Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 21) Thợ Mộc

1Ai ơi chớ lấy thợ cưa

Cưa qua cưa lại, dái đưa lòng thòng.

(ca dao)

Ai nói thợ mộc không phải là thợ cưa?

Thợ mộc cũng phải cưa gỗ chứ!

Đặt tấm gỗ trên cái đòn, để cho cái đầu hơi chếch ra phía ngoài, cầm cái cưa dài, xẻ dọc tấm gỗ; có khi là một thanh gỗ thì “đưa” thế nào được.

Câu ca dao trên là nhằm nói tới những người xẻ gỗ súc. Súc gỗ to vài dài, được chống nghiêng, đầu cao đầu thấp. Hai người thợ mộc, cầm cái “cưa cá mập”, người đầu cao, người đầu thấp, cưa qua cưa lại, thế mới đúng với câu ca dao.

Đội cưa của tôi không có cưa cá mập, nhưng có cái cưa dĩa. Buổi sáng thì tôi tà tà, chuẩn bị để cưa gỗ, có khi phải mài dĩa cưa; buổi chiều, máy điện chạy mới có việc.

Tôi và một người bạn tù nữa, đẩy những thanh gỗ dài, xẻ nhỏ theo kích thước, xong giao cho các bạn tù khác, cắt ngắn, đóng khuôn ngói. Đúng ra là đóng khuôn để lò gạch phơi ngói, trước khi đem nung.

Mô-tơ thì yếu, dĩa cưa mòn nhiều, người đẩy, người kéo phải dùng hết sức, mạt cưa bay lên mù mịt, văng vào đầu, vào mặt, vào mắt, có khi không kịp lau vì còn phải lo đẩy thanh gỗ đi tới, rất mệt, nên khi cưa máy, trong tình cảnh như thế, đâu có biết có cái gì “đưa long thòng” hay không!

Chỉ tiêu là ba ngàn cái khuôn như thế, do trại tù Xuân Lộc ký hợp đồng với lò ngói nào đó, ở Hố Nai.

Nhưng tôi cũng phải nói tại sao tôi lại phải làm cái công việc thợ cưa nầy.

Sau khi chúng tôi bị chuyển qua Trại Đá mấy tháng, và cũng sau khi “mười ba con ba” bị chuyển ra trại A-30 ở Phú Yên rồi, thì khoảng mấy chục “học viên” (danh từ Dziệt Cộng đấy), hầu hết là cấp bậc đại úy, từ trại Vườn Đào, ở Cai Lậy, bị chuyển lên Trại Đá ở cùng chúng tôi, nhưng khác nhà, khác đội.

Trại Vườn Đào là tên một trại tù cải tạo nào đó ở Cai Lậy, chớ không phải là nơi kết nghĩa của ba ông Lưu Quan Trương. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn trân trọng hai chữ Vườn Đào, tuồng như nó nhắc nhở chúng tôi về “tình kết nghĩa” của những người tù cải tạo vậy.

&

Việc chuyển tù cải tạo, ở ngoài Bắc cũng như ở trong Nam, cho người ta thấy cái lúng túng của Việt Cộng Hà Nội.

Sau khi chiếm miền Nam, Võ Nguyễn Giáp đưa ra kế hoạch gọi là “Bộ đội làm nhiệm vụ kinh tế”. Nói thì nghe kêu vậy, chớ cái gọi là kế hoạch nầy cũ rích, nước ta đã có từ mấy trăm năm trước.

Chỉ một ví dụ thôi, độc giả thấy ngay.

Khi đánh nhau với quân nhà Minh, Lê Lợi cần nhiều quân. Đến khi quân nhà Minh thua rồi, hai nước giao hảo bình thường, đoán chừng mấy chú Ba “cạch”, không dám dòm ngó đến nước ta nữa, thì vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) phải giảm quân. Phần thì cho binh lính về quê, nay gọi là “giải ngũ”, làm ruộng, phần thì đi “dinh điền”, tức là đi khai phá đất đai làm nông nghiệp. Giữ binh lính ở dinh điền cũng là phòng khi, nếu nhà Minh trở mặt, làm bậy thì vua Lê có binh lính ngay.

Xưa, gọi việc ấy là “tiến vi binh, thối vi nông.”

Vua Lê thì có viễn kiến, nhìn thấy một tương lai thanh bình xa, còn Võ Nguyên Giáp thì chẳng có viễn kiến gì hết, chỉ mấy năm là coi như xong, viễn kiến thành “cận thị”.

Mới chiếm được miền Nam chưa bao lâu thì Khmer Đỏ đánh phá ở các tỉnh giáp biên với Miên, khiến Cộng Sản Hà Nội, cuối năm 1978, cho quân sang xâm lăng Miên. Cũng vì vậy nên “lính Tầu Ô” của anh Tầu lùn họ Đặng đánh dọc biên giới sáu tỉnh phía Bắc.

Lính tráng phải ra chiến trường chớ “làm kinh tế” gì nữa. “Viễn kiến” của Võ Nguyên Giáp kéo dài chưa tới ba năm.

Bên cạnh đó, Cộng Sản Hà Nội cũng lo “giữ tù cải tạo” cho kỹ, lỡ như để cho Tầu Cộng “chộp” được, thì đám tù cải tạo nầy sẽ là cán bộ, cấp chỉ huy; còn binh lính thì trong dân chúng chẳng thiếu chi, chẳng bao lâu Tầu Cộng thành lập được một đội quân chống Cộng ngay trên lãnh thổ Việt Nam.

Lo xa như thế, các trại tù cải tạo trên biên giới phải dẹp cho sớm, đưa tù cải tạo về Trung Du, Thanh Hóa, Nghệ An…

Ấy là ở ngoài Bắc, còn trong Nam thì Việt Cộng cũng lo chuyển trại tù, gom lại mà giữ cho kỹ.

Mấy năm trước Việt Cộng đem tù cải tạo trại Vườn Đào, đi làm ruộng, đi phá rừng ở Rạch Giá, Trà Tiên. Khi Khmer Đỏ đánh vào Hà Tiên, Dziệt Cộng sợ, đem đám tù nầy về Cai Lậy, đưa vô trại Vườn Đào, xa biên giới. Cũng chưa yên tâm, bây giờ thì Dziệt Cộng cho vô Trại Đá cho chắc chuyện.

Trước 1975, phần đông cái tù cải tạo Vườn Đào, phục vụ ở Quân Khu IV, các Tiểu Khu Phong Dinh hoặc Sadec, đông nhất là thuộc Tiểu Khu Kiến Hòa.

Không phải định kiến, nhưng xét ra, đám Vườn Đào và anh em chúng tôi, gốc Saigon, có khác nhau đấy. “Dân Saigon” thì “phản động” hơn, “nói năng linh tinh” hơn, “bướng” hơn, còn đám Vườn Đào thì “hiền” hơn.

Chính bọn Công An cũng thấy như vậy đấy! Bởi vì:

Hôm có tin phái đoàn Liên Hợp Quốc đến thăm trại, bọn Công An cho “diễn trò học tập cải tạo” như thế nầy:

Sáng hôm đó, kẻng gọi đi lao động trễ một giờ đồng hồ!

Có chuyện chi đây?

Té ra Dziệt Cộng đem chúng tôi đi giấu, đem tuốt vô trong bìa rừng. Tới bìa rừng thôi, đem tuốt vô rừng chúng tôi dễ trốn nên bọn chúng sợ.

Làm như thế, Phái Đoàn LHQ không gặp chúng tôi được vì sợ như lỡ như Phái Đoàn Liên Hợp Quốc gặp được, chúng tôi sẽ tố cáo tùm lum. Việc nầy, độc giả coi trong bài sau sẽ biết rõ hơn.

Còn lại chỉ một đội, không đem đi giấu. Đó là Đội Vườn Đào. Tên đội nầy là do chúng tôi đặt ra.

Sáng hôm đó, “cải tạo viên” (danh từ Việt Cộng đấy!) đội Vườn Đào, được lệnh ăn mặc sạch sẽ, đẹp đẽ, tức là “diện vô” mấy bộ “trei-di” do anh em cất kỹ. Dziệt Cộng phát cho mỗi người một cuốn tập (vở), bút chì. Chờ khi chúng tôi xuất trại rồi, các bạn đó mới tập trung lên lớp, tức là đưa vào một phòng phía ngoài ngôi nhà giam, có bàn ghế. Chờ khi Phái Đoàn Liên Hợp Quốc tới thì “diễn trò học tập” cho Phái Đoàn LHQ coi chơi.

Dĩ nhiên, đây là trò lừa bịp của Dziệt Cộng.

Dziệt Cộng cũng chọn đám Vườn Đào diễn trò vì chúng nó nghĩ đám nầy “hiền”, không phản phé!

&

Khoảng một hay hai tháng sau, mặc dù Dziệt Cộng cho rằng họ “hiền” nhưng chúng cũng không thể không nghi họ trốn trại, nên khi cần một “đội Thợ Mộc”, nguyên cả đội nầy được chọn làm công việc đó, việc đóng khuôn phơi ngói, như tôi đã trình bày ở trên.

Dương Tiến Đông, Lương Văn Lịch, Trịnh Xuân Chính và tôi bị “tình nghi trốn trại”, nên “biên chế” qua Đội Mộc.

Hôm ôm khăn gói qua đội mới, anh Trịnh Xuân Chính, người có “thành tích trốn trại”, nói: “Mẹ! tụi nó sợ bọn mình trốn trại nên chuyển qua đây.” Trịnh Xuân Chính nói câu ấy, ý cho là Đội Mộc nằm sát bên hông trại, đâu có đi xa vào rẫy để tù có thể trốn được. Đông góp ý: “Đ. má! Đâu cũng tù. Qua Đội Mộc cho vui.”

Qua Đội Mộc vui thiệt!

Anh Chính tìm được nhiều cái mắt rễ cây gõ đỏ, gọi là nu. Nu thường cứng lắm. Vậy mà anh ta mày mò, đục, khoan, gọt… thành một cái ống vố, còn đẹp hơn cái “Dunhill thứ thiệt” mà tôi đang dùng.

Thấy cái Dunhill của tôi “thâm niên công vụ”, anh lấy cái ống vố của anh mới làm, đưa cho tôi nói: “Cho cậu! Mình làm cái khác!” Cho tôi! Chứng tỏ anh là người tốt bụng, nhưng xem ra, “ông học trò cử nhân văn chương Pháp” nầy coi việc làm ống vố của anh như một thú tiêu khiển mà không chừng quên hết mấy ông Tây mắt xanh mũi lõ làm thơ viết văn trong văn chương Pháp, bởi vì một lần tôi nói với anh rằng Saint-John Perse được giải Nobel mà anh ta cứ cười tôi nói bậy.

Ngày nào anh ta cũng mày mò làm ống vố, chăm lắm. “Quản giáo” Lăng của đội tôi, thấy anh làm ống vố đẹp, bèn xin anh một cái, có lẽ đợi dịp về thăm nhà, đem về cho ông bố.

Chính từ chối lời xin của cán bộ Lăng, nói riêng với chúng tôi: “Mắc gì mình phải cho cái thằng Dziệt Cộng chó ấy. Còn khuya!”

Ít lâu sau, cán bộ Lăng “đột xuất” được về thăm nhà. Bố anh ta té xuống giếng mà chết. Lăng than: “Giếng đào nhưng không xây được thành giếng, không mua được vật liệu.” Nửa khuya, bố anh ta đi tiểu tiện, không thấy  đường nên té xuống đấy.

Chúng tôi nói chuyện đó với nhau, Lương Văn Lịch mỉa mai: “Xã hội chủ nghĩa tiến bộ ghê! Giếng đào không cần xây thành, xuống giếng nằm chết cho mát!”

&

Trong thời gian tôi ở đội mộc, trường hợp anh Chung Văn Nghiêm thật đáng thương: Anh không được thăm nuôi như trước.

Anh Nghiêm là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, tiểu đoàn 2 Trâu Điên. “Tan hàng” rồi, anh đem vợ con về quê ở Cai Lậy, rồi “trình diện học tập cải tạo” dưới đó, thuộc nhóm “Vườn Đào”, chuyển lên ở chung với chúng tôi.

Trước đó, dù gia đình anh ở Cai Lậy, cũng xa, nhưng vợ anh lên thăm đều lắm, mỗi tháng hay hai tháng một lần.

Thế rồi một hôm bà cô già lên thăm, thay cho vợ anh. Bà cô thì già, đường đi thì xa, gói quà nhỏ teo. Bà cô già không biết mua cái gì để đi thăm cháu. Bà cứ tưởng tù bây giờ cũng như tù ngày xưa, đâu có đói bao giờ!

Chuyện là vợ anh dẫn các con đi vượt biên, bị bắt cả đám, không sót ai lớn nhỏ, ngay tại địa phương.

Bọn cán bộ địa phương nghĩ rằng anh là đại úy, nên vợ anh có tư trang, của cải nhiều. Khi vợ anh bị bắt, lại không có vàng bạc gì cả. Bọn chúng cho rằng vợ anh còn cất dấu của đâu đó, chưa khai ra thì chưa cho về. Chúng nó muốn “khảo của” đấy.

Thời đại của Thúy Kiều sống lại ở gia đình anh Nghiêm: “Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh.” Ruồi đang tìm đường, tìm mật.  Vì vậy, giam gần cả năm rồi, mặc dù vợ con anh chỉ là đàn bà con nít, chúng cũng không tha mống nào, làm anh Nghiêm kẹt, không ai đi thăm nuôi.

Đúng là:

                        Lạ gì một thói sai nha

                 Làm cho khốc hại chảng qua vì tiền.

 

Thế rồi, bỗng dưng trong đội xảy ra chuyện mất cắp. Ai thăm nuôi cũng bị mất, thực phẩm còn y, nhưng gói… trà thì không cánh mà bay! Tôi cũng bị như mất trà như mọi người vậy. Chỉ mất trà. Thế thôi!

“Anh hùng thước mốt” (danh hiệu do người trong đội đặt cho) Nguyễn Văn Bộ, người cùng đội, là người láu lỉnh. Một hôm, thấy anh Nghiêm xin nghỉ bệnh, Bộ cũng xin nghỉ theo. Anh ta giả bệnh nằm đắp mền kín đầu, nhưng lắng tai, hé mắt ra khỏi mền để… rình. Anh Nghiêm bị Bộ bắt tại trận, đang ăn cắp trà. Chỉ ăn cắp trà.

Tối hôm ấy, Đội Mộc họp “kiểm thảo”, theo cách sinh hoạt đội của Dziệt Cộng vậy, bàn về việc anh Nghiêm ăn cắp trà. Ai cũng thấy buồn cười!

Hai bên phòng là hai dãy sập hai tầng làm chỗ nằm cho tù. Anh Nghiêm bị kêu ra đứng giữa. Trông anh ta thật tội nghiệp: Già, râu rễ tre lởm chởm, đen, ốm, sợ sệt… Ông đại úy đại đội trưởng của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên Thủy Quân Lục Chiến, vang danh một thời trong chiến sử Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, nay đứng trước anh em cùng bạn tù với nhau, sao mà hiền vậy?

Anh ở trần vì trong phòng nóng như cái lò, quần xà lỏn: Hai ống chân nhỏ như hai khúc tre già, đen đúa, lắc lư nhè nhẹ vì run trong hai ống quần xà lỏn bạc mầu, vá chùm vá đụp. Anh lập cập nói:

– “Thưa các anh em. Tui có lấy đồ ăn, tôm khô, cá khô gì của anh em đâu! Vợ tôi lâu ngày không lên thăm, tui chỉ thèm trà. Tui hứa từ nay tui có thèm thì tui nhịn, không đụng tới trà của anh em nữa!”

Anh em ai cũng cười. Vậy mà Dương Tiến Đông cũng chưa chịu. Anh còn muốn bày trò “Con nhà võ” của anh. Anh đi tới đi lui, đưa tay đấm vào vách tường rầm rầm mấy cái, nói: “Tui đủ sức chơi anh, nếu anh không chịu chừa.” Nói xong, anh ta lại đấm vào vách mấy cái nữa.

Biết tính Đông, tôi đùa:

– “Thôi! Đủ rồi! Mai tôi không cho dầu bóp tay đau đâu!”

Trịnh Xuân Chính ngồi bên tôi, cũng nói:

– “Thằng quỉ! Dở trò hoài.

Sau đó, không ai còn bị mất trà hay cái gì khác!

Thế nhưng cái tật thèm trà của anh Nghiêm vẫn không hết. Công việc của anh là nấu nước sôi cho toàn đội khi đi lao động ngoài bãi. Nhờ đó, anh thường lén dấu, đem về mấy cục than đen. Tối tối, anh bỏ than vào cái lò nhỏ làm bằng lon thiếc “Sữa SMA”, để nấu nước sôi trong loon Guigoz.

Khi nước sôi, anh la to: “Nước sôi rồi.” Ý của anh là nhắc ai có trà thì lấy nước sôi của anh mà pha. Nhờ đó, anh kiếm được chén trà do anh em mời mà uống cho đỡ thèm.

Đôi khi anh la to “nước sôi” nhưng không ai pha trà cả. Loon nước cứ sôi hoài. Anh lại la to lên một lần nữa, như cố ý nhắc: “Nước sôi lắm rồi nè!”

Cũng chẳng ai pha trà. Thấy tội nghiệp cho anh, đôi khi tôi phải lấy trà ra pha, để tôi và anh có chút trà uống chơi! Đời tù, cũng có những điều vừa tội nghiệp vừa buồn cười!

            Tối thứ bảy, không ai ngủ sớm được. Ngày mai, chủ nhựt, khỏi đi lao động, anh em gặp nhau kể chuyện nầy, chuyện nọ, chuyện vui cười, đôi khi là những dòng tâm sự không thiếu nước mắt. Thường là chuyện tình ngang trái, dang dở.

            Huỳnh Hà Đông là người vui tính trong đội. Tối nào, có nước trà, anh em mời Đông tới, để anh ta kể chuyện vui.

            Có lần anh ta kể chuyện vui bằng thơ. Người chồng ở lính, nhận thư vợ gởi cho, thư kể chuyện ở nhà các con bị bệnh:

                        Vài lời nhắn gởi bố cái Lôn

                        Cái Lôn đã bớt, cái Lồ… lại sưng

                        Đêm đêm trằn trọc trên giường

                        Nghĩ đi nghĩ lại mà thương thằng Buồi.

 

            Người chồng viết thư trả lời:

                        Vài hàng nhắn gởi mẹ cái Lôn

                        Ở nhà chăm sóc cái Lồ… cho tôi

                        Chờ khi giấy phép xong rồi,

                        Thì tôi sẽ dẫn thằng Buồi về thăm.

 

Lôn hay Lồ… hay Buồi là tên “xấu háy”, tục xưa thường đặt tên xấu cho con để “khỏi bị ma bắt.”

            Liêm, anh chàng gầy cao, mặt dài, miệng móm mém như Laurel, cũng đóng góp mấy vần thơ:

Giặc gì giặc đánh lúc canh ba,

Tướng sĩ xông vào phá lũy tra.

Một tướng xông vào nơi hang ổ,

Nhị viên còn đứng ngoại giang hà

Quân ta đối địch cùng quân nó

Nước nó giao hòa với nước ta

Xong trận, lui binh lau khí giái

Mạnh ai nấy thở, hít hì hà.

“Khí giái” là nói theo người xưa, bây giờ là “khí giới”. Giái (có khi là dái), còn nghĩa khác nữa.

            Lê Quang Dung chỉ có một câu chuyện vui. Ấy là chuyện ông Độc Phủ Đại, có cậu con trai trên là Bôn Lành (Paul Lành), cô con gái lớn là Mary Thu Cúc, cô con gái thứ là Josephine Thu Đạm. Dung kể tới đó thì ai nấy đều cười nên câu chuyện vui không có đoạn kết.

            Chuyện tình là chuyện của Trắc với Rolette, chuyện của Báu với “xơ” Kim Chi.

            Đâu phải chỉ có một mình Phạm Thái mới có chuyện tình ngang trái với Trương Quỳnh Như. Trong tù, không ít người tù cải tạo có những chuyện tình đau như thế, đau hơn thế. Dù sao, Phạm Thái, dù có đau đớn như thế nào đi nữa, ông cũng không bị nhà Tây Sơn bỏ tù như anh em chúng tôi. “Tù cải tạo”, tù không có án, làm sao có được chút an bình để bớt lo lắng cho người yêu còn ở ngoài?

Báu phục vụ ở Qui Nhơn. Khi Qui Nhơn sắp di tản, anh phải theo đơn vị, bỏ “xơ” Kim Chi lại, một “bà xơ” bỏ chiếc áo tu hành, yêu Báu “như điên như khùng” mấy năm nay, không cách nào Báu gỡ ra được. Tại sao không gỡ ra được. Trái tim có những lý lẽ của nó, có trời mới hiểu. Khi Dziệt Cộng tấn công vào Qui Nhơn, Báu và đơn vị kẹt trên đèo Cả, “xơ” Kim Chi ở lại Qui  Nhơn với cái bụng… bầu.

            Thế rồi Báu vô trại cải tạo, không kịp đi tìm “xơ” Kim Chi để biết cô ta ở đâu, “xơ” sống một mình với cái bụng bầu hay có cha mẹ bên cạnh?

Báu không rõ “xơ” có biết đường tìm về Pleiku với bố mẹ hay không? Khi “xơ” Kim Chi về tới vùng đất đỏ ấy, chắc không còn chi là “Em Pleiku má đỏ môi hồng!”

            Gần tới 30 tháng Tư, Trắc chuẩn bị cho mẹ và vợ con di tản trước. Thế rồi mẹ Trắc, vì “mồ mả ông bà” bèn về Tri Thủy (Phan Rang) thăm mộ một lần chót, và kẹt lại ngoài ấy. Trưa 30 tháng Tư, Trắc không biết chọn con đường nào? Chờ mẹ từ Phan Rang vào hay xuống tầu đi với vợ con và bỏ mẹ lại một mình?

            Trong khi đó thì Rolette, người yêu của Trắc, hy vọng bố ở miền Bắc sẽ về, và cô ta: “Em sẽ được làm vợ của anh” vì vợ Trắc đã xuống tầu ra khơi.

Khi Trắc vào trại cải tạo, anh chỉ nhận được những tin đau lòng. Mẹ anh ở lại quê nhà. Vợ anh lưu lạc nơi đất khách quê người với hai đứa con dại. Bố của Rolette về Nam nhưng cấm cô ta quan hệ với “thằng sĩ quan ngụy nay đời đã xuống tận bùn đen”, như lời ông ta nói. Ông bố bắt con gái phá thai, đem gã cho một anh cán bộ được “chi viện cho miền Nam” hiện đang “công tác ở Kontum”. Kontum, địa danh ấy, trong đời người lính Dù, Trắc từng hành quân ở đó. Trắc quen với núi rừng, nhưng Trắc đau lòng khi biết Rolette đang cố làm quen với khung cảnh núi non trùng điệp ấy.

Khi ở Trại Đá, tôi chọn một chỗ nằm ngay cửa sổ, bên phải là Trắc, bên trái là Báu. Những đêm sáng trăng, trăng chảy lai láng nhiều hơn trăng của Hàn Mặc Tử, nhưng không đem trăng bán cho ai được. Trăng đời thường bán đã không ai mua huống chi trăng tù. Hàn Mặc Tử vì không bán được trăng nên đành chịu chết đói trong cảnh nghèo. Vậy thì chắc chắn không ai mua trăng tù bao giờ!

            Trăng ngoài kia sáng lắm. Trăng rừng. Trăng đồng quê. Trăng trên sông Hương, sông Hậu. Trăng trên bãi biển Vũng Tầu. Chúng tôi nằm dưới trăng, khi trăng lòn qua song sắt để đến với người tù thì tâm hồn người tù cũng bị trăng kéo ra ngoài kia, đưa hồn người tù vượt qua núi cao sông rộng để về đến quê nhà.

Người tù nằm trong song sắt. Hồn người tù ở ngoài song sắt. Hồn người tù theo trăng du lịch ngoài xa, nên người tù không sao ngủ được. Và nỗi nhớ, lai láng như trăng, mềm mại như trăng, êm ái như trăng, làm choáng ngợp tâm hồn kẻ ở trong tù.

            Và cứ thế, những đêm trăng, người tù thả hồn mình đi theo trăng, tới một phương trời vô định nào đó, không cần biết làm chi. Biết để làm gì khi hồn người tù vượt ra ngoài song sắt.

            Trong ánh trăng huyền diệu đó, người tù nghĩ đến một ngày về, mơ một ngày về nhưng biết đến bao giờ….

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on hoànglonghải – Vết Nám (Bài 21) Thợ Mộc

  1. hay qua hay qua bac Hai oi. Nhat la doan cuoi bac ta anh trang hoa voi tam hon nguoi tu .

    Số lượt thích

2 Trackbacks / Pingbacks

  1. Thợ Mộc – biển xưa
  2. Thợ Mộc – Bến xưa

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: