Bài 3. Sự thật tài liệu Trần Hữu Chương: Tân Việt Cách mạng Đảng (Hồi ký).

I. Bằng chứng và phân tích:

Để biết được tài liệu: “Trần Hữu Chương: Tân Việt Cách mạng Đảng (Hồi ký)” có độ tin cậy đến đâu ta cần biết tác giả của nó: Trần Hữu Chương là ai? Có gì liên quan tới Trần Phú. Theo chú thích ở phần dưới Biên niên sự kiện của Trần Phú cho biết Trần Hữu Chương là: “Nguyên Bí thư kỳ bộ Nam Kỳ của Tân Việt, một trong những sáng lập viên Đông Dương Cộng sản Liên đoàn – (TG ).”

Vậy, ông này viết tài liệu: “Tân Việt Cách mạng Đảng (Hồi ký)” bao giờ? Ông chết năm nào? Khi sống ông có được trọng dụng gì không?

Tài liệu “Tân Việt Cách mạng Đảng (Hồi ký)” có gì làm bằng chứng là do đồng chí Trần Hữu Chương “Nguyên Bí thư kỳ bộ Nam Kỳ của Tân Việt, một trong những sáng lập viên Đông Dương Cộng sản Liên đoàn – (TG ).”  viết? Nó có được xuất bản hay không?, xuất bản khi tác giả của nó còn sống hay đã chết? (Nghi ngờ này là có căn cứ, bởi rất nhiều Hồi ký – tài liệu được dùng để viết sử của Đảng Cộng sản Việt Nam – lại được xuất bản chỉ sau khi tác giả của nó đã … chết! Ta sẽ nghiên cứu kỹ hiện tượng này ở phần sau)

Nói dại, nhỡ “Tân Việt Cách mạng Đảng (Hồi ký)” kia mà người ta đánh máy để đó, rồi ghi tên như thế, cất vào một chỗ “Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.” (Sau khi ông ta chết mới nói tới) thì tác giả “Trần Hữu Chương “Nguyên Bí thư kỳ bộ Nam Kỳ của Tân Việt” chắc gì đã được biết – kể cả ông ta còn sống!

Nếu đúngTân Việt Cách mạng Đảng (Hồi ký)” là do đồng chí Trần Hữu Chương “Nguyên Bí thư kỳ bộ Nam Kỳ của Tân Việt, một trong những sáng lập viên Đông Dương Cộng sản Liên đoàn – (TG ).” Viết thì phải giải thích những hiện tượng sau đây như thế nào?

  1. Nội dung “Tân Việt Cách mạng Đảng (Hồi ký)” viết gì?

“…Đồng chí Tập nói cho chúng tôi nghe nhiều điều mới lạ16.” (xem Văn bản 4 dưới đây),

Đây có phải khẩu khí của một người với chức danh “Nguyên Bí thư kỳ bộ Nam Kỳ của Tân Việt” hay không?

  1. Vì sao thủ lĩnh của Tân Việt Cách mạng Đảng” bị lãng quên?

Bài báo “Công lao to lớn, hy sinh thầm lặng” đăng trên báo Tiền Phong ngày 31/08/2008 (Văn bản 1), viết: “Có một thủ lĩnh của Tân Việt cách mạng Đảng, bạn chí thiết đồng chí Trần Phú và đồng chí Hà Huy Tập… đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc nhưng đến nay vẫn chưa được công nhận liệt sĩ. …Cuốn “Tân việt cách mạng Đảng trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” của PGS -TS Đinh Trần Dương – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2006, từ trang 346 đến trang 370 ghi danh sách 233 Đảng viên Tân Việt cách mạng Đảng hoạt động ở Nghệ An và Hà Tĩnh thời kỳ 1925 – 1929, có những nhân vật kiệt xuất như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu… trong đó có ghi Trần Đình Thanh quê Nghệ An làm Hội trưởng. ”

Điều gì ở đây? Tại sao lại “quên” thủ trưởng của những người cao nhất ĐảngTrần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu…?

Người hội trưởng còn như vậy, thì liệu Trần Hữu Chương viết “Tân Việt Cách mạng Đảng (Hồi ký)” có đúng là Trần Hữu Chương “Nguyên Bí thư kỳ bộ Nam Kỳ của Tân Việt”? Nếu đúng là ông ta thì vì sao ông ta không báo cáo với Hồ Chí Minh là có một “Trần Đình Thanh quê Nghệ An làm Hội trưởng” đã “Đã hy sinh ngày 30/6/1931” và yêu cầu làm chế độ công nhận Liệt sĩ cho người Hội trưởng đó?

Người hội trưởng còn như vậy, thì liệu Hồ Chí Minh có phải là Nguyễn Ái Quốc thật không? Nếu Hồ Chí Minh đúng là Nguyễn Ái Quốc thì lẽ ra ông ta phải nói: Trần Đình Thanh thủ trưởng của Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu…đâu rồi?

Vì sao lại có sự quên lãng này?

Thời Pháp có lẽ không có chuyện: “chúng đã tiêm thuốc độc vào người ông rồi thả về quê, được mấy hôm ông đã mất vào ngày 30/6/1931” Vậy ông đã mất như thế nào?

  1. Ngô Đức Đệ – Người duy nhất trong 8 người chủ chốt của “Tân Việt Cách mạng Đảngcó thông tin là làm việc ở chính phủ của Hồ Chí Minh.

Về 8 người chủ chốt của “Tân Việt Cách mạng Đảng” được biết tới ở bài báo “Cách đây 84 năm (1/1930 – 1/2014), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời.” Của Huệ- Chính, đăng trên trang web của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, ngày 12/31/2013, Bài báo ghi: “Ngày 29 và 30 tháng 12 năm 1929, Đại hội thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã được tiến hành, gồm có các đồng chí: Trần Hữu Chương, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều) là đại biểu Nam Kỳ, Nguyễn Xuân Thanh, Trần Đại Quả, Ngô Đức Đệ, Lê Tiềm, Nguyễn Tốn là đại biểu Trung Kỳ. Ngô Đình Mẫn là đại biểu Bắc Kỳ. Đại hội nhất trí quyết định: Không tán thành gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng theo các điều kiện do Đông Dương Cộng sản Đảng nêu ra. Bỏ tên gọi Tân Việt, đặt tên mới là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.”

Tìm hiểu chi tiết về 8 người đó thì có: 2 người chết sớm, 1 người là Ngô Đức Đệ làm ở Viện Huân chương (Ngô Đức Đệ có là kỳ cựu cộng sản thật không? Ta xem thêm ở bài 7 về Ngô Đức Trì), 5 người còn lại không tìm thấy thông tin gì (Như vậy, nếu họ không chết sớm mà được chết già thì cũng là không được Chính phủ của Hồ Chí Minh trọng dụng gì – Nếu họ còn sống và thực họ là 1 trong 8 người trong “Đại hội thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn” và được Hồ trọng dụng thì họ phải kể về người Hội Trưởng Trần Đình Thanh ở trên, sao lại để bị lãng quên như vậy?).

  1. Trần Hữu Chương – (Không thấy nói tới sống chết ra sao?)
  2. Nguyễn Khoa Văn – tức Hải Triều – bị bệnh gì mà lại chết từ 1954? (Xem văn bản 3 dưới đây).
  3. Nguyễn Xuân Thanh, (Không thấy nói tới sống chết ra sao? Có được chết già hay không? Nếu được chết già thì cũng không thấy được Chính phủ của Hồ Chí Minh trọng dụng gì )
  4. Trần Đại Quả, (Không thấy nói tới sống chết ra sao? Có được chết già hay không? Nếu được chết già thì cũng không thấy được Chính phủ của Hồ Chí Minh trọng dụng gì )
  5. Lê Tiềm, (Không thấy nói tới sống chết ra sao? Có được chết già hay không? Nếu được chết già thì cũng không thấy được Chính phủ của Hồ Chí Minh trọng dụng gì)

  1. Nguyễn Tốn (Không thấy nói tới sống chết ra sao? Có được chết già hay không? Nếu được chết già thì cũng không thấy được Chính phủ của Hồ Chí Minh trọng dụng gì)

  1. Ngô Đình Mẫn (1907 – 1933)

  1. Ngô Đức Đệ.

Ngô Đức Đệ là ai?

Theo (Văn bản 5) dưới đây thì “cụ Ngô Đức Đệ, anh ruột của Ngô Đức Tốn đang làm việc ở Bộ Ngoại giao…”

Nếu đúng ông Ngô Đức Đệ này là 1 trong 8 người chủ chốt của Tân Việt thì tại sao em ông là “Ngô Đức Tốn, người bí thư chi bộ đảng Cộng sản đầu tiên ở Tam Tân ” (Văn bản 5), người chú ruột của ông là “Ngô Đức Đệ, Ngô Đức Tốn còn người chú ruột là Ngô Đức Diễn, dạy học ở Vinh và là một trong những người sáng lập Tân Việt Cách mạng đảng. Năm 1926 ông có vào dạy học tại Phan Thiết. Được một năm thì bị Pháp bắt đày đi Lao Bảo rồi chết ở Huế.”

Tại sao “Ông Ngô Đức Diễn sinh năm 1898, đỗ Diplome, làm giáo học ở Trường Quốc học Vinh, đồng sáng lập viên Hội Phục Việt, sau đổi là Tân Việt cách mạng đảng, rồi đổi Đảng Tân Việt (Ngô Đức Diễn là UV thường vụ), tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, tức Đảng ta hiện nay. Ông bị thực dân Pháp bắt tại Vinh, đưa vào giam ở nhà nhà lao Phủ Thừa (Huế), bị tra tấn, lâm bệnh chết trong nhà tù [8] .” (Văn bản 6), mà lại “[8]Hiện vẫn chưa được truy tặng Liệt sĩ.”

Ông “Ngô Đức Đệ nguyên là Viện trưởng viện Huân chương” thời Hồ Chí Minh mà lại để em ruột và chú ruột thế sao? (Chưa kể người anh con Bác ruột là Ngô Đức Trì bị cho là phản bội khia ra Trần Phú – xem thêm ở bài 7).

Chỉ có thể hiểu Ông “Ngô Đức Đệ” chẳng phải là 1 trong 8 người trên! Mà sự thực lịch sử đã được viết lại, rồi ông “Ngô Đức Đệ” thấy có lợi cho mình mà cứ im để vậy mà thôi.

Như vậy, một người – Trần Hữu Chương – ở trong nhóm những người cùng tổ chức, họ cùng chẳng được trọng dụng gì lớn, vậy người đó có đủ tư cách để viết Hồi ký về một Đảng – một trong 3 đảng hợp nhất thành Đảng cộng sản Đông dương?

Như vậy, liệu Trần Hữu Chương viết “Tân Việt Cách mạng Đảng (Hồi ký)” có đúng là Trần Hữu Chương “Nguyên Bí thư kỳ bộ Nam Kỳ của Tân Việt”? Hay Đảng Cộng sản của Hồ Chí Minh cử ai đó viết, rồi ghi tên như thế?

Thế mới thật là:

Hữu Chương hoạt động giỏi ghê.

                        “Bí thư kỳ bộ ” phải đâu là thường

                        Hồi ký ông viết thật không?

                        Đọc văn chẳng phải “Bí thư bộ kỳ ”

Hồi ký ông viết thật không?

                        Sao quên Hội Trưởng làm tôi đau lòng?

                        8 ông kỳ cựu còn ai?

Sao quên Hội Trưởng làm tôi đau lòng?

Kìa ông Đức Đệ thật oai

Sao không kể rõ Chú và Em ông?

Thắc mắc: Vậy tiếp theo thì Sự thật tài liệu Vương Thực Oánh Tự thuật (Bản đánh máy năm 1962) như thế nào? Xin xem bài 4 sẽ rõ.

II. Văn bản dùng để nghiên cứu:

(Văn bản 1)

Trần Đình Thanh – thủ lĩnh tân Việt cách mạng Đảng:

Công lao to lớn, hy sinh thầm lặng

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/135426/Cong-lao-to-lon-hy-sinh-tham-lang.html

31/08/2008

TP- Có một người bán báo dạo tìm chúng tôi, nói quả quyết: Có một thủ lĩnh của Tân Việt cách mạng Đảng, bạn chí thiết đồng chí Trần Phú và đồng chí Hà Huy Tập… đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc nhưng đến nay vẫn chưa được công nhận liệt sĩ.

Nghe ông Trần Văn Thành nói vậy tôi không tin nhưng đọc hết trăm trang tài liệu và đến Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh… được biết thêm bao nhiêu chuyện bất ngờ.

Những sự thật sử sách còn ghi

Trong tập sách viết về đồng chí Trần Phú của nhà văn Sơn Tùng – NXB Thanh Niên 1979 hàng chục lần nhắc đến một người tên là Trần Đình Thanh, bạn chiến đấu thân thiết với nguyên Tổng bí thư Trần Phú. Ở trang 63 có đoạn: “Hà Huy Tập tốt nghiệp Thành chung và anh không muốn dạy ở Trường tiểu học Nha Trang theo sự bổ nhiệm của “Chính quyền bảo hộ Trung Kỳ” mà bàn trước với anh Trần Phú xin về Trường Cao Xuân Dục ở Vinh do Trần Đình Thanh làm Hiệu trưởng. Ba người: Trần Đình Thanh, Trần Phú, Hà Huy Tập kết thân với nhau là hạt nhân của nhóm đọc sách báo bí mật do Nguyễn Ái Quốc viết”.

Tại “Kỷ yếu Hội thảo Khoa học 65 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh” – Sở Văn hoá Thông tin Nghệ An và Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh xuất bản năm 1996, dẫn lời Giáo sư viện sỹ Trần Huy Liệu (1901-1969): “Tháng 6/1925 tôi về Vinh bàn với Trần Đình Thanh; Phan Kim Huy, Ngô Đức Diện thành lập chi nhánh Việt Nam Nghĩa Đoàn có khoảng 10 người  tham gia. … Trần Đình Thanh được anh em cử làm Hội trưởng.”…

Được biết sau lần phát tán truyền đơn đòi thả cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh bị lộ… “đầu năm 1926 Tôn Quang Phiệt về Vinh gặp Trần Đình Thanh bàn chuyện đổi tên Phục Việt thành Hưng Nam rồi chủ trương đưa người sang Quảng Châu bàn việc thống nhất chương trình kế hoạch hành động với Thanh niên cách mạng đồng chí hội”.

Trong tạp chí Văn hoá Nghệ An số 62 và 63 tháng 7/2005 có bài viết của PGS-TS – Đinh Trần Dương: “Trần Mộng Bạch (Trần Đình Thanh) với việc hình thành cương lĩnh của Tân Việt cách mạng Đảng”. Khẳng định: “Trần Mộng Bạch là người soạn thảo Cương lĩnh của Đảng Tân Việt.

Trong nguồn tài liệu lịch sử đề cập tới các hoạt động cứu nước những năm 1920 -1930, vai trò của Trần Mộng Bạch rất quan trọng kết nối lực lượng những người yêu nước. Mật thám Pháp coi Trần Mộng Bạch là đối tượng “nguy hại” với an ninh chính trị của chúng ở Đông Dương.

Tại Thông báo số 2951 SC của Quyền Khâm sứ Trung Kỳ gửi các công sứ và đốc lý nhiều lần nhấn mạnh mối quan hệ giữa Trần Mộng Bạch với các sỹ phu đầu thế kỷ XX. Mật thám Pháp khẳng định: “Mục tiêu của Trần Mộng Bạch cho đến tháng 7/1928 kỷ niệm ngày thành lập Đảng Tân Việt là đi tới chỗ hợp nhất 2 Đảng song song tồn tại và theo đuổi một mục đích chính là tống cổ người Pháp…

Năm 1929 một nhóm Đảng viên bị bắt không chịu được cực hình của giặc đã khai  ra tổ chức, Trần Mộng Bạch đã bị địch bắt, đem ra xét xử. Tại bản án số 11 ngày 11/1/1930 mà Hội đồng cơ mật Nam Triều công bố, tên ông đứng đầu trong danh sách 41 Đảng viên của Tân Việt cách mạng Đảng bị tuyên xử”.

Chúng giam ông qua các nhà tù Vinh, Huế và Buôn Mê Thuột, tra tấn đủ cực hình nhưng không có kết quả. Sau khi đưa ông về cho án sát Hà Tĩnh là Nguyễn Khắc Niêm dụ dỗ không thành, chúng đã tiêm thuốc độc vào người ông rồi thả về quê, được mấy hôm ông đã mất vào ngày 30/6/1931.

Trần Đình Thanh mất để lại một người vợ trẻ là Đoàn Thị Cơ và hai con gái, tên là Trần Thị Dục Anh (sinh 1924) và Trần Thị Dục Chi (sinh 1927).

Cuốn “Tân việt cách mạng Đảng trong cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” của PGS -TS Đinh Trần Dương – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2006, từ trang 346 đến trang 370 ghi danh sách 233 Đảng viên Tân Việt cách mạng Đảng hoạt động ở Nghệ An và Hà Tĩnh thời kỳ 1925 – 1929, có những nhân vật kiệt xuất như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu… trong đó có ghi Trần Đình Thanh quê Nghệ An làm Hội trưởng. Có lẽ do Trần Đình Thanh lấy vợ người Vinh ở rể ngoài ấy nên nhiều người nhầm tưởng ông quê Nghệ An. Thực ra quê ông ở làng Trung Tiết, huyện Thạch Hà, nay là phường Nam Hà, TP Hà Tĩnh.

Ôm sử sách đi tìm nhân chứng

Năm 1987 bà Trần Thị Dục Anh, 60 tuổi trú quán tại ngõ Trần Đức Vịnh – phường Nam Hà – TX Hà Tĩnh và em gái là Trần Thị Dục Chi trú quán tại phường Lê Mao – TP Vinh Nghệ An  làm đơn xin truy nhận cha là Trần Đình Thanh đã hy sinh năm 1931, đề nghị cấp trên công nhận cha mình là liệt sĩ để đưa phần mộ nằm tại Núi Nài được vào phía trong nghĩa trang ghi tên những người đã hy sinh vì nước.

Các nhà chức trách yêu cầu văn bản phải có sự xác thực của hai cán bộ lão thành cách mạng. Gia đình tìm đến ông Hồ Bình ở khu phố Bồng Sơn TX Hà Tĩnh và ông Lê Danh Tôn ở xã Thạch Thanh, huyện Thạch  Hà nhờ xác nhận. Mọi thủ tục đã hoàn tất gửi lên cấp tỉnh. Sau đó Nghệ Tĩnh chia tách thành Nghệ An – Hà Tĩnh, sự việc rơi vào im lặng.

Mười bảy năm trôi qua, mãi đến năm 2004 nhân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Trần Phú – Tổng bí thư đầu tiên của Đảng; trong diễn văn đọc tại buổi lễ có nhắc đến tên ông Trần Đình Thanh người bạn chiến đấu thân thiết của đồng chí Trần Phú, bao nỗi niềm ngậm ngùi xúc động dậy lên trong lòng, bà Trần Thị  Dục Anh, đã gần 80 tuổi.

Ông Trần Văn Thành một thương binh từng làm nghề bán báo dạo, đọc qua sử sách, biết được công lao đóng góp của ông Trần Đình Thanh, đã vào cuộc ôm tài liệu sử sách mà lịch sử đã ghi nhận công lao đóng góp của ông Trần Đình Thanh – Thủ lĩnh của Tân Việt cách mạng Đảng, ra xã Việt Xuyên, huyệnThạch Hà gặp cụ Trần Xu và lên xã Phú Phong – Hương Khê gặp cụ Nguyễn Văn Chữ những bạn từ xưa của ông Thanh xin xác nhận.

Cụ Nguyễn Văn Chữ cho biết thêm: Hồi ấy tại nhà lao Buôn Mê Thuột cụ bị giam ở lao trong còn Trần Đình Thanh chúng cho là “thành phần cực kỳ nguy hiểm” nên bị giam ở lao ngoài được canh gác cẩn mật.

Từ những lời xác nhận nói trên, ngày 6/9/2006 Thị ủy Hà Tĩnh đã có Công văn số 117 CV/TH.U “V/v đề nghị xác nhận liệt sĩ, cấp bằng Tổ Quốc ghi công” cho liệt sĩ Trần Đình Thanh do ông Nguyễn Đức Hảo – Phó Bí thư Thường trực Thị ủy ký, gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh.

Ngày 14/9/2006 Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Tĩnh đã có giấy báo tử Số 11 chứng nhận: Ông Trần Đình Thanh sinh 1900 nguyên quán xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, tham gia cách mạng từ năm 1920 đến 1931.

Chức vụ hoạt động cách mạng: Hội trưởng Hội Phục Việt.

Đã hy sinh ngày 30/6/1931.

Đề nghị UBND tỉnh trình Chính phủ công nhận liệt sĩ và tặng Bằng Tổ Quốc ghi công cho ông Trần Đình Thanh; văn bản do Phó Bí thư Thường trực Nguyễn Thanh Bình ký.

Ngày 13/11/2007 UBND tỉnh có tờ trình số 240 về việc đề nghị Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng Tổ Quốc ghi công cho ông Trần Đình Thanh do ông Hà Văn Thạch – Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký.

Ảnh: “Ngôi mộ đất vẫn nằm ngoài nghĩa trang”

Ngày 24/4/2008 Thủ tướng Chính phủ – Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định Số 432/QĐ-TTg cấp bằng Tổ Quốc ghi công cho liệt sĩ Trần Đình Thanh – cán bộ cách mạng năm 1931.

Nguyên quán xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh cách mạng và giải phóng dân tộc.

Ngày 29/8, Sở Lao động Thương binh – Xã hội phối hợp với UBND Thành phố Hà Tĩnh đã tổ chức lễ truy điệu ông Trần Đình Thanh, người con của quê hương từng là bạn chiến đấu thân thiết với hai Tổng Bí thư của Đảng là Trần Phú và Hà Huy Tập.

Trước lúc lễ truy điệu diễn ra 7 ngày, chúng tôi đã cùng với gia đình đến thắp hương nơi ngôi mộ của ông Trần Đình Thanh được an táng dưới chân Núi Nài.

Trong danh sách 233 Đảng viên Tân Việt cách mạng Đảng khởi đầu do Trần Đình Thanh làm thủ lĩnh nhiều người đã hy sinh vì nước như các đồng chí Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu, Lê Mao, Nguyễn Viết Thuật… đều được đặt tên đường, tên phố và lưu danh trong lòng nhân dân.

Với công lao của mình, hy vọng ông Trần Đình Thanh sau khi được Tổ quốc ghi công, sẽ được ghi nhận tôn vinh đúng mức ở địa phương.

 Tháng 8/2008

 Võ Minh Châu

            (văn bản 2)

Cập nhật: 3:11 PM GMT+7, Thứ ba, 31/12/2013

Cách đây 84 năm (1/1930 – 1/2014), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời .

http://baotanglichsu.vn/portal/vi/Tin-tuc/Theo-dong-lich-su/2014/01/3A923CE4/

Ngày 29 và 30 tháng 12 năm 1929, Đại hội thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã được tiến hành, gồm có các đồng chí: Trần Hữu Chương, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều) là đại biểu Nam Kỳ, Nguyễn Xuân Thanh, Trần Đại Quả, Ngô Đức Đệ, Lê Tiềm, Nguyễn Tốn là đại biểu Trung Kỳ. Ngô Đình Mẫn là đại biểu Bắc Kỳ. Đại hội nhất trí quyết định: Không tán thành gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng theo các điều kiện do Đông Dương Cộng sản Đảng nêu ra. Bỏ tên gọi Tân Việt, đặt tên mới là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Củng cố Đảng, đưa ra Đảng những đảng viên yếu kém, bầu Ban lãnh đạo chung. Thường xuyên quan tâm đến cuộc vận động thống nhất các tổ chức cộng sản. Tên gọi Đông Dương Cộng sản Liên đoàn là tên gọi tạm thời trước khi các tổ chức cộng sản thống nhất.

Sáng ngày 1 tháng 1 năm 1930, Đại hội chưa kết thúc nhưng phải di chuyển đến địa điểm họp mới vì sợ bị bại lộ, trong khi di chuyển các đại biểu đã bị địch bắt tại bến đò Trai, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sự việc này xảy ra nhưng cũng có thể coi là đã hoàn tất quá trình thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Tuy Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời chưa có Ban chấp hành Trung ương. nhưng những người cộng sản và những người yêu nước chân chính đều nhận thấy cần phải khắc phục những mặt chưa được và thành lập một đảng cộng sản thống nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến lên.

Huệ- Chính (biên tập)

(văn bản 3)

Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn)

http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_Tri%E1%BB%81u

Hải Triều tên thật Nguyễn Khoa Văn (1 tháng 10 năm 1908 – 6 tháng 8 năm 1954) là mộtnhà báo, nhà lí luận Marxist, nhà phê bình văn học Việt Nam. Ông là nhà lí luận tiên phong trong nền báo chí cách mạng Việt Nam, đặc biệt qua hai cuộc tranh luận gây được tiếng vang lớn vào thập niên 1930Duy vật hay duy tâm và Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh. Những bài viết của ông đả kích mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và lối văn học lãng mạn, xa rời thực tế…

Tháng 8 năm 1940, ông bị chính quyền Pháp bắt đi an trí tại Phong Điền đến tháng 3 năm 1945. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở Huế. Sau Cách mạng tháng 8, ông làm Giám đốc Sở Tuyên truyền Trung bộ sau đó rồi làm Giám đốc Sở Tuyên truyền Liên khu IV trong kháng chiến chống Pháp. Thời gian này ông hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa Marx. Ông làm chi hội trưởng Chi hội nghiên cứu chủ nghĩa Karl Marx, chủ nhiệm tạp chí Tìm hiểu.

Ông mất ngày 6 tháng 8 năm 1954 tại Thanh Hoá, khi mới 46 tuổi. Ông được an táng trên cánh đồng Bảo Đà. Sau này hài cốt ông được đưa về Khu Di tích lịch sử lưu niệm danh nhân Phan Bội Châu vào năm 1984.

Ông là cha của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

(văn bản 4)

Hà Huy Tập tiểu sử (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2006)

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT1361255768

Chương 2 – Đấu tranh và trưởng thành (1923 – 1932)

Ngày 12/6/2012. 

“… Để mở rộng cơ sở hội trong tầng lớp thanh niên, Hà Huy Tập tìm cách vận động những thanh niên yêu nước tham gia vào Hội. Những dịp về quê ở Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh, anh thường tìm gặp lại các bạn cùng học, tuyên truyền, giác ngộ họ, vận động đưa họ vào tổ chức. Hồi ký của Trần Hữu Chương ghi lại: “Tôi nhớ lại, khoảng tháng 8, tháng 9 năm 1926, đồng chí Trần Kim Duyệt và tôi ở Hà Nội về quê – xã Nhượng Bạn (nay là Cẩm Nhượng – Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh), chúng tôi gặp đồng chí Hà Huy Tập là người cùng huyện. Chúng tôi có nghe tin Hà Huy Tập đang hoạt động ở Vinh. Qua nhiều lần đi lại, chuyện trò trao đổi với nhau, dần dần chúng tôi tin nhau, tâm đầu ý hợp. Đến hôm chuẩn bị ra Hà Nội học, đồng chí Hà Huy Tập nói với chúng tôi là ở Vinh có đảng cách mạng Việt Nam mới thành lập, nếu chúng tôi đồng ý thì cả ba sẽ gia nhập đảng ấy. Sở dĩ đồng chí Tập nói như vậy là để dè chừng, đề phòng sự phản ứng không tốt của chúng tôi. Về sau mới biết là đồng chí đã gia nhập Hội Phục Việt từ năm 1925 (đồng chí nói với tôi đồng chí là người thứ 7…). Nghe đồng chí Tập nói như vậy, chúng tôi rất sung sướng. Từ đó, chúng tôi càng năng đi lại với nhau hơn. Đồng chí Tập nói cho chúng tôi nghe nhiều điều mới lạ16.

…16. Hồi ký của Trần Hữu Chương, tr. 10. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

(văn bản 5)

Gặp người anh của Ngô Đức Tốn.

Ngày cập nhật: 27-04-2012

http://lagitoday.vn/tin-tuc-su-kien/1167/gap-nguoi-anh–cua-ngo-duc-ton..html

           … Nhớ lại cách đây 12 năm, tôi đang tìm tư liệu để hoàn chỉnh phần tiểu sử thầy giáo Ngô Đức Tốn, người bí thư chi bộ đảng Cộng sản đầu tiên ở Tam Tân ( nay thuộc xã Tân Tiến, thị xã La Gi ) thời kỳ 1930- 1931 cho tập lịch sử cách mạng huyện Hàm Tân thì tình cờ bắt được liên lạc với cụ. Quả thật  biết bao lúng túng về thân thế của Ngô Đức Tốn, người tiên phong của Đảng ở một vùng đất xa xôi bị áp bức dưới xã hội phong kiến. Sự xuất hiện của thầy giáo Ngô Đức Tốn ở làng Tam Tân chỉ khoảng 2 năm  rồi mắc bệnh chết đột ngột ở nhà thương Phan Thiết. Ông Lê Chạy, người đảng viên  còn lại cuối cùng của chi bộ Tam Tân, vào năm 1983 cũng chỉ nhớ một cách mơ hồ về lai lịch của người Bí thư chi bộ đầu tiên. Thời gian để hiểu về đời riêng của Ngô Đức Tốn đã trôi qua rất nhanh, nhưng trong lòng người dân nơi này còn in đậm bao sự kiện khó quên, trở thành nét son lịch sử quê hương. Phong cách một thầy giáo trẻ, Ngô Đức Tốn âm thầm nhen nhóm tổ chức “Phản đế đồng minh hội”, tập họp hơn 30 người với tâm huyết chống bọn áp bức bất công, kêu gọi chống đế quốc, bài phong. Từ tháng 2 năm 1931, khi đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cũng là cơ hội cho hạt giống khai mầm từ phong trào cách mạng quần chúng đang khát khao vươn lên. Chi bộ Đảng đầu tiên với các đảng viên Lê Chạy, Nguyễn Hữu Lợi, Cao Có, Lê Thanh Lư, Hồ Vũ, Nguyễn Gia Bát và Ngô Đức Tốn làm bí thư.

            Lần theo trí nhớ của cụ Ngô Quang Minh vốn là nhà giáo, đồng nghiệp với Ngô Đức Tốn nên khi tập kết ra Bắc có dịp gặp cụ Ngô Đức Đệ, anh ruột của Ngô Đức Tốn đang làm việc ở Bộ Ngoại giao… Những chi tiết ít ỏi như thế cũng khó hình thành một tiểu sử về cuộc đời của người bí thư đảng đầu tiên ở vùng đất cực Nam Trung bộ. Sau đó, một cơ may lại đến là trên trang báo Nhân dân có đưa tin đợt trao huy chương 40 năm tuổi Đảng ở Hà Nội, người đại diện phát biểu cảm tưởng là cụ Ngô Đức Đệ nguyên là Viện trưởng viện Huân chương. Bắt đầu từ đó, ở Hàm Tân mới lần ra gia đình Ngô Đức Tốn. Vậy là hơn nửa thế kỷ, kể từ năm 1928 gia đình mới biết được phần đời sau này của Ngô Đức Tốn. Như một sự linh ứng là ngày mất của Ngô Đức Tốn được tìm ra từ một tờ báo Phụ nữ Tân Văn:  Tháng 9- 1931 có đưa tin vụ tổ chức Phản đế Tam Tân bị đàn áp do Ngô Quang Minh viết. Tờ báo này còn lưu giữ ở gia đình  của nhà báo Tô Quyên (tức nhạc sĩ Minh Quốc). Cũng nhờ đó mới truy ra ngày mất của Ngô Đức Tốn tại nhà thương Phan Thiết 8-5-1931 mà theo lời cụ Đệ từ lâu biết Ngô Đức Tốn đã chết mà không biết ngày nào để làm giỗ.

            Theo cụ Ngô Quang Minh kể lại đám tang thầy giáo Tốn được đồng nghiệp tổ chức khá chu đáo và chôn ở Bia Đài, cổng Chữ Y (Phan Thiết). Đã hơn 50 năm thì làm sao mà tìm ra dấu vết, lại là nấm mộ đất đơn sơ. Sau này tôi có đọc tập gia phả giòng họ Ngô. Đây là một họ tộc  lớn ở Việt Nam, được ghi chép có hệ thống từ Triệu tổ Ngô Nhật Đại (thế kỷ 8). Chỉ có quyển thượng  nhưng dày đến 250 trang. Ở phần Chi 9 phái thứ 3 có nhắc đến tên ông nội của Ngô Đức Đệ, Ngô Đức Tốn là Ngô Huệ Liên, đỗ cử nhân làm Toản tu quốc sử quán, thăng Công bộ tham tri có sinh các con trai là Ngô Đức Kế, Ngô Đức Thiệu, Ngô Đức Vóc, Ngô Đức Diễn. Ngô Đức Thiệu là cha đẻ của Ngô Đức Đệ và Ngô Đức Tốn… Ông tham gia phong trào Văn thân, chống Pháp bị bắt kết án 15 năm tù khổ sai và bị chết trong nhà lao Thừa Phủ ( Huế) để lại 3 con thơ dại cho người vợ tảo tần lúc 27 tuổi. Cụ Đệ nói không thể nào quên những ngày tháng đó, chỉ có bữa cháo nấu bằng gốc rạ để đỡ lòng.

            Những ngày mồ côi cha, Ngô Đức Tốn nương nhờ vào người bác ruột là Ngô Đức Kế nên có điều kiện hấp thụ những tư tưởng tiến bộ. Ngô Đức Kế đỗ Tiến sĩ khi còn rất trẻ, có chân trong Đông Kinh Nghĩa Thục, mở Triệu Dương Thương Điếm ở Vinh vừa làm kinh tài cho phong trào Đông Du vừa làm nơi liên lạc các văn thân  trong nước. Ngô Đức Kế bị Pháp bắt kết án tù Giảo  giam hậu rồi chuyển xuống khổ sai chung thân đày đi Côn Lôn. 12 năm sau được trả tự do về Hà Nội tiếp tục hoạt động cách mạng, làm chủ bút báo Hữu Thanh, mở  Giác quần thư xã.

            Ngô Đức Đệ, Ngô Đức Tốn còn người chú ruột là Ngô Đức Diễn, dạy học ở Vinh và là một trong những người sáng lập Tân Việt Cách mạng đảng. Năm 1926 ông có vào dạy học tại Phan Thiết. Được một năm thì bị Pháp bắt đày đi Lao Bảo rồi chết ở Huế.

            … Cụ Ngô Đức Đệ đã qua các nhà tù Buôn Mê Thuột, Kon Tum… Đến khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công làm Chủ tịch tỉnh Bình Định. Sau khi tiếp quản Hà Nội, cụ về Bộ ngoại giao đi làm đại sứ ở Ba Lan, rồi giữ chức vụ Viện trưởng Viện Huân chương …

            1997

   Phan Chính (Huyền thọai  xứ biển- Xb2007)

(văn bản 6)

Chí sĩ Ngô Đức Kế

(Kỉ niệm 130 năm ngày sinh của chí sĩ Ngô Đức Kế 1878 – 2008)

 1   2

http://talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13862&rb=0306

Lời tác giả: Tôi làm công tác nghiên cứu nhưng không phải là chuyên gia về giai đoạn này. Từ khi đi làm đi học rồi lại về cơ quan đi làm thì có chí hướng học hỏi nghiên cứu về những thời kỳ thật xa trong lịch sử dân tộc, riêng đối với thời cuối cận đại và hiện đại thì chỉ coi như tìm hiểu học hỏi mà thôi. …

Ngạn Xuyên Ngô Đức Thọ (PGS. TS Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

  1. Vài nét về gia thế và thời trẻ

    … Cụ Ngô Phùng sinh Ngô Huệ Liên và ba người con gái, trong đó có bà thứ hai thường gọi là bà Bang Kiều là mẹ cụ Võ Liêm Sơn).

    Thân sinh Ngô Đức Kế là Ngô Huệ Liên, …
    Vợ cả của cụ Huệ Liên sinh 3 con trai là Ngô Đức Kế, Ngô Đức Thiệu (thân sinh cụ Ngô Đức Đệ, nguyên Viện trưởng Viện Huân chương Phủ Thủ tướng, lão thành CM) và Ngô Đức Vóc (chết trẻ). Bà có vào Quảng Ngãi với chồng một thời gian, nhưng khi cụ Huệ Liên về kinh thì bà xin về quê phụng dưỡng mẹ chồng. Vợ thứ là bà Nguyễn Thị Viễn, sinh 1 con gái là Ngô Thị Viện [7] .

    Bà thứ hai (không rõ tên) là mẹ sinh ông Ngô Đức Diễn và bà Ngô Thị Ninh. Ông Ngô Đức Diễn sinh năm 1898, đỗ Diplome, làm giáo học ở Trường Quốc học Vinh, đồng sáng lập viên Hội Phục Việt, sau đổi là Tân Việt cách mạng đảng, rồi đổi Đảng Tân Việt (Ngô Đức Diễn là UV thường vụ), tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, tức Đảng ta hiện nay. Ông bị thực dân Pháp bắt tại Vinh, đưa vào giam ở nhà nhà lao Phủ Thừa (Huế), bị tra tấn, lâm bệnh chết trong nhà tù [8] . Bà Ngô Thị Ninh sau CM Tháng Tám 1945 hoạt động ở Hội Phụ nữ Hà Tĩnh, rồi công tác tại cơ quan văn phòng Tỉnh uỷ Hà Tĩnh,được công nhận Lão thành CM, mất năm 1992.

    II. Ngô Đức Kế trong phong trào Duy Tân

    Mồng một Tết Tân Mùi (1991) cả nhà tôi vui mừng xúc động chuyền tay nhau đọc đi đọc lại bài báo của nhà văn Sơn Tùng đăng trên tờ An ninh Thủ đô số Xuân năm ấy vừa ra. Trong bài tác giả kể nhiều câu chuyện về Hồ Chủ tịch trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám. Không chỉ những chuyện năm 1945, tác giả còn ghi lại nhiều hồi ức của các vị thân nhân tôn kính của Cụ Hồ. … Cụ Võ Liêm Sơn là em con cô của Ngô Đức Kế …

    [7]Bà Viện lấy chồng người thôn Yên Vinh cùng xã, có 2 con trai là Trần Đoá (ĐV 30, Liệt sĩ), Trần Đại Quả (ĐV 30), một con gái là bà Trần Thị Sáu (chồng là Nghiêm Thưởng người làng Nghĩa Yên, huyện Đức Thọ).
    [8]Hiện vẫn chưa được truy tặng Liệt sĩ.

Đã xem 9 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments