Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Chống Giặc Tầu (Bài 1) – Tổ tiên chúng ta chống Tầu xâm lăng như thế nào?

1Nhận định chung

Cuộc chiến đấu chống người Tầu xâm lăng nước ta là một cuộc chiến đấu dai dẳng, kéo dài hàng ngàn năm, kể từ năm 208 trước Tây Lịch, nếu tính đó là năm Triệu Đà chiếm Âu Lạc của Thục Phán, hay năm 111 trước TL, là năm nhà Hán tiêu diệt nước Nam Việt của Triệu Đà.

Trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, người Việt không bao giờ chịu khuất phục, đã nhiều lần nổi lên chống lại ách cai trị của Trung Hoa, từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Mai Thúc Loan, Triệu Quang Phục… và kết thúc bằng chiến thắng của Ngô Quyền, đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 939 sau TL.

Sức đề kháng mãnh liệt của tổ tiên:

Sau một ngàn năm Bắc thuộc, dưới chính sách cai trị tàn ác và nhiều thủ đọan của người Tầu, chính sách cai trị đồng hóa của họ, người Việt đã chiến thắng, không những không bị đồng hóa mà còn giành lại được quyền tự chủ, xây dựng một quốc gia riêng biệt, hoàn toàn tự chủ ở phương nam. Đó là một kỳ công, là một chiến thắng vĩ đại mà không phải dân tộc nào cũng làm được.

Sở dĩ người Việt đã làm nên được điều vĩ đại ấy, bởi vì họ có một tinh thần vững chắc: Tinh thần tự chủ, yêu dân tộc và đất nước của họ. Một ý chí mạnh mẽ và sắt đá không chịu làm tay sai cho ngoại bang.

Từ ý chí đó, họ đã có một sức mạnh của đoàn kết, sức mạnh chiến đấu của toàn dân.

Nỗi lo chung của mọi ngườihoànglonghải – Chống Giặc Tầu (Bài 1) – Tổ tiên chúng ta chống Tầu xâ

Mỗi khi có chiến tranh chống ngoại xâm, hầu như người Việt Nam đều đồng một lòng, trên dưới như nhau. Ai ai cũng lo việc nước. Câu chuyện ông Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt, nghĩ tới giặc xâm lấn, vua tới bên cạnh mà không hay là một ví dụ điển hình.

(Xem phụ lục về Phạm Ngũ Lão) -1

Sự lãnh đạo của các nhà vua

Đó là cuộc chiến đấu do vua lãnh đạo. Tất cả các cuộc chống Tầu đều do vua lãnh đạo, nhưng rõ ràng nhất là trường hợp Lê Hoàn, Ông phải lên làm vua để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống. Các nhà vua về sau thuộc đời nhà Lý, nhà Trần, điển hình là vua Trần Nhân Tông, ba lần đại thắng quân Mông Cổ, của Lê Lợi khi ông lãnh đạo cuộc khởi nghĩa  Lam Sơn, là Nguyễn Huệ, ông phải làm lẽ đăng quang ở núi Bân ở Huế, để được chính danh khi đem 20 vạn quân ra Bắc phá quân Thanh.

Tài ba của tướng lãnh

Dưới sự lãnh đạo của vua, là tài điều binh của các vị tướng giỏi, như Phạm Cự Lượng đời Tiền Lê, Lý Thường Kiệt đời nhà Lý, Trần Hưng Đạo đời nhà Trần, Nguyễn Trãi thời Lê Lợi khởi nghĩa,  và các tướng khác như Đô Đốc Lộc, Đô Đốc Tuyết thời chống quân Thanh.

(Xem phụ lục về Hội Nghị Bình Than) -2

Ai ai cũng đánh giặc

Vì nước Tầu dân đông binh nhiều, nên mỗi khi có chiến tranh, nước Việt phải dốc toàn lực lượng ra chống đỡ. Đời nhà Trần, ai cũng phải đi lính, tham gia binh đội khi có lệnh vua ban. Trong khi hòa bình, người dân vẫn sẵn sàng chiến đấu khi có biến loạn. Đối với người nông dân Việt Nam, nông dân chiếm đa số, người ta phải sẵn sàng chiến đấu theo như chiến lược “Tĩnh vi nông, động vi binh”. Khi nước nhà yên tĩnh, không có ngoại xâm, người nông dân được lui về làm ruộng. Khi có biến động, khi có ngoại xâm, ai ai cũng phải gia nhập binh lính, cầm gươm giáo ra trận.

Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh

Việc chiến đấu gìn giữ tự chủ không dành cho một ai, không chỉ riêng cho đàn ông con trai, mà ngay cả đàn bà cũng phải tham gia đánh giặc. Vì vậy, nước ta có câu tục ngữ “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Hai bà Trưng không chỉ lãnh đạo cuộc kháng chiến mà bà còn có hơn mười nữ tướng, phần đông là những tướng tài giỏi.

(Xem phụ lục về Hai Bà Trưng, về Bà Triệu) -3

 

Trẻ em, thiếu nhi cũng đánh giặc

Khi có giặc, trẻ con cũng tham gia giết giặc.

Đó là câu chuyện cậu bé làng Phù Đổng phá giặc Ân đời Hùng Vương thứ 6.

(Xem phụ lục về Phù Đổng Thiên Vương)  -4

Đó cũng là câu chuyện thiếu niên Trần Quốc Toản, không được tham dự hội nghị Bình Than nên tức giận bóp nát quả cam cầm trong tay mà không hay.

(Xem phụ lục về Trần Quốc Toản) -5

Tổ tiên cũng đánh giặc, điều khiển âm binh

Khi có giặc ngoại xâm, tổ tiên phù hộ cho con cháu đánh giặc, cùng con cháu tham gia chiến đấu, như câu chuyện những con ngựa đá đời Trần.

(Xem phụ lục về ngựa đá)- 6

Đó cũng là câu chuyện anh em Trương Hống, Trương Hát điều khiển Âm Binh, giúp Lý Thường Kiệt đáng tan quân Tống ở sông Như Nguyệt

(Xem phụ lục hai tướng Trương Hống và Trương Hát)- 7

Phật thánh cũng mang niềm đau khổ chung của dân tộc.

(xem phụ lục về bài thơ của Huy Cận) – 8

Loài vật cũng đánh giặc

Chính thần Kim Qui giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, và cũng chính thần Kim Qui dâng vua Lê Lợi thanh kiếm đánh bại quân nhà Minh

(Xem phụ lục về sự tích Hồ Gươm)- 9

Và cũng chính những con ngựa đá đưa tổ tiên đánh giặc đời nhà Trần.

(Xem phụ lục ngựa đá) -6

Cũng chính con voi đưa Trần Hưng Đạo sang sông, mắc lầy mà chết, khiến Trần Hưng Đạo chỉ sông mà thề để kích thích quân sĩ.

(Xem phụ lục: “Lời thề sông Hóa”)- 10

Tinh thần dân chủ trong cuộc chiến chống xâm lăng

Các bô lão cũng tham gia đánh giặc khi các cụ họp Hội Nghị Diên Hồng và thề “Quyết Chiến”. Đây là hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, trước cả những hội nghị dân chủ Âu Mỹ hàng năm trăm năm.

(xem phụ lục về Hội Nghị Diên Hồng)- 11

Vì việc nước quên thù riêng

Đó là hành vi cao thượng của Trần Hưng Đạo, câu chuyện Trần Khánh Dư

(Xem phụ lục về Trần Hưng Đạo)- 12

Kết:

Người Việt chống xâm lăng bằng tổng lực, toàn sức mạnh của dân tộc, không phải chỉ bằng ngưòi nào, đoàn thể nào, giai tầng nào, hạng người nào. Tổ tiên chống xâm lăng không phân biệt già trẻ, trai gái, đàn ông, đàn bà… Và bằng tất cả ý chí, lòng yêu nư1ơc, và lòng quả cảm, hy sinh của họ, bằng tất cả sức mạnh tinh thần cũng như vật chất, tài sản, vật dụng. Cái gì chống giặc được thì dùng cái đó. Rõ nhất là trong ba lần đánh bại quân Mông Cổ, và chiến công của vua Quang Trung năm Kỷ dậu (1789)

Lịch sử đời nhà Hồ cho chúng ta thấy nếu chia rẽ thì sẽ thua. Hồ Quí Ly không đoàn kết được dân tộc, nên dân tộc ta lầm than trong thời bị nhà Minh cai trị.

 

Phụ lục:

1-/ Phạm Ngũ Lão, ngồi đan sọt, lo việc nước

Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ kể lại chuyện Phạm Ngũ Lão ra mắt Trần Hưng Đạo đại ý như sau: Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy Phạm Ngũ Lão ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi. Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi thản nhiên, như không để ý đến ai cả. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không nhúc nhích, thấy vậy Vương dừng lại hỏi, bấy giờ Phạm Ngũ Lão mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Trần Hưng Đạo cho ông ngồi cùng kiệu đưa về kinh sư. Từ đó Phạm Ngũ Lão trở thành môn khách của Trần Hưng Đạo.

2)-/ Hội Nghị Bình Than

Hội Nghị Bình Than là một hội nghị quân sự do vua Trần Nhân Tông triệu tập vào năm 1282 để bàn phương hướng kháng chiến khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Hội nghị Bình Than được tổ chức vào tháng 10 năm 1282 ở làng Bình Than, tổng Vạn Ti, vùng đất ngày nay là Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Nơi họp có tính cách bí mật vì cần tránh tai mắt của bọn gián điệp đối phương. Vào thời Trần, con sông Thương cũng có tên là Bình Than.

Đây là hội nghị của những người nắm giữ trọng trách lãnh đạo sự nghiệp giữ nước và chỉ bàn hai vấn đề thiết yếu nhất: đó là xác định phương hướng chiến lược chống xâm lăng và tổ chức bộ máy chỉ huy chống xâm lăng. Ở hội nghị Bình Than, vua Trần Nhân Tông và Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đã quyết định trao quyền Tổng chỉ huy quân đội cho Trần Quốc Tuấn, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân.

3)-/ Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Năm giáp-ngọ (34) là năm Kiến-võ thứ 10, vua Quang-vũ sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao-chỉ.

Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao-chỉ đã có lòng oán giận lắm. Năm canh-tí (40) người ấy lại giết Thi Sách người ở quận Châu-Diên (phủ Vĩnh tường, trước thuộc về Sơn Tây, nay thuộc về tỉnh Vĩnh- yên).

Vợ Thi Sách là Trưng-Trắc con gái quan lạc tướng ở huyện Mê-linh (làng Hạ-lôi, huyện Yên-lãng, tỉnh Phúc-yên) cùng với em gái là Trưng-Nhị, nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận Nam Hải.

Lúc bấy giờ những quận Cửu-chân, Nhật-nam và Hợp-phố cũng nổi lên theo về với hai bà Trưng-Thị. Chẳng bao lâu quân hai bà hạ được 65 thành-trì. Hai bà bèn tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê-linh, là chỗ quê nhà.

Mã-Viện sang đánh Giao-Chỉ.

Năm tân-sửu (41) vua Quan-vũ sai Mã Viện làm Phục-ba tướng-quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan Lâu-thuyền tướng quân là Đoàn Chí sang đánh Trưng-vương.

Mã Viện là một danh-tướng nhà Đông-Hán, lúc bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, nhưng vẫn còn mạnh, đem quân đi men bờ để phá rừng đào núi làm đường sang đến Lãng-bạc, gặp quân Trưng-Vương hai bên đánh nhau mấy trận11. Quân Trưng-vưng là quân ô-hợp không đương nổi quân Mã Viện, đã từng đánh giặc nhiều phen. Hai bà rút quân về đóng ở Cẩm-khê ( phủ Vĩnh- tường, tỉnh Vĩnh-yên). Mã Viện tiến quân lên đánh, quân hai bà vỡ tan cả. Hai bà chạy về đến xã Hát-môn, thuộc huyện Phúc-lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn-tây), thế bức quá, bèn gia mình xuống sông Hát-giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng-hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí -mão (43).

Những tướng của hai bà là bọn Đô Dương chạy vào giữ huyện Cư- phong thuộc quận Cửu-chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, bọn Đô Dương đều phải ra hàng.
Hai bà họ Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài-trí người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng đủ để cái tiếng thơm về muôn đời. Đến ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ hai bà để nghi-tạc cái danh-tiếng hai người nữ anh-hùng nước Việt-nam ta12.

Sử-gia Lê văn Hưu nói rằng: “Trung Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi tiếng đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như giở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi-tớ người Tàu, mà không biết xấu-hổ với hai người đàn-bà họ Trưng!”

(Sử chép rằng Lãng-bạc là Hồ-tây ở gần Hà-nội, nhưng có người bác đi bảo không).

Nay ở làng Hát-môn, huyện Phúc-thọ, tỉnh Sơn Tây và ở bãi Đồng-nhân, ở gần Hà-nội có đền thờ hai bà, đến ngày mồng 6 tháng 2 thì có hội.

            (trích VNSL – Trần Trọng Kim)

 

Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu

Năm mậu-thìn (248) là năm xích-ô thứ 11 nhà Đông ngô, Ngô chủ sai Lục Dậu sang làm thứ-sử Giao-châu.
Năm ấy ở quận Cửu-chân có người đàn bà tên là Triệu Thị Chinh khởi binh đánh nhà Ngô.

Sử ta chép rằng bà Triệu là người huyện Nông-cống bấy giờ. Thủa nhỏ cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu quốc Đạt, dến độ 20 tuổi gặp phải người chị dâu ác nghiệt, bà ấy giết đi rồi vào ở trong núi. Bà ấy là một người có sức mạnh, lại có chí-khí và lắm mưu-lược. Khi vào ở trong núi chiêu mộ hơn 1,000 tráng sĩ để làm thủ hạ. Anh thấy thế mới can bà, thì bà bảo rằng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng-kình ở bể đông chứ không thèm bắt-chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì-thiếp người ta.”

Năm mậu-thìn (248) vì quan-lại nhà Ngô tàn-ác, dân-gian khổ-sở, Triệu quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu-chân. Bà đem quân ra đánh giúp anh, quân sĩ của Triệu quốc Đạt thấy bà làm tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Khi bà ra trận thì cưỡi voi và mặc áo giáp vàng là Nhụy-kiều tướng-quân.

Thứ sử Giao-châu là Lục Dận đem quân đi đánh, bà chống nhau với nhà Ngô được năm sáu tháng. Nhưng vì quân ít thế cô, đánh mãi phải thua, bà đem quân chạy đến xã Bồ-điền (nay là xã Phú-điền thuộc huyện Mỹ-hóa) thì tự-tử. Bấy giờ mới 23 tuổi.
Về sau vua Nam Đế nhà Tiền-Lý, khen là người trung-dũng sai lập miếu thờ, phong là: “Bất chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu-nhân”. Nay ở xã Phú-điền, tỉnh Thanh-hóa còn đền thờ. (VNSL – TTK)

4-/ Chuyện cậu bé làng Phù Đổng

Đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc Ân, hung mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Phù Đỗng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.

Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến đi mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương.

Truyện này là truyện tục truyền như vậy, chứ không có lẽ tin làm sự thực được. Họa chăng đời bấy giờ có người tướng giỏi, đánh được giặc, về sau người ta nhớ ơn làm đền thờ thì hợp lẽ hơn. Hiện bây giờ có đền thờ ở làng Gióng tức làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng tám tháng tư cũng có hội vui lắm, tục gọi là đức Thánh Gióng.

                                    (VNSL – TTK)

5-/ Câu chuyện Trần Quốc Toản

Đại Việt Sử ký Toàn Thư chép: Vua thấy Hoài Văn Hầu Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn kích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết. Sau đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Sau này khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch. Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương.

Tháng 4 năm1285, vua Trần Nhân Tông sai Chiêu Thành Vương, Hoài Văn Hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đem tiệp binh đón đánh quân Nguyên ở bến Tây Kết.

Ngày 10 tháng 5 năm đó có người về báo cho hai vua Trần là thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn Hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại quân giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn… Thoát Hoan, Bình Chương A Lạt rút chạy qua sông Lô.

Trong các sử sách của Việt Nam như Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Việt sử Tiêu án và các quyển sử soạn gần đây như Việt sử Tân biên của Phạm Văn Sơn, Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm đều không thấy đề cập đến cái chết của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản. Chỉ có ĐVSKTT bản kỷ quyển V có viết: “… Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước Vương”. Nhưng các quyển sử của nhà Nguyên lại có đề cập đến cái chết của ông”.

6-/ “Xã tắc hai phen bon ngựa đá”

Sau đại thắng ở sông Bạch Đằng năm 1288, kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Trần Hưng Đạo rước vua Nhân Tông cùng Thượng hoàng Thánh Tông về Thăng Long. Vua mở tiệc khao thưởng quân sĩ, truyền cho dân chúng mở hội mừng ba ngày đêm, gọi là “ thái bình diên yến”.

Tương truyền mấy hôm đó, người ta thấy chân đá tạc ra để chầu hầu trước các miếu, điện điều có dính bùn, tin rằng chính các con ngựa đá và muôn vật vô tri của đất nước đều có tham gia đánh giặc.

Việc đến tai vua Trần Nhân Tông, nhân lúc vui mừng vua liền ứng khẩu ngâm hai câu thơ rằng:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

Dịch:

Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.

 

7)- Tướng quân Trương Hống, Trương Hát

Hai anh em Trương Hống, Trương Hát, đều là tướng giỏi của Triệu Quang Phục. Hai người theo giúp Triệu Việt Vương lập được nhiều chiến công lẫy lừng. Về sau, thế lực cùng kiệt, nhưng hai ông nhất định không chịu hàng, cùng nhịn đói mà chết

Năm 1076, nhà Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết đem quân sang xâm lược nước ta. Tướng nước ta là Lý Thường Kiệt dàn quân bờ nam sông Như Nguyệt để chống giặc.

 Một đêm, Lý Thường Kiệt đến đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở cửa sông Nam Quận dâng hương hoa lễ vật, cầu nguyện

Sau đó, mỗi khi đêm xuống, trong các trại giặc, từ tướng tới quân, chúng đều tưởng như thấy có thiên binh vạn mã từ đâu ầm ầm kéo đến … Chính hai vị tướng quân Trương Hống, Trương Hát đêm nào cũng dẫn âm binh tới uy hiếp tinh thần quân giặc, khiến quân giặc chưa đánh đã chạy.

8-/ Các vị La Hán chùa Tây Phương.

Các vị La Hán chùa Tây Phương
Tôi đến thăm về lòng vấn vương.
Há chẳng phải đây là xứ Phật,
Mà sao ai nấy mặt đau thương?

Đây vị xương trần chân với tay
Có chi thiêu đốt tấm thân gầy
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự bấy ngồi y cho đến nay.

Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
Trán như nổi sóng biển luân hồi
Môi cong chua chát, tâm hồn héo
Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.

Có vị chân tay co xếp lại
Tròn xoe từa thể chiếc thai non
Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn….

 

Các vị ngồi đây trong lặng yên
Mà nghe giông bão nổ trăm miền
Như từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng tối đùn ra trận gió đen.

 

Mỗi người một vẻ, mặt con người
Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời
Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.

Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
Một câu hỏi lớn. Không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

Có thực trên đường tu đến Phật
Trần gian tìm cởi áo trầm luân
Bấy nhiêu quằn quại run lần chót
Các vị đau theo lòng chúng nhân?

Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?
Sống lại cho tôi hỏi một câu:
Bác tạc bấy nhiêu hình khô hạnh
Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?

Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão
Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời
Là cha ông đó bằng xương máu
Đã khổ, không yên cả đứng ngồi.

 

Cha ông năm tháng đè lưng nặng
Những bạn đương thời của Nguyễn Du
Nung nấu tâm can vò võ trán
Đau đời có cứu được đời đâu.

Đứt ruột cha ông trong cái thuở
Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ
Bao nhiêu hi vọng thúc bên sườn
Héo tựa mầm non thiếu ánh dương.

Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la
Sờ soạng, cha ông tìm lối ra
Có phải thế mà trên mặt tượng
Nửa như khói ám, nửa sương tà.

 

Các vị La Hán chùa Tây Phương!
Hôm nay xã hội đã lên đường
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.

Cha ông yêu mến thời xưa cũ
Trần trụi đau thương bỗng hoá gần!
Những bước mất đi trong thớ gỗ
Về đây, tươi vạn dặm đường xuân.

27-12-1960

Trả lời Hà Minh Đức về bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương”, Huy Cận nói:

“La Hán là những vị tu gần thành Phật, nhưng tôi thấy đây là những hình ảnh của cha ông và toàn là những hình ảnh đau khổ; tất nhiên không phải tất cả đều đau khổ, nhưng ấn tượng chung là như vậy. Tôi về ghi trong sổ tay mấy câu: “Các vị La Hán chùa Tây Phương, nỗi đau khổ của cha ông” nhưng không làm được bài thơ mặc dầu đã có những ý thơ đó.”

Ý tưởng về “nỗi đau khổ của cha ông” trong dòng lịch sử dân tộc, xuất hiện trong trí ông năm 1940, khi ông đi thăm chùa Tây phuơng lần đầu. Và mãi đến:

“Ngày 28 – 2 -1960 tôi đi thăm chùa Tây Phương cùng mấy chuyên gia Trung Quốc. Bóng dáng của ông cha ta ít nhiều đã phản ánh được thời đại lúc đó. Các vị La Hán ở Trung Quốc cũng rất đẹp, công phu nhưng “khí thế đằng đằng” khác với các vị La Hán đau khổ, gầy guộc nhưng rất có thần của ta. Buổi tối về tôi viết một mạch 15 đoạn. Đây không phải là tác phẩm bàn luận về Phật giáo mà chỉ là sự thể hiện một cách cảm nhận và suy nghĩ về quá khứ của lịch sử dân tộc.”

Chúng ta có thể tự hỏi: cái “Khí thế đằng đằng” là cái chi vậy?

Có phải đó là cái khí thế của Mã Viện khi đem quân qua “hỏi tội” hai bà Trưng sao dám chống lại Thiên Triều, hay cái “khí thế” của Trương Phụ, Liễu Thăng khi vượt qua ải Nam Quan. Và “các vị La Hán đau khổ, gầy guộc…” chính là nỗi gian khổ của một dân tộc triền miên chống lại kẻ thù từ phương Bắc?

Cái Huy Cận nói “rất có thần” đó là cái gì? Cái thần ông thấy mà không nói được, hay ông không dám nói chính là bản năng sinh tồn của một dân tộc nhỏ bé, phải luôn luôn chống cự bọn xâm lược từ phương bắc xuống để giữ nền tự chủ, và phát triển về phương nam để tìm kiếm sự sinh tồn. Chỉ có vậy, ông mới đem so sánh một cách khéo léo và tế nhị các ông La Hán ở bên Tầu với các La Hán ở chủa Tây Phương của ta.

Cái định kiến cứng nhắc của người Cộng Sản, kể cả Huy Cận là người ta không thấy được sự đồng nhất giữa đạo Phật với Dân tộc khi nhìn vào hình tượng các vị La Hán cũng như văn hóa của người Việt Nam, khiến họ chủ trương phải tiêu diệt nó đi để xây dựng một văn hóa mới, cái gọi là “Văn hóa Xã hội Chủ nghĩa”.

9-/ Sự tích Hồ Gươm

Khi ấy Nhà vua cùng người ở trại Mục sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:

– Sắt nào đây?

Thận nói:

– Đêm trước quăng chài bắt được.

Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận Thiên”, cùng chữ “Lợi”. Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:

– Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!

Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.

(Truyền thuyết này được đưa vào nội dung sách giáo khoa, nói về việc Bình Định Vương dùng gươm đó đánh nhau với giặc, cuối cùng đuổi được quân Minh và lên làm vua.)

Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Tả Vọng. Nhận lệnh Long Quân, rùa nổi lên mặt nước.

Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm bên người tự nhiên động đậy.

Rùa tiến về thuyền vua và nói

– Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!

Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước.

Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.

(trích “Lam Sơn thực lục” của Nguyễn Trãi)

10-/ Lời thề sông Hóa

Năm 1288, trong một lần đem quân đánh Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng, voi của Hưng Đạo Vương bị mắc lầy bên bờ sông Hóa. Binh lính tìm đủ cách kéo voi lên nhưng không được. Vì việc quân không thể chậm trễ, Hưng Đạo Vương đành phải bỏ voi lại, dù biết voi sẽ chết khi thủy triều lên. Voi ứa nước mắt nhìn theo Vương.

Ngại binh sĩ cho đó là điềm xui xẻo, Hưng Đạo Vương tuốt gươm chỉ dòng sông, nói to lên rằng: “Nếu trận này không đánh thắng được giặc, ta thề không về bến sông này nữa!”

Vì câu nói đó, binh lính hết lòng đánh giặc. Trận đó Hương Đạo Vương thắng lớn.

Sau đó, Trần Hưng Đạo cho đắp mộ voi nơi bến sông, dân chúng lập miếu thờ. Do đó, bến sông nầy có tên là Bến Tượng.

11-/ Hội Nghị Diên Hồng

Nếu Hội Nghị Bình Than họp vào tháng 10 năm 1282 do vua Trần Nhân Tông triệu tập để bàn phương hướng kháng chiến chống quân Nguyên Mông, thì Hội Nghị Diên Hồng lại được họp 2 năm sau đó, vào tháng Chạp năm Giáp Thân 1284 và do Thượng Hoàng Trần Thánh Tông chủ trì. Hội nghị này được tổ chức trước thềm điện Diên Hồng, trong khuôn viên đế đô Thăng Long. Đây là một hội nghị được xem như dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta mà các thành viên đều là các bô lão từ khắp nơi trong nước, do dân chúng chọn lọc hay đề nghị.

Các bô lão không phải là những nhà quân sự chuyên môn mà chỉ là những người đại diện có uy tín trong dân gian, nói ra điều gì thì người dân phải lắng tai nghe và đưa ra thực hiện.

Thượng Hoàng Trần Thánh Tông chỉ đưa ra một câu hỏi cho toàn thể hội nghị, được coi như một lời trưng cầu dân ý. Câu hỏi đó là: Trước cuộc xâm lăng của quân Mông, các bô lão nên hòa hay nên chiến.

Câu hỏi đã ngắn gọn mà câu trả lời còn ngắn gọn hơn. Tất cả các bô lão đều đồng thanh hô to: Chiến. Như thế là toàn dân đã chuẩn bị cho cuộc chiến.

12-/ Câu chuyện vì nước quên thù riêng

Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha trăn trối để dò ý hai gia tướng là Dã Tượng và Yết Kiêu. Hai người bẩm rằng: “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia tướng, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi”.

(Lấy từ tích cũ: Sở chiêu vương chạy loạn, có người làm thịt dê tên là Duyệt đi theo. Sau Sở Chiêu Vương trở về nước, ban thưởng cho Duyệt. Duyệt từ chối và nói: “Nhà vua mất nước, tôi không được giết dê, nay vua về nước, tôi lại được làm nghề giết dê, tước lộc thế là đủ còn thưởng gì nữa”.)

Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người. Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ vương Trần Quốc Hiến: “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?”

Hưng Vũ vương Trần Quốc Hiến thưa: “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!”

Trần Quốc Tuấn ngẫm cho là phải. Lại một hôm Trần Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Tảng tiến lên thưa: “Tống thái tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ.”

Trần Quốc Tuấn rút gươm mắng: “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra” và định giết Quốc Tảng. Hưng Vũ vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha.

Sau đó, ông dặn Hưng Vũ vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng.”

&

Năm Thiệu Bảo thứ 7, Ất Dậu, 1285, thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên (Quảng Ninh ngày nay), sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn (mũi biển, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) để đánh lừa giặc.

Lúc ấy, xa giá nhà vua phiêu giạt, mà Trần Quốc Tuấn vốn có kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh vương, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi. Còn nhiều việc nữa, đại loại như thế.

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết: “Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử, như hào cửu tứ của quẻ Tùy (xem Kinh Dịch) thì mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếu không thế thì nhất định sẽ mang tai họa. Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm được như vậy.”

Quan hệ với Trần Quang Khải

Trước kia, Trần Thánh Tông thân đi đánh giặc, Trần Quang Khải theo hầu, ghế tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương bắc đến. Trần Thái Tông gọi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tới bảo: “Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc.”

Trần Quốc Tuấn thưa: “Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi quan gia đi đánh giặc xa, Thái sư theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Thượng tướng. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn.”

Một hôm, Trần Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Trần Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Trần Quang Khải vốn sợ tắm, Trần Quốc Tuấn thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Trần Quang Khải: “Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm”. Rồi cởi áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói: “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng.” Trần Quang Khải cũng nói: “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho.”

Trước đây, hai ông tuy một là Quốc công tiết chế, một là Thượng tướng thái sư nhưng do lo lắng về mối thù của Trần Liễu để lại mà có mối hiềm nghi xa cách. Sau khi được Trần Quốc Tuấn tắm cho, hai ông trở nên thân tình, tin tưởng nhau, tình nghĩa qua lại giữa hai ông ngày càng thêm mặn mà. Trong việc giúp đỡ nhà vua, hai ông đều đứng hàng đầu.

                                                                        (theo Wiki)

Câu chuyện Trần Khánh Dư

Trần Khánh Dư tuy trước đó có công, nhưng vì thông dâm với công chúa Thiên Thụy, vợ của Hưng Vũ Vương Nghiễn là con trai Trần Quốc Tuấn, nên bị đoạt hết quan tước, tịch thu tài sản.

Trần Khánh Dư về ở Chí Linh làm nghề bán than.

Lúc vua Trần tới bến Bình Than, Khánh Dư đội nón

lá, mắc áo ngắn ở trên một chiếc thuyền lớn chở than củi. Vua Trần thấy vậy cho mời vào. Vua bảo quan thị thần:

“Người kia chẳng phải là Nhân Huệ Vương hay sao?”

Lập tức sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo. Đến cửa Đại Than thì kịp. Quân hiệu gọi:

“Ông lái ơi, có lệnh vua triệu”.

Khánh Dư trả lời: “Lão là người buôn bán, có việc gì mà phải triệu?”

Quân hiệu trở về tâu thực như thế. Vua bảo:

“Đúng là Nhân Huệ đấy, ta biết người thường tất không dám nói thế”.

Vua lại sai nội thị đi gọi. Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá đến gặp vua. Vua nói:

“Nam nhi mà đến nỗi này thì thực là cùng cực rồi”, bèn xuống chiếu tha tội cho ông. Khánh Dư lên thuyền lạy tạ. Vua ban cho áo ngự, cho ngồi các hàng dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc nước, nhiều điều hợp ý vua.

Nhưng rốt cuộc Khánh Dư cũng không sửa đổi được lỗi lầm xưa.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: