Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Chống Giặc Tầu (Bài 2) – Ba Tàu? Có chi đáng sợ!

1Với người Tàu, người Việt có hai điều: Ghét và Sợ.

Ghét thì cũng ghét từ đời cha ông truyền lại. Sợ thì cũng cái sợ từ đời cha ông truyền lại. Truyền lại hay truyền thống thì có khác chi nhau?

Có lẽ cái sợ bắt nguồn từ thời Bắc thuộc.

Lịch sử nước ta dù ít nói tới cái ác của thời Bắc thuộc, nhưng không quên cái ác nhứt là cái ác của Tô Định, hay độc địa như hành động của Mã Viện.

Thật vậy, người ta không quên câu chuyện “Cột đồng” của Mã Viện. Sau khi dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Mã Viện dựng một cột đồng, đề chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt.” Có nghĩa là cột đồng nầy mà đổ, thì người Giao Chỉ bị diệt, bị diệt như 99 Việt ở phía nam song Dương Tử.

Người Giao Chỉ đã mất nước, lại còn sợ dân tộc mình bị tiêu diệt, nên cố giữ cột đồng sao cho khỏi đổ. Tổ tiên ông Tôn Văn chẳng có “cột đồng cột chì” gì cả, nên chẳng lo gìn giữ nòi giống Việt của họ!

Còn tổ tiên chúng ta đã làm cách nào để giữ cột đồng?

Cách như sau: Mỗi người đi ngang, bỏ vào cột đồng một cục đá. Càng ngày, đá càng chồng chất, lên cao ngất, phủ kín cả cột đồng. Nhờ vậy, cột đồng không thể đổ được. Đến nỗi ngày sau, không ai biết cột đồng Mã Viện dựng ở đâu, dấu tích đô hộ bị xóa mất. Thế mới biết, tinh thần dân tộc của người Giao Chỉ, tổ tiên chúng ta, mạnh mẽ chừng nào! Cũng do đó mà ông Hoàng Cao Khải, viết một câu mai mỉa:

            Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy

            Chỉ thấy Tây hồ bóng nước gương!”

Không thấy dấu tích “chiến công” của Mã Viện ở đâu cả, chỉ thấy mặt nước Tây Hồ, nơi Hai Chị Em Bà Trưng tự vẫn, sáng bóng như gương (1)

Tuy vậy, tổ tiên chúng ta rất thủy chung, ân oán đâu đó rõ ràng: Sử còn chép thời Bắc thuộc, có ba chú ba Tàu sang làm thái thú ở Giao Châu,  giúp đỡ cho người Lạc Việt: Đó là các ông Tích Quang, Nhậm Diên (Nhậm chớ không phải Nhâm, không có  dấu nặng) và Sĩ Nhiếp, được dân chúng lập đền sau khi họ về Tàu hay qua đời!

“Việt Nam Toàn Thư” của Phạm Văn Sơn viết về thời kỳ Bắc thuộc như sau:

“Người cổ của chúng ta mỗi ngày một tiến rồi một ngày kia biết lặn lội trong những khoảng ruộng bùn lầy, tưới những giọt mồ hôi xuống đất cứng để sinh sống. Bấy giờ chưa có gia súc, chưa có dụng cụ tinh xảo, họ trần lực lấy sức tay chân tranh đấu với Thiên nhiên. Họ đẽo đá làm thành những lưỡi cuốc nhọn,  để sới đất khô và đập cho nhỏ chờ lúc nước sông tràn vào ruộng, ruộng sẽ có bùn ngầu cho họ gieo giống. Họ biết tháo nước ra vào để khỏi nạn úng thủy hay thiếu nước. Gần bể nên họ biết dùng mực nước thủy triều lên xuống ở các ngành sông để lấy nước vào ruộng. Nhờ vậy ngay thời bấy giờ tại Trung châu Bắc Việt đã có nơi làm ruộng được cả hai mùa. Sau này sum họp với người Tàu họ biết dùng lưỡi cày sắt và trâu bò.

Qua đoạn văn trên, nếu nhận xét theo phương pháp của các sử gia, thì thời kỳ ấy, tổ tiên chúng ta còn ở thời kỳ đồ đá (đẽo đá làm thành những lưỡi cuốc nhọn để sới đất khô và đập cho nhỏ). Nhờ người Tàu, người Việt tiến từ thời kỳ đồ đá lên thời kỳ đồ sắt: “Họ biết dùng lưỡi cày sắt và trâu bò”. Từ thời kỳ đồ đá lên thời kỳ đồ sắt là một bước tiến xa của nhân loại.

Tuy nhiên, xin nói thêm, thời kỳ ấy, người Lạc Việt đã văn minh hơn người Tàu: Người Việt đã biết trồng lúa nước, ăn cơm, trong khi người Tàu vẫn còn ăn bo bo. Hai bên bờ sông Hoàng Hà, người Tầu chỉ biết trồng bo bo. Không lý dân tộc ăn bo bo lại văn minh hơn dân tộc đã biết ăn cơm? Văn minh nhân loại là đi từ ăn bo bo lên ăn cơm, chớ không đi ngược lại!

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba chấm dứt năm 939, – sau khi Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành quyền tự chủ -, có lẽ không gây ấn tượng cho người Việt bằng cuộc đô hộ của nhà Minh, năm trăm năm sau, với nhiều việc làm hung dữ, tàn ác và kinh  khủng, được Nguyễn Trãi mô tả mộ cách rõ ràng trong Bình Ngô Đại Cáo:

Quân cường Minh đã thừa-cơ tứ ngược,
Bọn gian-tà còn bán nước cầu vinh,
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung-tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai-vạ.

Chước dối đủ muôn nghìn khoé,
Ác chứa ngót hai mươi năm.
Bại nhân-nghĩa nát cả càn-khôn,
Nặng khóa-liễm vét không sơn-trạch
Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu,
Nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim trả,
Tàn-hại cả côn-trùng thảo-mộc,
Nheo-nhóc thay! quan quả diên liên
Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy! no-nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục-dịch cho vừa,
Nặng-nề về những nỗi phu-phen,

Bắt-bớ mất cả nghề canh-cửi.
Độc-ác thay! trúc rừng không ghi hết tội,
Dơ-bẩn thay! nước bể khôn rửa sạch mùi,

 Người xưa chẻ tre thành từng thẻ nhỏ, viết lên đấy, gọi là “thanh sử” (sử xanh) – khi ấy người ta chưa biết làm giấy – Trúc rừng mà ghi, cũng không ghi hết tội, lấy hết nước biển đông mà rửa, mùi hôi thối cũng không đi. Nói như thế là quá rõ ràng.

Nhưng đâu phải chỉ có người Tàu sang cai trị mới tham lam, tàn ác với người Việt đâu?! Thế “Bọn gian tà bán nước cầu vinh” nữa chi?! Thời kỳ nào mà không có bọn nầy?! Nhắm bộ ngay bây giờ, nước ta không có bọn “bán nước cầu vinh” hay sao?! Điều nầy có bài hát của ông Việt Khang làm chứng.

Điều ác ấy, thời Minh thuộc, cách nay cũng mới năm trăm năm, người Việt chưa quên đâu!

Ghét thì đúng!

Nhưng sợ?

Người Tàu, nôm na là chú Ba, chú Ba ở Chợ Lớn, ở HồngKông hay chú Ba ngồi tại Trung Nam Hải, có chi đáng sợ đâu! Họ sợ chúngta đấy!

Ông bạn tù cải tạo vong niên Ngô Văn Tăng của tôi, mấy năm ăn chung, ngủ chung trong trại tù Xuân Lộc kể:

“Vô “rờ sẹc”, tao lận khẩu súng lục vô lưng quần, ra Chợ Cũ, vói tay chỉ miếng thịt heo quay treo trên cao, biểu chặt gói cho tao. Chú Ba “dạ” luôn miệng, làm y lời đâu đó, đưa cho tao, không tính tiền!

Hỏi sao không tính tiền, ông bạn tù già bảo: “Vói tay lên cao là để lòi cây súng dắt ở lưng ra, biết tao làm “sua-rờ-tê”, mấy chả sợ muốn chết, tính tiền gì nữa!”

Ấy là cái nhát gan của người Tàu chợ Cũ Saigon. Nhưng người Tàu Chợ Lớn, người Tàu hải ngoại có khác chi?

Việc làm của ông bạn già, không hẳn vì tham ăn, mà chính là vì, như ông nói, “làm cho bỏ ghét mấy chú Ba chơi!”

Ai không nhớ bọn cướp Tàu Ô, nổi tiếng một thời cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20?

Khi đám Tàu Ô của tướng Lư Hán, Tiêu Văn qua VN tước khí giới quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, người Việt không mấy ưa đám lính Tàu đói ăn nầy!

Trong thế giới chiến tranh thứ 2, khi Nhật đóng quân ở Đông Dương, mấy chú Ba ở xứ ta rét lắm, vì ở bên Tầu đang có Trung – Nhật chiến tranh. Mấy chú Ba ở VN mà theo phe Tưởng, Nhật bỏ tù, có khi thủ tiêu, như trường hợp nhạc sĩ La Hối ở Hội An.

Đến khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, quân Tàu Tưởng qua VN tước khí giới quân Nhật, mấy chú Ba lên mặt dữ.

Ông anh cả tôi, lúc ấy mới 15 tuổi, từng làm thông ngôn cho Nhật, bị mấy chú Ba vây đánh, phải bỏ chạy.

Năm 1946, Việt Minh hô hào toàn dân kháng chiến chống Pháp, một vài chú Ba không tuân lệnh, cho rằng “Tây và VN đánh nhau, không liên can gì tới họ”. Việt Minh dọa đốt nhà, họ mới chịu đi. Đến khi hồi cư, họ lợi dụng chỗ quen biết với Tây mà ức hiếp người Việt. Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, cũng có người trốn về Đài Loan để khỏi thi hành quân dịch.

Nhìn chung thì số đông tốt bụng, nhưng riêng một số, “ăn cơm của tui”, “uống nước của tui” mà lại trung thành với Mao xếnh xáng, dù con cháu của họ có làm nghị viên ở Nam Cali.

Chuyện ghét người Tàu thì nhiều lắm, kể không hết được! Tạo ra vụ “nạn kiều”, lột sạch tài sản rồi cho lên tàu mà đẩy ra biển. Việc làm ấy của đảng Cộng Sản VN là vì ghét người Tàu mà cũng là điều bất nhân thậm tệ, ít có ai làm được.

Xưa, đời nhà Trần, đời nhà Lê, bắt được quân Tàu còn cấp lương thực, cấp cả ngựa mà cho về Tàu, không làm điều độc ác như vậy. Chỉ có chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa hận thù mới dạy cho con người làm được những việc như thế!

&

Xã hội Tàu trọng nam khinh nữ. Xem truyện Tàu, người ta thấy, khi một anh tướng nhát gan đóng cửa thành cố thủ, thì anh tướng tấn công, tới cửa thành chưởi bới om sòm, quăng cho một bộ áo quần đàn bà để làm nhục.

Tuy nhiên, trong lịch sử Tàu, thiếu chi vua quan Tàu, núp bóng đàn bà để mong được yên thân. Chuyện Chiêu Quân Cống Hồ là một ví dụ.

Trong bài “Mùa Xuân nói chuyện mê gái” về câu chuyện Vương Tường, tôi viết như sau (trích):

Hán Nguyên Đế giữ được giang sơn nhà Hán, nước Tầu được yên  nhờ có Chiêu Quân.

Chiêu Quân còn gọi là Vương Tường, Vương Chiêu Quân, một trong “tứ đại mỹ nhân”. Cái đẹp của Chiêu Quân thuộc hàng “chim sa” như trong thành ngữ “chim sa cá lặn”, Tầu gọi là “trầm ngư lạc nhạn”. Trong “Cung Oán Ngâm Khúc” có câu “Lững da trời nhạn ngẩn ngơ sa” là mượn điển tích nầy.

Sách cũ viết rằng khi Chiêu quân sang đất Hồ, ngang qua một sa mạc lớn, lòng buồn vì thân phận, vì xa quê, đang ngồi trên lưng ngựa,  Chiêu quân bèn gãy bản đàn tên “Xuất tái khúc”. Tiếng đàn hay đến nỗi con ngỗng trời đang bay ngang qua, nghe tiếng đàn mà ruột gan đứt đoạn, sa xuống đất chết. Đó là điển tích “lạc nhạn”.      

Hồ Hàn Tà là vua xứ Hung Nô dọa đem quân đánh phá nước Tầu, nếu vua Tầu không gả cho y một công chúa. Thay vì gả một công chúa, vua Nguyên Đế nhà Hán gả cho y 5 cung nữ. Dĩ nhiên, cung nữ thì không ai xấu bao giờ. Thấy vua Hán lấy 5 mà đổi 1, Hồ Hàn Tà bằng lòng. Vương Tường là một trong năm cung nữ đó.

Tuy nhiên, trường hợp Chiêu Quân có nhiều oan trái hơn.

Chiêu Quân vốn có sắc đẹp tuyệt hạng, lại có tài đàn hay hát giỏi. Vì vậy, khi được tuyển vào cung, Chiêu Quân không chịu đút tiền hối lộ cho tên thợ vẽ Mao Diên Thọ. Mao Diên Thọ trả thù bằng cách khi vẽ hình Chiêu Quân xong, y thêm một chấm đen dưới con mắt của cô. Sách tướng nói chấm đen đó là nốt ruồi “thương phu trích lệ” (Giọt nước mắt khóc chồng), tức là tướng sát phu (giết chồng).

Khi gọi Chiêu Quân lên để đưa sang xứ Hung Nô, nhà vua thấy Vương Tường đẹp quá, muốn giữ lại, nhưng ngại triều thần, đành phải cho đi mà lòng tiếc rẻ.

Về cái chết của Chiêu Quân có nhiều giả thuyết khác nhau:

a)- Đến “Nhạn Môn Quan”, Chiêu Quân gieo mình xuống sông tự vẫn. Khi đi qua cửa ải cuối cùng nầy, Chiêu Quân cảm tác nhiều bài thơ hay, hòa cùng tiếng đàn của Chiêu Quân, trở thành điển tích Hồ Cầm. Hồ là rợ Hồ hay hồ là nói chung các nhạc khí của Tàu. Vì vậy, đàn tỳ bà cũng có khi gọi là Hồ cầm. Xem bài thơ của Quang Dũng trích ở phần sau.

            Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương

là hai câu thơ nói về tài đàn của Thúy Kiều (truyện Thúy Kiều)

b)- Chiêu Quân đến đất Hồ, nàng yêu cầu vua Hồ giết chết gian thần Mao Diên Thọ, rồi sau đó nàng tìm cách tự tử, nhảy xuống sông để xác nàng theo dòng trôi trở về đất Trung Nguyên.

c)- Một thuyết khác cho rằng Chiêu Quân đã sống một thời gian dài bên Hung Nô.

Chiêu quân đã góp phần mang lại hòa bình trong 60 năm giữa nhà Hán và Hung Nô.

Phải nhờ đến sự hy sinh của một người đàn bà để vua quan dân chúng Tầu được yên thân, vui chơi hưởng thụ, giàu sang phú quí, có thể đó là điều không vinh dự gì cho người Tầu và cho cả lịch sử Tầu nữa đấy.

Người Việt Nam khéo léo phê phán bằng một bài thơ:

Vương Tường oán triều đình (1)

Vật chi muông cỏ dám lăng loàn?
Âu hẳn trong triều ít kẻ ngoan? (2)

Mặt thấy thư Hồ, văn vỡ mật,(3)

Tai nghe nhạc bắc, võ run gan.

Mỡ thơm luống để nuôi thù khấu? (4)

Bùn sũng nào hay đắp ải quan?
Vực nước ví dầu tài Vệ, Hoắc, (5
)
Tanh hôi chi để lụy hồng nhan ?

giải thích:

1)- Vương Chiêu Quân là cung nữ của vua Hán Nguyên Đế, gả Chiêu Quân cho chúa Hung Nô để đổi lấy quan hệ hòa hiếu. Nàng chịu sang Hung Nô nhưng cuối cùng vì buồn thương và uất hận nàng đã tự vẫn.

2)- Câu thơ 3 và 4: Sự hèn nhát của các quan văn võ trong triều.

3)- Thù khấu: Kẻ thù

4)- Vệ,  Hoắc: Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, hai người đánh tan được quân Hung Nô (đời Hán).

Năm 1309, Huyền Trân Công chúa về Chiêm quốc với Chế Mân. Triều thần có người không thuận. Trong dân chúng có bài thơ nói về việc Chiêu quân cống Hồ để ám chỉ việc gả công chúa Huyền Trân.

Vua Hán dụ Vương Tường

gả cho chúa Thuyền Vu

            Hán Hồ dẫu muốn vẹn trăm đường

            Há trẫm riêng tây có phụ nường

            Bắc quốc tuy rằng ngoài dị vực

            Biên đình song cũng một biên cương

            Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt

            Về đấy sen tàn lổi cỏ hương

            Hơn thiệt tôi đừng ai oán nữa

            Chờ ngày áo gấm lại hoàn hương.

Việc ví von như thế nầy là khiên cưỡng. Hành động của Huyền Trân Công Chúa cao quí hơn hành động của Vuơng Tường nhiều!

Quang Dũng có bài thơ chê vua Hán như sau:

 

Tuyết lạnh che mờ trời Hán Quốc

Tì bà lanh lảnh buốt cung Thương

Tang tình năm ngón sầu dâng lệ

Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang

 

Đây Nhạn Môn Quan đường ải vắng

Trường Thành xa lắm Hán Vương ơi!

Chiêu Quân che khép mền chiên bạch

Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi!

 

Ngó lại xanh xanh triều Hán Đế

Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung

Quân vương chắc cũng say và khóc

Ái khanh! Ái khanh! Lời nghẹn ngùng

 

Hồ xang hồ xang xự hồ xang

Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng

Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống

Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang.

Vua Hán chỉ biết say va khóc thôi sao? Anh hùng nhỉ?
Tản Đà có bài văn tế Vương Tường, Nguyễn Thiện Kế dịch ra Nôm

Cô ơi, cô đẹp nhất đời

Mà cô mệnh bạc, thợ trời cũng thua

Một đi, từ biệt cung vua

            Có về đâu nữa, đất Hồ nghìn năm!”

&

Thủy Hoàng nhà Tần dựng nên Đế Quốc Trung Hoa năm 221 trước Tây Lịch, tính ra đến nay là được 2.234 năm. Trong khoảng thời gian dài đó, tình hình nước Tàu phần nhiều loạn lạc.

Trong Chinh Phụ Ngâm có câu “Nước thanh bình ba trăm năm cũ”, nghĩa là nhà Hán do ông Lưu Bang lập nên, nước Tàu được thanh bình ba trăm năm (cũ). Đây không phải là lời nói xạo, mà chỉ là cách nói vuốt, nói để tránh tội với triều đình.

Thật ra, nhà Hán được thành lập năm 206  trước công nguyên, với không ít máu xương của dân lành vô tội, do cuộc tranh bá đồ vương giữa Lưu Bang và Hạng Võ, và kéo dài đến bốn thế kỷ. Trước nhà Hán là nhà Tần, sau nhà Hán là thời Tam Quốc.

Thời Đông Châu, trước đời Tần Hán, nước Tàu bị loạn lạc, văn hóa suy đồi. Ông Khổng Tử ôm cái mộng “bình thiên hạ” của ông mà chu du qua nhiều nước, cuối cùng cũng đành phải về nước Lỗ mở trường dạy học trò. Sau đời Hán, nước Tàu lại rối loạn.

Người Tàu thường tự hào về triều đại nhà Hán của họ, cho là thời kỳ thịnh vượng, biên cương mở rộng sang tới Tây Vực, mở ra “con đường lụa”, giao thương với Châu Âu, cai trị người Giao Chỉ, nhưng ngay chính trong nước họ, thời kỳ gọi là ba trăm năm thanh bình, thực ra, loạn lạc không bao giờ ngừng: Loạn Vương Mãng, nhà Hán phân ly thành Tây Hán và Đông Hán. Cuối cùng, nhà Nam Hán xâm lăng Nam Việt, bị đánh bại.

Tuy người Tàu có đánh đông dẹp bắc, cai trị và bóc lột các nước chung quanh, nhưng cũng không khỏi ngậm hờn khi họ bị dân tộc các nước mà họ gọi là “rợ”, là “di” vào làm vua đất trung châu (nước Tàu), cai trị người Tàu trong một thời kỳ, không ngắn ngủi chi.

-/ Người Mông Cổ cai trị nước Tàu hơn một trăm năm (1271-1368).

-/ Người Mãn Thanh cai trị nước Tàu cũng bằng một thời gian gấp ba lần như thế! (1644-1911). Trong suốt thời kỳ bị ngoại bang cai trị, người Tàu “im re”.

-/ Nhà Đường cai trị nước Tầu từ năm 618-907, tính khoảng chừng ba trăm năm, bắt đầu từ Đường Cao Tổ, tên thật là Lý Uyên.

Tổ tiên Lý Uyên thuộc giống người Địch Đạo, là một chi nhánh người Hồi, sinh sống rất đông ở tỉnh Cam Túc bên Tầu. Cam Túc nằm về phía Tây-Bắc lục địa Trung Hoa, phía bắc là Mông Cổ, phía nam là sông Hoàng Hà, giáp với Thanh Hải, Nội Mông và Cao nguyên Hoàng Thổ.

Trong lịch sử, người Hồi không bao giờ chịu nằm yên để người Tầu cai trị, nên người Tầu phải “Tây chinh” không ít lần.

Trong Chinh Phụ Ngâm của Bà Đoàn Thị Điểm có câu:

Lũng Tây chảy nước dường uốn khúc
Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu
Ngàn thông chen chúc khóm lau
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.

Lũng Tây thuộc Cam Túc. Trong Chinh Phụ Ngâm, đó là nơi người chinh phu đi đánh giặc. Người vợ trông chồng, nhìn về hướng đó, hướng chồng đang chinh chiến, không thấy bóng chồng, chỉ thấy chim nhạn, thuyền câu, ngàn thông… (Độc giả có thể đọc thêm ở bài “Tân Cương trong văn chương Việt Nam, bài số 2, cùng tác giả).

Chính vì các vị vua nhà Đường gốc là người Hồi, nên An Lộc Sơn mới được ưu đãi, gây nên cái loạn An Lộc Sơn vì mối tình giữa tên tướng người Hồi nầy với Dương Quí Phi, khiến Đường Minh Hoàng phải giết Dương Quí Phi ở Mã Ngôi để yên lòng binh lính.

Lý Thường Kiệt từng đem quân đánh Quảng Đông, Quảng Tây.

Giả tỉ như vua Quang Trung không băng hà sớm, làm vua thêm mấy chục năm nữa, thực hiện cái mộng lấy lại đất Hoa Nam, thì không chừng vua Quang Trung hay con cháu của ông làm lễ lên ngôi tôn ở Bắc Kinh rồi cũng nên.

Lịch sử “Đế quốc Trung Hoa”, kể từ Tần Thủy Hoàng, “tóm thâu lục quốc” mà dựng nên năm 221 Tr TL, đến nay hơn hai ngàn năm, thì đã có ba thời kỳ, người “ngoại tộc” – không phải người Hán, cai trị Trung Hoa, cộng chung khoảng hơn 850 năm thì có gì gọi là vẻ vang cho người Tầu?!

Vậy nhưng người Tầu bao giờ cũng tự hào là người Hán (Sino), hậu duệ người nước Tần của Tần Thủy Hoàng. Về sau, họ cứ gọi chung người Tầu là người Hán, thuộc Hán tộc. Ngay cả 99 bộ tộc người Việt bị Hán hóa, như Mân Việt, Cán Việt, Dương Việt, Điền Việt… họ cũng quên mất gốc Việt của họ mà tự xưng là người Hán. Đó chính là trường hợp Tôn Văn, người Tầu thường gọi là “Quốc Phụ”. Tổ tiên ông là một giống Việt chớ không phải người Sino (Tầu).

Người con trai Tầu thường tự xưng là “Nam tử Hán”, có nghĩa là người có “trung, hiếu, tiết nghĩa…” là “đạt nhân quân tử”, giỏi giang và cao thượng, “cứu khổn phò nguy” như Lục Vân Tiên trong truyện Lục Vân Tiên của Cụ Đồ Chiểu.

Đó là sự tự hào “dổm” của mấy chú Ba. Họ thường hèn nhát, sợ chết, quỵ lụy, van xin… Năm 1941, khi người Nhật chiếm đóng Đông Dương, người Nhật thường nói “để 5 người Tầu trên bàn tay, họ thổi bay mất”.

Khi “Bát quốc liên minh” đánh vào Bắc Kinh, quân nhà Thanh chỉ có rút lui mà không đánh (nỗi). Khi đánh nhau với người Nhật trong “Trung Nhật chiến tranh” 1895, người Tầu chỉ có… thua mà thôi. Trong “Thế giới Chiến tranh thứ hai”, quân Nhật đánh vào lục địa Trung Hoa như vào chỗ không người, đuổi Tưởng Giới Thạch chạy tuốt vô Trùng Khánh. Trong “Chiến tranh Cao Ly” 1950-53, cái gọi là “Hồng Quân Trung Hoa” đầu hàng Đồng Minh chỉ có… nửa triệu.

Người ta nói chính cái triết lý Nho học của ông Khổng đã trói buộc người Tầu, làm cho người Tầu mất đi cái ý chí cầu tiến.

Bài thơ sau đây là một ví dụ:

            Nhân kỵ tuấn mã, ngã kỵ lư

            Tư tế tư lương, ngã bất như

            Hồi đầu, hựu kiến thôi xa Hán

            Thượng tuy bất túc, hạ hữu dư.

 

            (Người ta cưởi ngựa, tôi cưởi lừa,

            Nghĩ ra, tôi không bằng người.

            Ngoái đầu nhìn lui, thấy một người Hán đang đẩy xe.

            Trước không bằng người, sau thì hơn người.

Đấy là cái tư tưởng “Trung dung” của ông Khổng. Không quá bên trái, bên phải, không cao quá, thấp quá; cứ đứng giữa là đúng.

Cái tư tưởng “đứng giữa” ấy làm cho người Tầu mất đi cái ý chí cầu tiến. Không cần đi xe hơi vì đi nhanh hơn người đi bộ là được rồi. Người Mỹ lên tới mặt trăng nhưng mấy chú Ba cứ đi loanh quanh mặt dịa cầu là được rồi.

Vì cái tinh thần “đứng giữa” ấy nên người Tầu tìm ra la bàn trước nhất nhưng chẳng dùng làm cái gì cả, tìm ra giấy trước tiên nhưng tới đầu thế kỷ 20 người Tầu còn dùng “giấy bổi”, thứ giấy dùng làm giấy vàng bạc khi cúng quảy, tìm ra thuốc súng nhưng chỉ dùng để làm… pháo bông.

Bây giờ thấy mình thua thiệt nhiều quá, bèn nổi máu tham, giành cái nầy, giựt cái kia, tạo nên tiếng xấu cho nước Tầu.

Ai sợ Nam Tử Hán?

Chỉ có mấy anh Cộng Sản Việt Nam là sợ Tầu một phép!

&

Tuy nhiên, trong những thời kỳ loạn lạc, người đàn bà Tàu đã đóng một vai trò quan trọng, không phải để cho nước Tàu được yên mà làm cho các cuộc rối loạn thêm phần kịch liệt.

Tất cả “tứ đại mỹ nhân” của Tàu, đều có liên hệ đến chính trị, nhưng không mấy ai được khen: Tây Thi góp phần vào cuộc chém giết giữa Việt Câu Tiễn va Ngô Phù Sai, đến khi Phạm Lãi đem Tây Thi trốn vào trong núi, nước Tàu mới yên. Vua Hán nhờ núp đằng sau cái bóng Chiêu Quân nên nước Tàu hòa hoãn với Hồ Hàn Tà, chúa Thuyền Vu, được 60 năm. Điêu Thuyền thì tạo nên cuộc chém giết giữa hai cha con Đổng Trác và Lữ Bố. Còn như Dương Quí Phi chính là “tác giả” cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn, một tình nhân của một người đàn bà đã có chồng.

Sự phản trắc của Ngô Tam Quế không phải là không đáng buồn cười.

Vua nhà Minh sai Ngô Tam Quế, thống lĩnh một trăm ngàn quân trấn giữ Sơn Hải Quan để ngăn chận quân Mãn Thanh tấn công vào nước Tàu. Thế rồi Lý Tự Thành cướp ngôi nhà Minh, Ngô Tam Quế theo về với Lý, nhưng lại được tin tướng Tự Thành cướp mất người thiếp yêu là Trần Viên Viên, Quế nổi giận, bèn liên minh với quân Thanh, cùng quân Thanh chiếm Bắc Kinh.

Chỉ vì một người thiếp yêu, Ngô Tam Quế mang tội phản quốc, “rước voi” về giày nước Tàu ba trăm năm.

(Xưa thì có Trần Viên Viên, bây giờ thì có Bành Lệ Viên, cùng là Viên cả đấy, hạ hồi phân giải!)

Thời phong kiến bên Tàu, không phải chỉ có chừng đó bà mà hết đâu. Võ Tắc Thiên cũng là một “quái kiệt”. Võ Tắc Thiên cũng tự xưng là vua bởi vì bà cho rằng đàn ông làm vua được thì đàn bà làm vua cũng được vậy. Đó là tư tưởng tiến bộ, nam nữ bình đẳng, nhưng Võ Tắc Thiên còn cho rằng, nếu vua ông có “tam cung lục viện” thì sao vua bà lại không! Do đó, bà cũng nổi tiếng dâm loạn không khác chi các ông vua Tầu.

Từ Hi Thái Hậu không làm vua, nhưng bà là người dựng nên các ông vua bù nhìn. Đằng sau ông vua bù nhìn chính là Từ Hi. Thành ra, bà thuộc hạng “siêu vương”, “siêu hoàng đế”.

Độc giả đừng nghĩ rằng việc ấy chỉ xảy ra thời phong kiến Tàu.

Thời Cộng Sản, Giang Thanh, vợ thứ ba của Mao xếnh xáng cũng nổi tiếng không kém các bà ngày trước.

Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Lai, là một quái kiệt trong chính trường nước Công Sản Tàu, còn với Hồ Chí Minh, bà là người chủ chốt trong cuộc hôn nhân của Hồ với Tăng Tuyết Minh. Vậy thì ông Hồ không trung thành với “mẫu quốc” của ông làm sao được?

Lâm Bưu là nguyên soái của quân Tàu Cộng, Diệp Quần, vợ ông ta, có người gọi đùa là đại nguyên soái, vì bà ta nói gì, ông nguyên soái cũng nghe theo.

Vương Quang Mỹ, vợ Lưu Thiếu Kỳ, tương đối ít tai tiếng hơn ba bà nói trên.

Mới đây, qua vụ Bạc Hy Lai, người ta biết thêm Cốc Khai Lai ngoại tình, giết người. “Truyền thống” của Tàu không chỉ chừng đó đâu! Sẽ có “lai” nào xuất hiện nữa đây!

Trong lịch sử chống Tàu của dân chúng Đại Việt, ít khi người nước Nam thua người Tàu, ngoại trừ thời Bắc thuộc, khi ấy người Lạc Việt còn yếu. Đến khi đã có nền tự chủ rồi, không mấy khi tổ tiên chúng ta thua quân Tàu, ngọai trừ khi người nước Nam tự phân hóa, chia rẽ.

Thái tử Hoàng Tháo đem quân đánh Ngô Quyền, bị quân Ngô bắn chết trên sông Bạch Đằng. Nghe tin, vua Nam Hán khóc rống lên! “Tởn!”… không dám xâm lăng nước ta nữa.

Đời Tiền Lê, quân Tống xâm lăng nước ta, bị Lê Hoàn đánh bại.

Cũng đời Tống, vua Tống lăm le Đại Việt, Lý Thường Kiệt đánh phủ đầu, đem quân chiếm các châu Ung, châu Khiêm của Tàu. Nhà Tống phục thù nhưng khi tiến đến sông Như Nguyệt thì không tiến được nữa, đành chấp nhận Đại Việt xin hòa.

Phạm Ngũ Lão và tướng sĩ của ông đánh giặc giỏi và gan dạ, chận đường rút về của Thoát Hoan, bắn tên ra như mưa, quân Nguyên chết vô số kể, Thái tử Thoát Hoan sợ quá, bèn chui vào nằm trong ống đồng, khiến quân lính bỏ lên xe kéo chạy về Tàu.

Chiến công của quân Việt đối với nước Tàu kể không hết được, kể từ trước kia cho đến Lê Lợi, Quang Trung, chỉ xin trích một đoạn trong “Bình Ngô Đại Cáo” để độc giả đọc:

            Trận Bồ-Đằng sấm vang sét dậy,
Miền Trà-Lân trúc phá tro bay,
Sĩ-khí đã hăng,
Quân-thanh càng mạnh,
Trần Trí, Sơn Thọ, mất vía chạy tan.
Phương Chính, Quý An tìm đường trốn-tránh.
Đánh Tây-Kinh phá tan thế giặc.
Lấy Đông-Đô thu lại cõi xưa,
Dưới Ninh-Kiều máu chảy thành sông,
Bến Tụy-Động xác đầy ngoài nội.
Trần Hiệp đã thiệt mạng,
Lý Lương lại phơi thây.
Vương Thông hết cấp lo-lường,
Mã Anh khôn đường cứu-đỡ
Nó đã trí cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao,
Ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đánh mà người chịu khuất.
Tưởng nó đã thay lòng đổi dạ, biết lẽ tới lui,
Ngờ đâu còn kiếm kế tìm phương, gây mầm tội-nghiệt.
Cậy mình là phải, chỉ quen đổ vạ cho người,
Tham công một thời, chẳng bỏ bày trò dở-duốc.
Đến nỗi đứa trẻ con như Tuyên-Đức, nhàm võ không thôi. (a)
Lại sai đồ nhút-nhát như Thạnh, Thăng đem đầu chữa cháy.
Năm Đinh-mùi tháng chín,
Liễu Thăng tự Khâu-ôn tiến sang,
Mộc Thạnh tự Vân-nam kéo đến.
Ta đã điều binh thủ hiểm, để ngăn lối Bắc-quân,
Ta lại sai tướng chẹn ngang, để tuyệt đường lương-đạo.
Mười-tám, Liễu Thăng thua ở Chi-lăng,
Hai-mươi, Liễu Thăng chết ở Mã-yên,
(b)
Hai-mươi-lăm, Lương Minh trận vong,
Hai-mươi-tám, Lý Khánh tự vẫn,
Lưỡi dao ta đang sắc,
Ngọn giáo giặc phải lùi,
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến rằm tháng mười diệt tặc.
Sĩ-tốt ra oai tì-hổ,
Thần-thứ đủ mặt trảo nha.
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận sạch không kinh-ngạc.
Đánh hai trận tan-tác chim-muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê cũ.
Thôi Tụ phải quỳ mà xin lỗi,
Hoàng Phúc tự trói để hàng.
Lạng-giang, Lạng-sơn, thây chất đầy đồng,
Xương-giang, Bình-than, máu trôi đỏ nước.
Ghê-gớm thay! sắc phong-vân phải đổi,
Thảm-đạm thay! sáng nhật-nguyệt phải mờ.
Binh Vân-nam nghẻn ở Lê-hoa, sợ mà mất mật.
Quân Mộc Thạnh tan chưng Cần-trạm, chạy để thoát thân,
Suối máu Lãnh-câu, nước sông rền-rĩ,
Thành xương Đan-xá, cỏ nội đầm-đìa.
Hai mặt cứu-binh, cắm đầu trốn chạy,
Các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu.
Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội,
Thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh.
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ-hôi.

(a) Bình Ngô Đại Cáo gọi vua Tuyên Đức (Tuyên Tông) của nhà Minh là “đứa trẻ con”.

(b) Liễu Thăng bị chém chết ở núi Đạo Mã Pha, còn có tên là Mã Yên Sơn, gần ải Chi Lăng.

&

Khi Nhật chiếm Đông Dương và hô hào chủ trương Đại Đông Á, không ít người Việt ủng hộ Nhật và vui mừng trước “thắng trận như chẻ tre” của quân Nhật ở bên Tàu.

Sau khi Minh Trị Thiên Hoàng canh tân Nhật Bản, nước Nhật trở thành một cường quốc châu Á, đánh bại Tàu trong nhiều cuộc xung đột:

-/Trung Nhật chiến tranh 1894-95, Tàu phải nhường Đài Loan cho Nhật và “trả độc lập” cho Triều Tiên.

-/Thế giới Chiến tranh Thứ nhất xảy ra, mặc dầu nước Tàu đã lật đổ được ách cai trị của nhà Thanh, nhưng cũng phải chịu thua thiệt trước những yêu sách của Nhật, để Nhật tăng cường quyền lợi kinh tế và chính trị ở Tàu. Tàu thì rơi vào tranh chấp xâu xé nội bộ, như “truyền thống phân ly” của người Tàu, giữa những tay Quân Phiệt, khiến nước Tàu càng ngày càng yếu đi.

Chiến tranh Thế giới thứ 2 chưa bùng nổ, Nhật đã có hành động chèn ép Tàu. Chưa thỏa nãm với những gì đạt được, ngày 7 tháng 7 năm 1937, Nhật tạo ra vụ Lư Cầu Kiều, khơi mào cho cuộc xâm lăng Tàu của Nhật, chiếm Bắc Kinh, tấn công Thượng Hải, gây ra cuộc chiến tranh Hoa Nhựt. Chính phủ Trung Hoa Quốc Gia chạy về Trùng Khánh, Mao Trạch Đông rút vào Thiểm Tây.

Nếu Mỹ không buộc Nhật đầu hàng Đồng Minh bằng hai quả bom nguyên tử, người ta cũng không thể biết được cuộc chiến Trung Nhật sẽ diễn biến như thế nào, chắc gì nước Tàu được như ngày nay?!

Sau Thế giới Chiến tranh thứ 2, Tàu còn tham gia hai trận đánh lớn nữa:

 Chiến tranh Triêu Tiên (Cao Ly), 1950-53. Sau khi quân Bắc Triều Tiên bị quân Đồng Minh đánh đuổi chạy lên tới sông Áp-Lục, ranh giới Bắc Triều Tiên và Tàu, thì Mao cho khoảng hơn 300 ngàn quân “chí nguyện” can thiệp. Gọi là “chí nguyện” nhưng số đông là quân đội Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đầu hàng Mao. Mao cho số quân nầy bỏ mạng ở Triều Tiên để tránh hậu họa. Quân của Mao hao hụt khoảng 150 ngàn, gồm tử trận, chết rét, tai nạn và mất tích, bị thương và đầu hàng gần nửa triệu, kể cả dân công.

Thứ hai là chiến tranh “anh em Cộng Sản” với nhau, dọc theo biên giới 6 tỉnh Hoa-Việt. Tài liệu chính trị, quân sự cho biết như sau:

Theo đánh giá của tác giả King C. Chen, quân Trung Quốc có lẽ đã đạt được 50-55% các mục tiêu có giới hạn của mình. Bên cạnh thành công trong việc bám theo được khá sát các kế hoạch tiến quân và rút quân, quân Trung Quốc đã không đạt được kết quả như các mục tiêu đã công bố: họ đã không tiêu diệt được sư đoàn nào của Việt Nam; không chấm dứt được xung đột có vũ trang tại vùng biên giới; không buộc được Việt Nam rút quân khỏi Campuchia; không gây được ảnh hưởng lên chính phủ Việt Nam trong vấn đề Hoa kiều. Điểm yếu của quân Trung Quốc là vũ khí và phương tiện lạc hậu. Ngoài ra, họ đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Việt Nam. Sự thiếu kinh nghiệm chiến đấu và tinh thần kém cũng nằm trong các điểm yếu của quân Trung Quốc.

Về quân sự, tác giả Edward C. O’Dowd đánh giá rằng quân Trung Quốc đã thể hiện trình độ chiến đấu kém trong cuộc chiến. Tại Lạng Sơn, 2 quân đoàn Trung Quốc đã bị một trung đoàn Việt Nam cầm chân trong 1 tuần, một quân đoàn khác cần 10 ngày để lấy Lào Cai và Cam Đường – hai đô thị cách biên giới không đến 15km. Trung Quốc chiếm Cao Bằng vất vả đến mức cần ít nhất 2 quân đoàn để tiếp tục tấn công một thị xã mà Trung Quốc tuyên bố đã chiếm được. Tại Quảng Ninh, một trung đội Việt Nam đã cầm chân 5 tiếng đồng hồ một trung đoàn Trung Quốc đang trên đường chiếm núi Cao Ba Lanh giáp biên giới, gây thương vong cho 360 trong quân số 2800 của trung đoàn này. Những tổn thất nhân mạng như vậy lặp lại trên toàn mặt trận và đem lại ít hiệu quả. Quân Trung Quốc đã không sử dụng được số quân đông một cách hiệu quả bằng các chiến thuật thích hợp và do đó không thể đạt được tốc độ hành binh như mong muốn của chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” (tốc chiến tốc thắng). Đây là hậu quả của sự lạc hậu về chiến thuật tác chiến của quân đội Trung Quốc vốn gần như không được cải thiện kể từ sau chiến thuật biển người ở chiến tranh Triều Tiên những năm 1950. Thất bại về mặt chiến thuật đã buộc Quân ủy Trung ương đảng Cộng Sản Tàu đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa quân đội nước này.

Ngày nay, thời đại khoa học kỹ thuật, đánh giặc không phải cần quân lính đông mà thắng. Với nhiều loại vũ khí đặc biệt, khác nhau, bằng hóa học, vật lý học… nhiều loại “vũ khí giết người hàng loạt” được sáng chế ra, nếu có dùng chiến thuật lấy số đông áp đảo, như “chiến thuật biển người” cũng không hẳn chắc thắng. Trong chiến tranh Việt Nam trước đây, Cộng Sản Bắc Việt xâm lược thắng miền Nam không hẳn vì quân số đông hơn, vượt trội hơn mà chính là, điều đáng nói nhất, là “tinh thần chủ bại” của người Mỹ, từ đó gây ra nhiều hậu họa cho quân dân miền Nam VN.

Với ba quân chủng: Hải, Lục và Không quân, ngày nay, Lục quân không còn đóng vai trò quyết định như ngày xưa nữa.

Quân đông thì gặp nhiều khó khăn, nhất là về tiếp liệu. Trong chiến tranh Cao Ly, chiến tranh biên giới Hoa-Việt, người Tàu gặp rất nhiều khó khăn về tiếp vận, khiến binh lính của họ nhiều lúc không còn tinh thần chiến đấu.

Trong viễn tượng đó, vai trò của Không quân, của Hải quân và ngày nay, hỏa tiển tầm ngắn, tầm xa… là hết sức quan trọng, quyết định việc thắng thua. Thành ra, “quân Tàu đông” không còn là điều đáng sợ nữa. Cái lợi thế dân đông, quân đông của người Tàu, kém đi nhiều.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, trong chiến đấu, bao giờ cùng là “Tinh Thần”.

Khi xâm lăng miền Nam VN, quân đội Cộng Sản, từ cấp lớn đến cấp nhỏ, mỗi người chỉ có hai bàn tay trắng. Họ không có gì để tiếc, mà không ngại xông lên.

Khi xâm lăng Kampuchia, quân đội Cộng Sản là một thứ “quân viễn chinh”. Quân viễn chinh ít khi khác nhau, dù là quân viễn chinh Việt Cộng ở Kamphuchia hay người lính viễn chinh Ma-rốc, Senegal trong quân đội viễn chinh Pháp khi Pháp tái chiếm Đông Dương 1945-54.

Nói thẳng ra, tinh thần người lính của quân Cộng Sản Bắc Việt khi xâm lăng miền Nam Việt Nam trước đây không còn nữa, khi tướng tá, sĩ quan cao cấp, trung cấp có tài sản trong tay. Họ đã vỡ mộng tuyên truyền sau khi chiếm đóng miền Nam, họ trở nên giàu có khi “quân đội làm nhiệm vụ kinh tế” với bao nhiêu ưu đãi và độc quyền.

Từ hai tay trắng, nay là những tiểu gia, đại gia thì còn đánh chác gì nữa???!!!

Họ sợ chú Ba là phải!

Còn dân ta thì không!

hoànglonghải

(1)- Bác sĩ Lê Trọng Lộc, ở Maryland nói với tôi là bác sĩ có đọc sử Tàu bằng tiếng Anh. Tàu nói là họ bắt hai chị em bà Trưng, đem về bên Tàu.

Theo tôi hiểu thì việc ấy không có chi lạ đâu! Giết xong kẻ thù, thì cắt đầu đem về dâng vua để lập công. Cái đầu tượng trưng cho kẻ thù. Có lẽ trường hợp hai chị em bà Trưng cũng vậy. Mã Viện cho cắt đầu đem về Tàu. Sử Tàu viết theo cái ý ấy. Cho nên, xác nhiều vị tướng, sau nầy lấy lên, bộ xương thì còn, nhưng cái đầu thì bằng sáp. (Như trường hợp Huỳnh Công Lý, phó tổng trấn Gia Định Thành, bị Lê Văn Duyệt xử án tử hình, đầu của ông được đưa về Huế để trình lên vua Minh Mạng hay Quan Công trong Tam Quốc, bị Tôn Quyền xử trảm năm ông mới 58 tuổi. Một hôm, sư cụ chùa Phổ Tịnh nghe trên không có tiếng la lớn: “Trả đầu cho ta!” Phổ Tịnh hỏi: “Ở đâu?” Hồn Vân Trường bèn thưa: “Đây là đâu? Xin cho biết pháp danh!”. Sư Phổ Tịnh trả lời: “Đây là Phổ Tịnh, trước đã gặp nhau ở Dịch Thủy, chắc Quan Hầu chưa quên.”  Vân Trường nói: “Trước kia được ngài cứu, nay vẫn chưa quên! Xin Ngài chỉ đường cho tôi ra khỏi Bến Mê!” Sư Cụ nói: “Việc đời nhân quả đều có cả. Nay nhà ngươi bị Lữ Mông giết, “đòi trả đầu cho ta!” Vậy ai trả đầu cho Nhan Lương Văn Xú, “quá ngũ quan, trảm lục tướng” với bao nhiêu tướng sĩ rơi đầu nữa, ai trả đầu cho họ?” Quan công nghe nói, tỉnh ra, bèn biến mất!

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: