Đông hiểu là lấy ống thuốc bơm để thở. Đông vội choài người tới phía đó, tay chụp ống bơm, mở nắp đưa ngay cho Chính. Chính trợn mắt nhìn Đông, tuồng như chê Đông chậm chạp.

Một lúc, cơn suyễn nhẹ bớt, Chính thở được, nhẹ nhàng. Đông đỡ Chính nằm xuống, lấy gối lót đầu, lấy cái quạt giấy quạt nhẹ cho Chính.

Chính dần dần đi vào giấc ngủ êm.

Bấy giờ Đông mới trụt xuống tầng dưới, lấy nước uống. Anh Chung Văn Nghiêm vội đưa cho Đông chén trà nóng. Anh Nghiêm nói:

-“Nước nhì đó! Ngon lắm.”

Trà Đỗ Hữu chính hiệu, nước thứ hai mới thật là ngon.

Hớp một hớp trà xong, Đông cười:

-“Ổng làm tui khiếp luôn. Không nói được, ông đưa tay chỉ. Tui biết cái gì mà lấy. Chưa kịp, ổng nạt cho một tiếng.” Nói xong, Đông cười hề hề.

Khi chúng tôi bị chuyển ra trại ngoài, trại mới xây bên chân “Đồi Phượng Vĩ” thì tình trạng thăm nuôi đã tệ lắm. Ở tù đã hơn năm năm rồi, lâu quá, gia đình cũng đuối sức. Thức ăn đã ít đi nhiều mà thuốc men lại thiếu lắm, có thứ thuốc không có. Gia đình dù có tiền cũng tìm mua chưa hẳn đã có, chưa nói là thuốc Tây thì “bán dưới đất mà giá thì trên Trời.”

Trong hoàn cảnh đó, cái ăn đã “tự biên tự diễn”, đào trộm củ khoai củ sắn, nắm lá nắm rau, mà thuốc thì tự tìm lấy nơi đồng hoang cỏ dại.

Sau Đồi Phượng Vĩ có con suối ngầm.

Có lẽ nước mưa thấm vào ngọn đồi, chảy ra thành một con suối phía sau đồi. Nước suối từ chân đồi chảy ra, khi nhiều khi ít, tùy theo “hai mùa mưa nắng”, nhưng dòng suối ngầm, nước không bao giờ dứt.

Nhờ có nước, hai bên bờ suối, rau sam mọc nhanh và rậm. Đó là món “cải thiện” trời cho của anh em tù chúng tôi. Ngày nào chúng tôi cũng xuống suối hái rau. Hôm trước mới cắt rau, hôm sau rau đã mọc xanh đầy. Món rau “cải thiện” của chúng tôi không bao giờ cạn kiệt.

Những ngày nắng hạn, suối nầy cũng là nơi tập trung của các loài ếch nhái, chồn cáo. Chồn cáo thì chúng tôi chưa bắt được, nhưng ếch nhái, cũng có người “vồ được”, chặt đầu, lột da, nướng ăn với muối hay chiên xào với rau, nếu anh nào có chút mỡ, tiêu, hành.

Cũng lắm khi có mấy chú rắn tìm về đây. Rắng cần nước hay vì nơi nầy có ếch nhái? Điều đó không quan trọng! Quan trọng là rắn độc hay không độc, hễ bị chúng tôi phát hiện thì “mày chạy đằng nào!” như lời Đông nói, mỗi khi anh ta bắt được rắn. Có lần anh ta bắt một lần được những hai con. Không hiểu căn cớ vì sao, Đông phát hiện hai con rắn, con nầy nuốt con kia, nửa chừng hai con rắn nằm lại đó, chờ Đông đến bắt lột vỏ, nướng ăn.

Mỗi khi bắt được một con rắn, như một thông lệ, sau khi đâp đầu rắn, lột da, người ta kêu:

-“Trắc đâu! Trắc đâu!”

Con rắn vừa bị lột vỏ, bộ lòng hiện ra, tái tim còn đập. Người ta moi ngay cái mật rắn, đưa cho Trắc. Trắc cầm cái mật rắn, ngữa cổ, bỏ vào miệng, nuốt đánh ực môt cái. Xong, Trắc đưa tay vuốt ngực, nói: “Khỏe quá! Khỏe quá!”

Khỏe gì đâu! Mật rắn đâu phải là thuốc tiên. Trắc bị suyễn, nghe ai nói đâu đó, bảo rằng nuốt mật rắn thì hết ngay. Vì vậy, một khi bắt được một con rắn, anh em thường lấy cái mật mà cho Trắc. Nhờ vậy, Trắc ít bị lên cơn suyễn như trước kia. Đó là món thuốc suyễn kỳ diệu!

Có lẽ ông Hoa Đà tái thế mà giúp Trắc đó chăng?!

Tên Trộm Bầu

                Đội Rau Xanh có một khoảnh đất phía sau trại, từ hàng rào dài tới bìa rừng – Chỗ nầy ông Cựu Thiếu Úy Châu Tử, Đội trưởng Đội Vệ Sinh, có cái hầm phân người. Đội Vệ Sinh đổ phân xuống đó hằng ngày, chờ khi phân đã “hoai”, có khi chưa kịp “hoai” cũng moi lên, đem bón vào ruộng rau, cho rau mau xanh, mà làm giàu “xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa.”

                Mấy chú Miên Đội Rau Xanh thường “phát huy sáng kiến”. Thường mỗi “đội viên” có một khoảnh đất nhỏ cho riêng mình. Sau khi hoàn tất công việc của đội, họ lo cho khoảnh đất riêng. Họ nhờ gia đình đem lên cho ít hột giống để họ tự trồng thuốc lá mà hút, xà lách, đậu bắp mà ăn. Gia đình khỏi “tiếp tế”. Họ làm giàn trồng một ít bí, bầu…

                Sau mùa xuân, cây trái ra hoa xong, bầu bí bắt đầu có trái, trông ngon mắt.

                Buổi tối, đội viên về trại. Sáng hôm sau trở ra, họ bị mất một ít trái bầu, trái bí. Có hai thành phần thủ phạm trộm bầu bí: Một là mấy cán bộ Công An có gia đình, hái đem về nhà. Hai là mấy chú “dộc” từ trong rừng ra.

                “Dộc” là một loài “hầu”, con cháu ông Tề. Ông Tề lông vàng, vì ông Tề sinh trưởng ở Châu Á, còn mấy chú “dộc”, có nguồn gốc “Châu Phi đen”.

                Một hôm, mấy chú Miên làm bẫy sập bắt được một chú “dộc” đem về trại. Nó bị trói vào cột nhà. Mặt mũi nó là khỉ, nhưng chân tay dài như một đứa con nít hai ba tuổi thiếu ăn. Thấy người tới, con “dộc” sợ hãi nhìn mọi người, nước mát chảy xuống hai dòng theo khóe mắt. Ai cũng thấy tội nghiệp cho nó.

                Trong hoàn cảnh ăn uống đầy đủ, chưa hẳn người ta tha mạng cho nó, huống chi trong cảnh tù. Thịt con “dộc” dù có dai, không thơm, dù thấy nó tội nghiêp. Giết nó rồi, lông đen cạo sạch, da trắng ra, nó nằm dài trên mặt đất như một đứa con nít. Thịt con “dộc” được xào nấu, luộc, kho để mấy chú Miên chén một bữa ngon lành.

Thịt là nhục

                Khi ở Trại Suối Máu, nhờ gia đình thăm nuôi, có người nuôi gà, nuôi vịt. Nhờ vậy nên người ta không còn ăn những con ốc trơi, ốc ma bắt được ngoài hàng rào.

                Khi chuyển trại đợt đầu, – sau nầy mới biết là đi Phước Long – tham gia cái gọi là “Bộ đội làm nhiệm vụ kinh tế” là chương trình do Võ Nguyên Giáp đề ra – những tù cải tạo ra đi đều được đem theo gà vịt sống đang nuôi. Đợt hai, – sau nầy biết là bị đày ra Bắc – tù không được đem bất cứ cái gì theo, ngoài cái Bộ Đội ra lệnh là “bồng gọn nhẹ”. Thế mà anh bạn Huỳnh Văn Khánh của tôi cố đem theo con vịt anh đang nuôi. Khánh dấu con vịt sống vào cái bị bàng, nhét vô ba-lô. Có lẽ con vịt chết ngộp khi mới xuống tầu ở Tân Cảng.

                Trước khi chúng tôi chuyển trại về Xuân Lộc, Bùi Xuân Toàn với Đào Sơn Bá làm thịt một con mèo Toàn đang nuôi. Không biết do đâu Toàn có con mèo con để nuôi, nay mèo đã lớn, làm thịt được rồi.

                Có người nói:

                -“Đừng ăn thịt mèo. Mèo xui lắm.”

                -“Xui gì mà xui. Dị đoan. Thịt mèo ngon lắm.”

Giết mèo xong, Toàn và Bá đem mèo ra giếng cạo lông, mổ bụng, làm thịt. Sau đó, họ đốt lửa nấu thịt mèo.

Bá nói:

-“Thịt mèo ngon thiệt, còn hơn thịt bê.”

Có người nói mỉa:

-“Mèo mà cũng đem làm thịt ăn.”

Tôi nói:

-“Con chó có nghĩa với chủ. Chủ cũng làm thịt chó của mình mà ăn, nói chi mèo.”

Có người lại cười:

-“Thịt là nhục. Ăn miếng thịt thì không nhục!”

Ấy là người ta “chơi chữ” đấy.

Con Bơ

                Con kiến dương hình dạng như con bọ hung, chỉ khác là hai cái sừng nhọn hơn, hình dạng như sừng nai. Hôm đội tôi được lệnh dọn đất phía sau Đồi Phượng Vĩ, để lấy thêm đất trồng, phải bứng mấy cái gốc cây bị đốn đã lâu ngày. Gốc và rễ mục đi một phần.

                Khi chặt một cái rễ lớn, rễ toác ra, Đông phát hiện trong rễ có một con sùng, trắng và to hơn ngón tay cái một chút. Cầm con sùng trong tay, Đông nói:

                -“Con sùng. Mình có nhiều mỡ, trông như bơ.”

                Nói thế rồi Đông thổi cho bay một chút đất còn dính trên mình con sùng, bỏ vào miệng nhai, tấm tắt khen:

                -“Béo! Béo lắm. Mỡ nó như bơ.”

                Trắc nói:

                -“Sùng chớ bơ gì. Con sùng mà cũng ăn.”

                -“Mày ăn mật rắn trị bệnh. Tao ăn con bơ cần chất béo. Có gì đâu!”

                Tôi nói:

                -“Nó con trùng của con bọ hung đấy! Ai lại ăn bọ hung.”

                -“Đâu phải bọ hung. Anh “xuyên tạc” không. Nó là con sùng của con kiến dương.”

                Tôi nói đùa, qua câu đối của Cống Quỳnh ngày xưa:

                -“Trời sinh ông Tú Cát, Đất nứt con bọ hung.”

                Ngọc xùi nói:

                -“Mai mốt “mệ Hải” moi trong đống phân bò bắt con bọ hung cho thằng Đông coi.”

                Tôi cười:

                -“Ai hơi đâu mà làm, chọc Đông chơi!”

                Mấy ngày sau, trong khi bứng gốc cây, hễ gặp con sùng nào là người ta gọi to: “Đông ơi! Con bơ của ông đây.” Đông vội chạy tới, nắm con sùng, bỏ vào miệng ăn ngon lành, còn bảo: “Con bơ béo quá!”

“Con chó khóc đứng khóc ngồi,” (ca dao)

                Khi đội chúng tôi lãnh phần đất canh tác phía sau Đồi Phượng Vĩ, Dương Tiến Đông làm Đội trưởng. Cán bộ Hoành làm quản giáo.

                Đông là người lanh lợi, giỏi buôn bán. Nhờ cái tài ấy, anh ta “xỏ mũi” dắt quản giáo và Công An như chuyện đùa.

                Mỗi sáng, khi ra tới bãi, nhóm lửa, nấu nước. Nước trong thùng vừa sôi là anh Nghiêm bỏ một gói trà Đỗ Hữu vào “gô”. Đông bưng tới cái chòi cao cho vệ binh, móc trong túi ra một gói thuốc lá Phúc Khánh, cái hộp quẹt “gas”. Anh ta nói, “Mời cán bộ.” Xong, anh ta “đi buôn”. Trong khi đó toàn đội chúng tôi, kẻ đi mài cuốc, người cuốc đất, “lu lơ” cho hết giờ.

                Đông lận trong mình, khi thì một, khi thì hai bộ quần áo mới do trại cấp phát, đem ra mấy cái quán của xóm nhà dân, nằm bên cạnh con lộ từ Giá Rai đi Võ Đắt – Võ Xu để bán cho dân.

                Nhiều anh em tù không mặc đồ tù do trại phát, mỗi năm một hay hai lần. Đó là những bộ đồ màu xanh lam, may theo kiểu nông dân thường mặc, sợi vải to và xấu, chưa mặc sợi chỉ đã bung, đường may chưa mặc đã đứt. Họ nhờ Đông đem bán, mua một ít thực phẩm để ăn thêm. Họ vẫn mặc những bộ treilly cũ, sờn rách, vá chằng vá đụp.  Dù sao thì những bộ quần áo ấy cũng bền hơn thứ trại cấp phát nhiều.

                Bán quần áo xong, Đông mua “hàng” về bán lại cho anh em trong trại: Vài nãi chuối, vài trái đu đủ, gói thuốc lá, chai dầu gió trị bệnh, con cá lóc, v.v… Đông kiếm ít lời, lại mua trà và thuốc lá “chiêu đãi” cán bộ. Nhờ Đông biết xoay xở, nên anh em chúng tôi lao động tà tà qua ngày. Quản giáo cũng như cán bộ vệ binh, chẳng theo dõi, đốc thúc chúng tôi cuốc đất, làm cỏ gì nhiều!

                Cái tiếng “có trà và thuốc” của đội tôi làm cho nhiều vệ binh biết tới, nên có hôm, mới ra tới bãi chưa lâu, đã có tên vệ binh hạch hỏi, “Trà lá đâu?!”

                Điều đó làm cho anh em chúng tôi thấy một điều. Té ra Việt Cộng đánh đổ “giai cấp địa chủ bóc lột”, “cường hào ác bá” thì chúng lại có những cái tư tưởng, hành động như cường hào, bóc lột và hách dịch không khác chi giai cấp mà chúng đã đánh đổ. Lịch sử xã hội chỉ là con đường vòng.

                Thế rồi một hôm Đông phổ biến tin tức: “Ai muốn mua thịt chó thì đóng tiền!” Có người mua một ký, có người hai ký, có người nửa ký, v.v…

                Số là hôm rồi, Đông rủ quản giáo Hoành “đi nhậu chơi”. Hai người đi tuốt vô một xóm Thượng. Đông gạ một người Thượng bán cho Đông một con chó. Người Thượng ấy đồng ý. Vì vậy, khi về trại, Đông phổ biến việc mua thịt chó.

                Thu tiền đâu đó xong rồi, hôm sau, Đông rủ thêm một bạn tù nữa, tôi không nhớ là ai, cùng quản giáo Hoành đi mua chó, làm thịt, nấu một món nhậu cho cả mấy người nhậu chơi, trước khi về lại bãi lao động, rồi đem thịt chó về giao cho “bạn hàng.”

                Chiều hôm đó, Đông rủ tôi và anh Lã Trung Tâm cùng ăn thịt chó với Đông. Anh Tâm từ chối. Tôi cũng không ăn. Sợ mất lòng, tôi nói: “Tui ngại lắm! Nhà tôi có con chó, ai cũng thương. Hôm con chó bị người ta bắt, thằng Hùng (móm) em tôi nó khóc đó. Mẹ tôi phải đi chuộc về!”

                Đông nói:

                -“Con chó như có linh tính. Khi tôi ra bắt nó, tui thấy nước mắt nó chảy ra. Nó khóc. Tui không muốn bắt. Thằng Thượng bắt, trói chân lại, giao cho tui.”

                Đông còn làm một chuyện “động trời” nữa.

                Tuần sau, anh ta rủ một vệ binh đi chơi với anh, rồi hai người nhậu “ngoắt cần câu”. Tới giờ hết lao động, Đông và anh vệ binh cũng chưa về. Quản giáo Hoành nói:

                -“Thôi! Cứ về đi, tôi báo cáo hai người có công tác.”

                Mãi đến tối, Đông mới về, mặt mày đỏ gay, còn hơi rượu, rồi chui vào giường ngủ mất.

                Hôm sau, Đông nói với tôi:

                -“Thằng vệ binh say quá, tôi phải dìu nó. Nó gởi cây súng cho trưởng ấp, về tay không. Bữa nay nó mới đi lấy về.”

                Đội tôi, cứ cái đà cuốc đất tà tà như vậy mà kéo dài, đến khi mưa tới, lô đất cuốc chưa được một nửa, làm sao gieo hột bắp. Đông xúi quản giáo Hoành cho đốt hết cỏ dại, cây dại; xong, xoi lỗ gieo hột như người Thượng, chẳng cần phải cuốc. Được nửa tháng bắp đã mọc, nhưng èo uột. Kiểu nầy thì tới khi thu hoạch, chắc là mất mùa to, chẳng được hột bắp nào. Cũng may, sau đó, trời hạn hán, cả tháng không có giọt mưa nào. Không riêng gì đất của đội tôi mà toàn trại, bắp cháy hết! Tới đó thì coi như “huề cả làng.”

                Được ít lâu, quản giáo Hoành được chọn đi học y sĩ. Cán bộ Nhâm thay thế. Thằng nầy nổi tiếng ác. Hai cái môi bao giờ cũng tím dắt. Đó là tướng người ác.

                Nó cấm hết mọi chuyện buôn bán, “cải thiện linh tinh”, đến nỗi rau đắng bên bờ suối cũng không được hái. Anh Nghiêm hái trộm một nắm nhỏ, thấy được, y bắt anh Nghiêm phải đem đổ, không cho đem về.

                Tới thời kỳ gay go đó thì sau tết khoảng hai tháng, một mình tôi được lệnh chuyển vô Trại Cây. Có lẽ bọn Công An nghi tôi trốn trại, đưa vô Trại Cây cho chắc ăn.

                Tôi khỏi trốn trại. Vô Trại Cây được hai tháng thì tôi “được tha ra khỏi trại cải tạo”, xong một đời tù gian khổ kéo dài 7 năm 10 ngày.

                Những chuyện tôi kể trên chỉ là những chuyện “cải thiện linh tinh”, bởi vì bản năng sinh tồn là một ý chí kỳ diệu mà Tạo Hóa ban cho con người ta.

                Bất cứ trong hoàn cảnh nào, để sống còn, người ta, phần đông là người tù, tìm dủ cách để sống, kiếm thêm rau trái để ăn, tìm cây lá để trị bệnh… Thay thế “xuyên tâm liên” do trại phát, chúng tôi trồng “cây sống đời” để làm thuốc. Lá cây nầy có chất trụ sinh.

                Còn như “cơm tù”, khi tới mùa thì được ăn bắp, khi hết mùa thì ăn khoai mì lát. Khoai hay bắp thì được ăn với rau muống luộc chắm nước muối, tên thường gọi là “nước mắm đại dương”.

                Khi tù còn được Bộ Đội quản lý, từ giữa năm 1975 đến giữa năm 1977, dù không được ăn no, nhưng chúng tôi còn được ăn cơm, ít được thăm nuôi. Khoảng đầu năm 1977, không được phát gạo, chúng tôi được ăn bột mì, – thứ bột để làm bánh mì.

Không làm được bánh mì, chúng tôi làm bánh bao. Nguyễn Thụy Hiền nói đùa: “Tui là đàn ông, cũng được phát mỗi ngày một “cặp bánh bao”.

                Khi được chuyển qua cho Công An “quản lý”, bọn nầy có kinh nghiệm coi tù, tàn ác và thủ đoạn vô cùng.

Không được ăn cơm, có lúc chúng cho ăn bo bo. Thằng Trung úy Ngọc, trại phó Trại Cây (B), “lên lớp” chúng tôi: “Các anh đừng chê bo bo. Trung Quốc gọi bo bo là cao lương; các anh được ăn cao lương đấy”. Ý của y là muốn nói tới “Cao lương mỹ vị” là đồ ăn của vua chúa đấy. Miệng lưỡi Cộng Sản ghê gớm chưa!? Dĩ nhiên bọn chúng ăn cơm, không ăn bo bo bao giờ.

                Khi bị Công An quản lý, lệnh cho thăm nuôi hàng tháng. Người tù sống còn được, phần nhiều cũng là nhờ gia đình thăm nuôi. Gia đình đem cho gạo, cá khô, thịt khô, nước mắm… ăn dần dần chờ kỳ thăm nuôi sau.

                Đối với Công An, dù người tù nào có công, cũng không được “thưởng” gì thêm, dù chén cơm hoặc miếng thịt. Tuy nhiên, chúng dùng ngay cái thức ăn của gia đình đem cho người tù để khống chế người tù.

                Hễ ai “học tập tốt, lao động tốt” mới được thăm nuôi. Còn như ai “chống đối”, “ngoan cố” “âm mưu trốn trại” thì chúng cúp thăm nuôi. Gia đình lên tới trại, phải mang quà mà trở về, không được gặp người thân mà cũng không được gởi quà lại.

Dùng thực phẩm của gia đình người tù, để “trừng trị” người tù, đó không phải là một thủ đoạn đê hèn hay sao?!

                Hôm tôi ở trại mới bên cạnh Đồi Phượng Vĩ, có một đám tù từ Bắc được đưa về. Tôi gặp một số người quen: Cựu Trung Tá Trương Như Xin của Bệnh Viện Duy Tân Đà Nẵng trước kia và anh Cao Văn Thanh, Cao học Hành Chánh, em một người bạn gái cùng lớp niên khóa 1954-55.

Anh Xin bị sưng phù hai chân, tôi nhờ “Bác sĩ Hảo” trưởng Trạm Xá chăm sóc giùm. Còn Cao Văn Thanh, một bữa tôi rủ anh ăn chung với tôi. Tôi và Thanh bày khoai mì ra. Thanh nói:

                -“Khoai mì nầy ngon quá, lát khoai còn trắng.”

-“Ngoài đó cũng ăn khoai mì?” Tôi hỏi.

-“Muôn năm!” Thanh nói. “Suốt cả mấy năm tui ở ngoài Bắc, chỉ ăn khoai mì đen, lát khoai mì đã thâm đen, mốc, có khi bị mục không ăn được.”

                Tôi nghĩ thầm: Khoai mì mà ngon gì. Và nghĩ tới những người bi đày ra Bắc như Thanh, bao nhiêu năm trời bị đày ra ngoài đó, họ chỉ có được một thứ khoai mì đen.

&

                Nói “Cơm Tù” chỉ là một cách nói thông thường. Người tù Cải Tạo không mấy khi được ăn cơm, ngoại trừ Tết hay khi có “Ba ngày nễ nớn” – cán bộ thường nói ngọng như thế – thì được lưng chén cơm, ăn chưa đủ tráng cái miệng thèm cơm.

                Có lần Phan Hải nói:

                -“Hồi trước, ăn uống đâu có như ri. Cơm gạo trắng mà ăn đủ, ăn no, không bao giờ đói!”

                -“Còn thức ăn?” Tôi hỏi.

                -“Mỗi tuần 7 ngày, ba ngày ăn thịt, bốn ngày ăn cá. Có khi đại diện tù chê cá ươn, không nhận, nhà thầu phải cung cấp ngay cá hộp, cho kịp bữa. Họ quậy đó, làm gì có cá ươn!”

                Phan Hải là Cựu Trung úy, làm việc ở Toà Đô Chánh, đặc trách coi sóc đời sống tù Chí Hòa.

                Nguyên năm 1954, anh ở lại miền Nam với ông Bác. Anh lớn lên, được đi học, rồi bị gọi Động viên, nhập học Trường Sĩ quan Thủ Đức.

                Cha mẹ anh “tập kết” ra Bắc. Ông thân là ông Phan Mạch, Chủ Nhiệm Ủy Ban Thống Nhứt của chính phủ Bắc Việt. Bác là Phan Mỹ, Chủ Nhiệm Văn Phòng của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Bác cả là nhà văn Phan Khôi. Đây là dòng họ “Phan Điện Bàn”, thường người ta gọi là “Phan Cộng Sản” để phân biệt với họ “Phan Quế Sơn”, như giáo sư Phan Khoang, nhà văn Phan Du, thường gọi là “Phan Việt Quốc”.

                Không biết khi Phan Hải được tha, kể chuyện “cơm tù” cho cha mẹ nghe, cha mẹ anh sẽ nghĩ như thế nào. Họ thấy “tội nghiệp” cho con họ. Còn những người cùng tù như Phan Hải thì sao, họ có thấy “tội nghiệp” không, hay nghĩ đơn giản như bọn cán bộ Cộng Sản thường nói: “Bây giờ thì lo ăn no mặc ấm, mai kia thì các anh được ăn ngon mặc đẹp.”

                Thực tế, bây giờ ăn “chưa no”, làm chi mai sau có “ăn ngon?”

                Đây chỉ là cái bánh vẽ.

                Cái “bánh vẽ” trông thiệt là ngon lành, nhưng không ai bao giờ rớ tới được. “Thiên đường Cộng Sản” là vậy đấy!!!

                Câu chuyện nầy làm tôi nhớ tới bài thơ của “ông Phán Hoan” (Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, Quảng Trị, tức nhà thơ Cộng Sản Chế Lan Viên, trước 1945 làm thông phán cho Tây)

Bánh vẽ

Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm…

(8-1991)

Mass, tháng 8 /2015

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on hoànglonghải – Vết Nám (Bài 24) Cơm Tù

  1. Tù binh

    Tù binh giữa buổi thanh bình
    Mồ hoang chết đói, thân hình phù du

    Mỗi bữa ăn lưng sét chén
    Lát mì len lén hạt cơm
    Mùi thơm ghen vị đắng hờn
    Nghẹn ngào nuốt vội, qua cơn tù đày

    Nước muối đong vay mằn mặn
    Lênh đênh ruồi nhặng bềnh bồng
    Bữa ăn vài muỗng nhạt hồng
    Giòi nằm nghiêng ngửa, oán nồng thú nhân

    Đời bạc phù vân đen đỏ
    Chén cơm mì vỏ trộn vào
    Máu khô da thịt xanh xao
    Giống nòi mạt kiếp, hư hao vô ngần

    Ai thấu, ai cần, ai biết
    Thân tù chém giết đánh băm
    Cho ăn tạm sống để dằm
    Tù binh đất Cộng, tối tăm cuộc đời

    (Trích Tại : THI TẬP
    TÌNH KHÚC TRĂNG CHIỀU
    Thơ Vivi)

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: