Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 20) “Ngàn năm bia miệng”

1Sau vụ “Mười ba con ma”, một hôm Công An “biên chế” về “Trại Đá” khoảng hai chục người Thượng, hình như họ bị bắt trong một vụ Fulro (1) nổi loạn.

            Toán người Thượng nầy bị sống biệt lập, cái gì cũng biệt lập. Họ ở riêng một nhà giam. Mỗi nhà thường giam ít nhất sáu chục người thì nhà họ chỉ có hai chục người của họ với nhau. Tập trung ở sân trại đi lao động cũng bị Công An bắt ngồi riêng môt góc. Sau khi tất cả các đội bị gọi đi lao động cả rồi mới tới phiên họ đi. Ngày nghỉ, họ bị giam trong sân riêng nhà của họ, không được xuống bếp xin nước hay nấu nướng gì. Vả lại, không thấy ai trong bọn họ được thăm nuôi, lấy gì mà nấu nướng. Có lẽ gia đình họ nghèo lắm!

            Tối lại, sau khi điểm danh xong, họ vào nhà, cửa đóng lại. Phía ngoài cửa gài một cây “song hồng” vừa to vừa nặng, người ở phía trong không sao mở ra được.

            Vậy rồi một buổi sáng, khi cán bộ trực trại đến mở cửa điểm danh thì cửa đã mở sẵn rồi. Nhìn vào trong, chẳng còn “anh Thượng” nào cả. Hình như mấy “anh Thượng” đã “thượng lộ” vào lúc nửa khuya, hai chục người đi hết, chẳng còn ma nào ở lại.

Hai chục người cùng trốn một lần mà không bị lộ. Sao họ tài thế!?

Chưa bao lâu thì có hai người, không nhớ đội nào, thuộc gian nhà gần nhà bếp. Do gia đình thăm nuôi, họ được một cái cưa sắt dài bằng ngón tay. Họ cưa song sắt ở cửa sổ trong phòng đựng đồ, không phải chỉ trong một đêm mà kiên trì nhiều đêm. Cho đến một đem nào đó thì xong. Thế rồi, họ bẻ cong song sắt, chui ra.

Biết phía ngoài trại có bọn tuần tiểu nên họ nằm chờ ở cái balcon sau của hội trường đang xây dở chừng, chờ khi trời gần sáng, toán Công An phục kích ở ngoài rút về, họ mới quăng giây leo qua hàng rào xây bằng gạch lốc, phía trên có rào kẽm gai, đi thẳng vào rừng.

Sáng ra, cán bộ trực trại vào điểm danh, thấy thiếu người, thấy cây song cửa sắt bị bẻ cong, họ mới biết có hai người trốn trại. Khi đó cũng đã trễ, hai người trốn trại đã đi xa lắm rồi.

&

Một hôm, chúng tôi cuốc đất gần ranh giới Trại A cũ. Tuy không thấy nhau rõ, nhưng cũng thấy bóng người xa xa đang cuốc đất bên ấy.

Bỗng nhiên, chúng tôi nghe phía bên ấy có tiếng người la, có bóng người chạy sang phía xóm nhà “Kinh Tế Mới.” Rồi nhiều tiếng súng nổ, bóng người chạy ngã xuống. Chắc là trốn trại, bị bắn.

Quả thật y như vậy.

Quản giáo Hoành biểu chúng tôi tập họp cuốc và người lại, ngồi quanh bếp lửa, vừa ăn khoai mì vừa chín xong, vừa uống nước. Chúng tôi không nói cười như lệ thường.

Cũng theo lệ thường, mỗi khi ra tới rẫy, “Khiêm nấu bếp” mang tới cho vệ binh một “gô” – (“loon” Guygoz) nước trà, cho bọn chúng uống chơi, xong, có thêm một “học viên cải tạo” khác nữa, do Đội Trưởng Đông chọn, đi tới khu trồng mì gần đó, đào một thùng đầy, đem ra suối rửa, lột vỏ, nấu chín.

“Trò” nầy là do Đội Trưởng Dương Tiến Đông bày ra, nhằm “mua chuộc cán bộ”, để chúng tôi cuốc đất tà tà, khỏi nặng nhọc. Tiền mua trà, đôi khi thêm vài cái kẹo nữa, là do “ông Đội Trưởng” của chúng tôi “mua bán linh tinh” với xóm dân ở đầu xóm, trên con đường từ Ga Giá Rai đi Vỏ Đắt, Vỏ Xu.

Anh em chúng tôi khoái cái trò nầy của Dương Tiến Đông lắm. Vừa ít mệt, lại có khoai mì ăn đều đều mỗi ngày.

Hôm nay, chúng tôi vừa sà xuống ăn khoai mì – dĩ nhiên phải có một dĩa “dành riêng cho cán bộ” – thì quản giáo Hoành nói: “Ăn xong về, có lệnh về sớm.”

Có lẽ do vụ trốn trại, có người bị bắn chết, sợ chúng tôi giao động nên cho về sớm đấy. Do được về sớm, nên “Ngọc xùi” vui vẻ nói: “Bữa nay vui quá!”

Anh Lã Trung Tâm nói: “Có người chết mà vui gì! Cái thằng vô tâm nầy!”

Từ lời nói của anh Tâm, nhiều người chê “Ngọc Xùi”, khiến anh ta ra ngồi một góc, mặt buồn hiu.

Thấy vậy, tôi nói với anh Lã Trung Tâm: “Kệ nó anh à. Nó còn trẻ quá, anh rầy nó làm chi!”

Bỗng anh Tâm quay qua cự nự tôi:

-“Mày cũng vậy! Cứ vui đùa hoài.”

Tôi cải lại:

“Chủ nghĩa lạc quan” mà anh. Ở tù Dziệt Cộng nên tìm cái vui mà sống. Rầu rĩ chỉ mau chết thôi. Thiên hạ đặt tên cho anh là “Ông già ham vui” mà anh cự nự tui. Buồn cười không!”

&

            Khi tôi bị chuyển ra Trại C, gặp quản giáo Hoành, đội tôi “dễ thở” hơn, tôi sẽ kể sau.

            Hồi còn đi học, giấy mực còn hiếm, nhiều khi tôi xin được giấy pelure do vài người quen ở các công sở cho, đem về đóng sách chơi, hoặc là để chép nhạc, hoặc để làm “Lưu bút ngày xanh” (nghe “mari-sến” dữ), hoặc chép những bài thơ của các thi sĩ thời tiền chiến vì ít ai còn giữ cuốn “Thi Nhân Việt Nam” của Hoài Thanh – Hoài Chân. Chúng tôi thường gọi đùa những học sinh chép thơ là “thi sĩ chép”.

            Tình cờ, quản giáo Hoành biết tôi biết đóng sách, bèn đưa giấy nhờ tôi đóng cho y một cuốn. Đóng một cuốn, tôi được nghỉ lao động ba ngày. Rồi từ Hoành, các tên Công An cũng nhờ tôi đóng sách giùm. Hoành lại cho tôi nghỉ ở nhà đóng sách. Nhờ vậy mà tôi nghỉ ở nhà dài dài.

            Hôm nào ở nhà thì buổi sáng, sau khi tôi chờ bác Hoàng Xưởng “lao động nhẹ” xong, – “lao động nhẹ” là việc làm của mấy ông già, khỏi đi đốn rừng, cuốc đất, ở nhà lo quét nhà, quét sân – tôi và bác Xưởng nấu nước sôi “pha trà uống chơi”.

Bác Hoàng Xưởng là người tôi mang ơn hồi Tết Mậu Thân ở Huế, tôi dắt vợ con “chạy giặc” đến tá túc tại nhà bác ở đường Hàng Me – Huế. Bác ít được thăm nuôi. Nhà có hai con gái và một anh con trai. Anh con trai nầy và hai anh chàng rể đều được “cách mạng đi học tập” hết nên bác gái ở nhà cũng đói meo, nói chi bác trai ở trong tù. Bốn cái cột trụ của gia đình đều tù hết, nên nhà bác Xưởng chỉ còn “hai mái tranh nghèo.” Hai cô con gái bác, tốt nghiệp “Sư phạm Qui Nhơn” đều bỏ nghề ra “bán chợ trời”. Cộng Sản đâu cần cái chất xám của người miền Nam, “hồng hơn chuyên” mà!

            Vậy mà bác Xưởng ít thèm ăn, chỉ thèm uống trà. Sáng nào thấy tôi ở nhà là bác hẹn: “Xong ngay, tôi gặp thầy!” Con trai bác – anh Hoàng Công Lập – là học trò cũ của của tôi, bác gọi thay con.

            Uống trà với bác Xưởng, đã đời rồi, đến khi trà chỉ ra nước trong, tôi mới nhẩn nhà lấy giấy, kim chỉ và dao ra đóng sách. Bác Xương ngồi xem.

            Bác ấy nói:

            -“Thầy có cái “nghề” nầy cũng đỡ, mà tôi cũng được uống trà chung!”

            Một hôm, đóng xong một cuốn, có bìa làm bằng vải, ngoài bìa có “hoa lá cành”, bác Xưởng nói:

            -“Ở trang đầu, sao thầy không cho nó vài câu thơ?”

            Tôi hỏi:

            -“Thơ gì bây giờ?”

            Bác Xưởng đọc:

                        “Nhật mộ hương quan hà xứ thị…”

 

            Tôi đọc tiếp: “Yên ba giang thượng…”

            Rồi tôi lại nói:

            -“Bọn nầy biết mà gì về “Cổ Văn”. “Đàn gãy tai trâu”, không như bọn học trò trong Nam hồi trước. Với bọn “Bắc kỳ bảy lăm” là”: Tôi đọc đùa:

                        Cái đài, cái đổng, cái đa,

                 Có ba cái ấy đời ta huy hoàng.

                        Ấy là theo đảng vinh quang,

                 Ấy là theo dấu còn đàng “bác đi.”

            “Bác đi là “bi đát” bác ơi!

            Nghe xong, bác Xưởng và tôi cùng cười.

            Một lúc sau, tôi nói: “Có lẽ tôi cho thằng Hoành vài câu, ở cuốn tôi đóng cho nó. Nó vừa nhờ tôi đóng thêm một cuốn nữa.”

                        Ngồi đây tôi nhớ quê nhà,

                 Nhớ con bướm trắng la đà cuối thôn!

            Hôm đưa cho Hoành câu nầy, tôi nói:

            -“Anh có con bạn học hồi nhỏ phải không? “Con bướm trắng” là ý nói con nhỏ đó đấy!”

            Hoành xuýt xoa cám ơn, nói với tôi: “Cô ấy chờ tôi không được, vừa đi lấy chồng, lấy thằng cán bộ huyện.”

            Tôi nói khích:

            -“Nó là cán bộ huyện, to hơn anh nên bắt mất “bồ” của anh chớ gì! Đời mà!

            Một hôm, Hoành hỏi đội trưởng Dương Tiến Đông: “Đội anh người nào khéo tay làm bia ximăng được. Phải biết trang trí hoa văn nhé.”

 

            Dương Tiến Đông nghĩ ngay đến tôi, không phải vì tôi khéo tay mà khéo “bắt chuyện” nên hôm đó tôi được ở nhà, chờ quản giáo Hoành xuống.

            Trước khi đi lao động, Đông dặn tôi:

            – “Anh ở nhà, thằng hoành xuống gọi anh đi làm bia. Nhớ tìm hiểu coi thằng nào chết, vì sao chết. Hình như tụi nó bị đám người Thượng trốn trại phục kích.”

            Đông nói y như rằng. Tôi được gọi lên khu nhà kho, lãnh ximăng rồi đi kiếm cát và sắt để đúc một tấm bia.

Quản giáo Hoành dẫn tôi đi loanh quanh kiếm vật liệu, rồi tôi lợi dụng việc làm bia để “hỏi thăm”: “Anh nào chết mà còn trẻ, tội nhiệp quá!” Hoành vô tình kể tuốt tuột. Người chết cùng quê với Hoành (nên anh ta đứng ra coi việc dựng bia cho đồng hương. Anh không làm thì chẳng ai làm, như anh ta nói).

Ngay sau khi mấy người Thượng trốn trại, Công An cho một tiểu đội, lên xe hơi lên ngã Định Quán, chận đường về của đám Fulro.

Đám nầy cũng khôn không vừa gì, lại có tài đi rừng của “người rừng”. Đoán chừng Công An sẽ đuổi theo, chận đường về, nên họ phục kích ở con đường dốc nhỏ và hẹp, đi xuống một con suối cạn, giựt được cây súng của tên Công An lẹt đẹt đi sau cùng, dùng súng đó bắn chết một tên Công An khác. Cả tiểu đội Công An hoảng sợ chạy tán loạn. Đám người Thượng kéo nhau đi sâu vào rừng.

Ngày hôm sau, được tăng cường thêm một trung đội nữa, bọn chúng mới dám tiến lên lại chỗ bị phục kích hôm trước, đem xác người chết về. Số người Thượng thì đã mất dấu, vừa khó tìm mà đám Công An cũng vừa lạnh giò.

Tôi vừa làm bia, vừa vẽ hoa văn, viết tên người chết cho đẹp để làm vui lòng Hoành mà khai thác câu chuyện. Dĩ nhiên, chiều hôm đó, câu chuyện được phát thanh bằng “đài mồm” cho anh em trong trại cùng nghe cho vui. Có người chết mà lại có người vui, nghĩ đời cũng buồn cười!

Anh Lã Trung Tâm cự nự tôi:

-“Cái tượng chiến sĩ trước Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Hòa nghe nói bị “tụi nó” giựt sập xuống rồi, còn mày thì đi làm bia cho bọn chúng. Mày ngon dữ há?”

Tôi chống chế bằng cách nói đùa:

-“Tui làm “nhiệm vụ tình báo” mà anh!”

-“Mày tình báo mẹ gì! Nói dốc dữ không?!” Anh Lã Trung Tâm cự nư tiếp.

Tôi kể chuyện bọn Công An bị phục kích và bị bắn chết cho anh Tâm nghe, anh mới chịu im. Một lúc anh nói:

-“Bia gì mà bia! Bia miệng thì sao? Hả?”

Tôi đọc hai câu ca dao:

            “Trăm năm bia đá thì mòn

     Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!”

Rồi tôi nói tiếp:

-“Ở đời ai cũng sợ bia miệng cả!”

Anh Lã Trung Tâm lại mai mỉa:

-“Bọn nầy, Trời chúng còn chưa sợ, sá gì “bia miệng” mầy ơi!”

-“Vậy thì sá gì cái bia ximăng mà anh cự nự tui!” Tôi cố biện minh việc mình làm.

hoànglonghải

(1)-FULRO (viết tắt từ Front Uni de Lutte des Races Opprimées, có khi viết là: Front Unifié pour la Libération des Races Opprimées), trong tiếng Pháp, có nghĩa Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc Tộc bị áp bức) là một tổ chức chính trị, quân sự do một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thành lập năm 1964 để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và chống chính quyền Cộng Sản Việt Nam sau năm 1975

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

5 Comments on hoànglonghải – Vết Nám (Bài 20) “Ngàn năm bia miệng”

  1. Chày Thầy Hải,chuyện ở tù cộng sản thì nhiều vô kể,tuy nhiên,trong cảnh bần cùng mới lộ ra bản chất thực của con người ,dĩ nhiên nét xấu mới lộ nguyên hình,không phân biệt giai cấp,ganh nhau từng miếng cơm cháy !!Bản thân tôi cũng có chút nghề mọn là hớt tóc,khi ở tù có giúp anh em và dĩ nhiên,sao khỏi đến tai mấy cha cán ngố và bắt lên hớt cho mấy ổng,từ đó là bị chụp cho cái mũ “anten”bởi bạn tù,vì được nghỉ lao đông buổi đó !! Nhưng đau nhất khi ở trại tị nạn Phi Luật Tân,lại bị mang cái nón cối khá nặng là “Tr/U đặc cộng CS”bởi mấy nhà CM thuộc nhóm
    có ông Chủ Tịch trang phục na ná già Hồ ,mà bản thân đã đi lính từ lúc 14 tuổi (thiếu sing quân) và trễ nãi đến cấp Đ/U với 6 năm tù,tức kém ông Thầy Hải 1 năm. Rất cám ơn Thầy Hải và toàn BBT văn tuyển.

    Like

    • Kính Anh
      Hơi đâu mà suy nghĩ cho mệt bụng
      “Miệng thế gian” mà, giong như cái mo cau của Nguyễn Công Trứ vậy.
      Bởi tính tôi hay bông đùa, “Chủ nghĩa lạc quan” mà, nhiều người thương, nên có ai nói gì về tôi cũng bị bạn tù phản bác ngay!
      Chúc sức khỏe
      Thân ái

      Like

  2. Bạn cùng nhà tù Vici,
    nói chuyện với nhau đầy thông cảm và tình người…
    Cảm ơn những bài viết của HLHai đọc biết thêm nhiều điều chưa biết.
    Chúc vui khỏe
    Thân mến

    Like

  3. Anh Cam , toi cung bi nhom theo Hoang c m o phi chup cho cai mu cs ( sang my dam nay Chang dam theo kc nua )

    Like

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: