Bài 5. Có thực Chính phủ Nam Kỳ tự trị là những kẻ Khủng bố không thể hợp tác được mà buộc Hồ Chí Minh phải tuyên chiến?

Ngày 7/12/1946 (Trước 12 ngày khi Hồ Chí Minh tuyên chiến với Pháp), Hồ Chí Minh gửi: “LờI KÊU GọI GửI  QUốC HộI Và CHíNH PHủ PHáP”, và “LờI KÊU GọI LIÊN HợP QUốC”  trong đú núi: “những người đại diện Pháp ở Đông Dương đã vội vã tìm cách thực hiện một ý đồ xấu xa… nặn ra nước Cộng hoà Nam Kỳ với một Chính phủ bù nhìn tay sai, tiếp tục khủng bố những người yêu nước Việt Nam,”

Đâu là sự thực?

                                    ***

A. Phân Tích:

  1. Thực tế chúng ta đã đều biết ở Việt nam thời thuộc Pháp thì 3 vùng Bắc – Trung – Nam có mức độ phụ thuộc nhau, văn bản số 1 dưới đây cũng cho thấy Nam Kỳ có lịch sử với các vùng . Việc Nam Kỳ tự trị có lý do riêng của nó, và thực tế trước khi Hồ Chí Minh cướp được Chính quyền của thì người Pháp vẫn quan niệm: “Trong tuyên bố ngày ngày 24 tháng 3 năm 1945 của tướng De Gaulle về Đông Dương có đoạn “Năm quốc gia tạo nên Liên bang Đông Dương được phân biệt bằng văn minh, chủng tộc và truyền thống, sẽ vẫn duy trì những đặc điểm riêng của họ trong Liên bang.[1][2]. ” Theo ý đó thì có thể hiểu, người Pháp muốn Nam Kỳ, cũng như Bắc và Trung Kỳ là 3 bang thuộc Liên bang Đông Dương.

Và khi ký “Hiệp Định sơ bộ ngày 6/3/1946” thì các bên ký kết đã thỏa thuận rất rõ ràng: “Hai bên đã thoả thuận về các khoản sau này:

  • Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Cộng hoà là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba “kỳ”, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, nhưng quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết. “

Sau khi ký hiệp định sơ bộ, ta không hề thấy HCM có động thái gì để thực hiện ” quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.”

Theo tạm ước 14/9/1946 thi Người Pháp đã gần như đã xuống thang mà đáp ứng toàn bộ điều kiện của Hồ Chí Minh đưa ra về Nam Kỳ. Nước Pháp đã đồng ý ký với Hồ Chí Minh một tạm ước mà không có sự hiện diện của Chính Phủ Nam Kỳ, mà chỉ đưa ra một yêu cầu đình chiến để tiếp tục đàm phán.

“Khoản 9. – Vì muốn lập ngay ở Nam Bộ và Nam phần Trung Bộ một nền trật tự cần thiết cho các quyền tự do, dân chủ được tự do phát triển, cho thương mại được phục hồi, vì hiểu rằng sự đình chỉ những hành động xung đột và võ lực của cả hai bên sẽ có ảnh hưởng tốt cho những việc nói trên, Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cùng ấn định những phương sách sau đây:

  1. a) Hai bên sẽ đình chỉ hết mọi hành động xung đột và võ lực. …”

Thời hiệu đưa ra cũng rất ngắn, chỉ là chưa tới 4 thỏng: “…Theo mục đích ấy các cuộc đàm phán sẽ tiếp tục càng sớm càng hay và chậm nhất là vào tháng 1 năm 1947.”

Vì sao HCM không đợi được mà lại tuyên chiến ngay sau khi ký Tạm ước 2 tháng, với lý do đưa ra chỉ là “Tiếc vì một đôi nơi”?

  1. Hồ Chí Minh đã làm gì sau khi ký Hiệp ước Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946?

2.1 Cái chết của Thinh – Thủ tướng cp Nam Kỳ Tự trị.

Theo văn bản số 2 dưới đây cho thấy : ông Thinh đã thắt cổ tự tử, có thật ông ta tự thắt cổ hay tổ chức nào đó đã thắt cổ ông ta?

Lý do ông tự thắt cổ là gì? ”Sau khi nhận thấy mình đã bị Pháp lừa và lợi dụng, ông đã tự tử bằng cách thắt cổ” Liệu một Bác sĩ, một Trí thức ra hoạt động Chính trị có làm vậy khi không thỏa ước nguyện? Lý do đó có vẻ khiên cưỡng.

Vì đâu lại có tin đồn ? “Thời bấy giờ có tin đồn ông bị nhân viên an ninh Pháp (Service de Sécurité) giết rồi làm giả thành vụ tự tử, do sợ bác sĩ Thinh thất vọng vì bị lừa bịp, sẽ lên tiếng tố cáo, phản đối chính quyền Pháp. (dẫn theo , “Thủ tướng hai mươi”)”? Phải chăng có một tổ chức đã thực sự thắt cổ Bác sĩ Thinh rồi tung tin?

Theo văn bản số 3 dưới đây thì cái chết của Bác sĩ Thinh, Cộng Sản Việt Nam có một báo cáo riêng: “…Tám tháng sau, thấy mình bị thực dân lừa gạt, đẩy ra làm việc phi nghĩa, Thinh tự tử. Thật ra duyên do sự thể là vì đa số thành viên Chính phủ của ông đã được Thành bộ Dân chủ Sài Gòn vận động từ chức, Thinh bị cô lập, lại bị dư luận trong giới trí thức khinh bỉ (theo báo cáo của Bí thư Kỳ ủy Dân chủ Nam hồi đó)…”

Nam sinh 1921, lúc đó mới là một Thanh niên, phải chăng đã bị lợi dụng để mà tạo báo cáo giả?

Với những nghi vấn trên, nếu ta chỉ nhìn một mình cái chết của Bác sĩ Thinh thì sẽ không ra được.

Theo phương pháp: “hoạt động tình báo thành công khi biết chắp nối các mẩu thông tin nhỏ bé, mà bản thân chúng có vẻ chẳng có gì quan trọng cả, nhưng khi xếp hàng chục mẩu cạnh nhau, chúng sẽ tạo nên một bức tranh để từ đó các cấp chỉ huy có thể lên kế hoạch.” Ta sẽ đi tìm những cái chết để sếp bên cạnh cái chết của vị bác sĩ này, may ra sẽ tìm ra manh mối.

2.2 Hồ Văn Ngà – Các anh muốn giết tôi thì giết mà đừng gán cho tôi là Việt gian!

Văn bản 4 cho biết về cái chết của Hồ Văn Ngà “Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp (9-3-45), ông cùng thành lập Việt Nam Quốc gia Độc lập đảng do ông làm chủ tịch. ”, “Những ngày Pháp tái chiếm miền Nam, ông bị kẻ lạ mặt giết trên đường Bạc Liêu – Cà Mau. Theo truyền văn, trước khi bị hành quyết ông còn nói: “Các anh muốn giết tôi thì giết mà đừng gán cho tôi là Việt gian!”. ”

2.3 Cái chết của  – Ðại diện Ngoại giao CP Nam Kỳ tự trị.

Văn bản 5 cho biết về cái chết của : “có người cho là Pháp đã cho người ám sát ông[13] trên đường Cây Mai, Chợ Lớn. Thuyết thì cho là lực lượng Việt Minh[5] do Nguyễn Văn Trấn và Cao Đăng Chiếm ra lệnh giết ông[15] vì cả hai phe, Pháp lẫn Việt Minh đều thù ghét ông.[16]

2.4. Cái chết của Dương Văn Giáo và Lê Quang Kim. – “Kẻ cầm đầu Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ”

Văn bản 6 cho biết về cái chết của Dương Văn Giáo và Lê Quang Kim: Trong hồ sơ của Huỳnh Văn Nghệ được lưu tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, có bản báo cáo thành tích do chính ông viết. Ở mục “Những thành tích kháng chiến” giai đoạn 1945, Huỳnh Văn Nghệ viết như sau (trích nguyên văn): “Bắt được tên Dương Văn Giáo, Thủ tướng Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ: Một mình với một khẩu súng lục, dùng lý lẽ thuyết phục được một đại đội sắp ra đầu hàng địch, kéo đại đội này trở về với ta và dùng ngay lực lượng ấy xông vào bắt tên Dương Văn Giáo và Lê Quang Kim nạp cho chánh phủ xử tội, kết quả giải tán ngay trong trứng chính phủ bù nhìn đầu tiên của địch ở Nam Bộ làm địch rất lúng túng trong việc tìm người để thành lập chính phủ bù nhìn ”.

B. Nhận xét:

Với giọng văn của vị Cha Già Dân Tộc, “Mãi ngàn đời ngát hương thơm trong tâm hồn Việt Nam.” Mà lại thường kêu gọi: “Một mặt phá hoại Một mặt kiến thiết”, “làm thương tổn 10 ngón tay không đau đớn bằng cắt đứt hẳn đi 1 ngón tay”, hay là: “đánh bại 10 sư đoàn không bằng trừ diệt 1 sư đoàn”… ”… ta cũng biết được phần nào con người thực của HCM.

5 cái chết của những người đứng đầu chính phủ Nam Kỳ tự trị, hiện Cộng Sản Việt Nam mới chỉ nhận thành tích là giết 2 người, còn lại 3 người thì tin đồn lúc là Pháp giết, lúc là Việt Minh của Cộng sản Việt Nam giết. Nhưng ta chỉ nhìn 3 cái chết kia có lợi cho ai? Có lợi cho tổ chức nào? Thì ta sẽ biết ai, Tổ chức nào là thủ phạm.

Trong khi HCM luôn miệng đổ cho Chính phủ Nam kỳ là Khủng bố, vậy họ đã giết ai? Họ đã giết ai trong số những người cấm đầu chính phủ của HCM? Họ đã giết ai khi mà: “Bản thân chính phủ không có tài chính, không có quân đội, không có cả trụ sở.”?

Trong khi họ chưa giết ai trong số những người cấm đầu chính phủ của HCM, thì họ đã bị giết ít nhất là 5 người đứng đầu chính phủ, trong đó ít nhất thì CS VN đã thừa nhận giết 2 người!  Trong khi đó HCM không hề có những tiếp xúc với họ để bàn: “quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.” !

Sự thực thì tổ chức nào mới là những kẻ Khủng Bố?

III. Thắc mắc : Có phải HCM phát động Cuộc Chiến chống Pháp để che đậy một sự thực hãi hùng?

Xin xem phần Kết luận chương này sẽ rõ.

C. Nguồn tài liệu nghiên cứu:

  1. Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ

http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_T%E1%BB%B1_tr%E1%BB%8B_Nam_K%E1%BB%B3

Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ (tiếng PhápRépublique autonome de Cochinchine) – hay các tên gọi Nam Kỳ Cộng hòa quốc,Nam Kỳ quốcCộng hòa Nam KỳNam Kỳ Tự trị – là một thực thểchính trị tồn tại từ 1946 đến 1948, về danh nghĩa quản lý lãnh thổNam Kỳ và được coi như một quốc gia nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Hiện nay, chính thể này không được giới sử học Việt Namthừa nhận.

…Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ là thuộc địa do người Pháp trực tiếp cai trị với một hệ thống luật pháp hệ thống được áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tại Nam Kỳ không tồn tại bộ máy hành chính của triều đình Huế như ở Bắc và Trung Kỳ.

Về mặt kinh tế, Nam Kỳ hình thành một tầng lớp đại địa chủ người Việt giàu lên nhờ chính sách khai hoang của chính quyền thuộc địa, nhiều người trong tầng lớp này mang quốc tịchPháp. Thương mại tại Nam Kỳ đặc biệt là ngoại thương (xuất khẩu nông sản) khá phát triển. Do kinh tế phát triển nên mức sống tại Nam Kỳ cao hơn các miền .

Nam Kỳ có nền báo chí hình thành sớm nhất tại Việt Nam và phát triển tương đối tự do vì người Pháp áp dụng quy chếthuộc địa chứ không phải quy chế bảo hộ như tại Bắc và Trung Kỳ. Hơn nữa Nam Kỳ còn có một tầng lớp trí thức Tây học, nhiều người trong số này từng du học tại Pháp hoặc có quốc tịch Pháp.

Chính vì thế mức độ Âu hoá về kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, luật pháp, tập quán, lối sống… ở Nam Kỳ khá cao. Ngoài ra còn phải kể đến những biệt do điều kiện địa lý, đặc điểm dân cư, cấu trúc xã hội và lịch sử chia cắt nhiều thế kỷ với miền Bắc (Trịnh-Nguyễn phân tranh) tạo ra.

Tất cả tạo nên một tâm lý phổ biến trong dân cư Nam Kỳ coi các vùng miền là những xứ sở xa lạ. Tâm lý này có thể được một số chính trị gia khai thác vì mục đích chính trị, cũng là cơ sở để người Pháp chấp nhận sự thành lập nhà nước tự trị tại Nam Kỳ.

Trước năm 1945, ở Nam Kỳ đã có những cá nhân và tổ chức vận động, tuyên truyền đòi người Pháp mở rộng quyền tự trị cho người Việt như Đảng Lập hiến Đông Dương. Các cuộc vận động này do tầng lớp trung lưu và thượng lưu chủ xướng. Sau năm 1945, ý tưởng chính trị này vẫn được các chính Nam Kỳ theo đường lối trung dung theo đuổi.

…Trong tuyên bố ngày ngày 24 tháng 3 năm 1945 của tướng De Gaulle về Đông Dương có đoạn “Năm quốc gia tạo nên Liên bang Đông Dương được phân biệt bằng văn minh, chủng tộc và truyền thống, sẽ vẫn duy trì những đặc điểm riêng của họ trong Liên bang.[1][2]. Như vậy, cuối Thế chiến thứ II, người Pháp vẫn xem Bắc Kỳ – Trung Kỳ, Tây Nguyên và Nam Kỳ của Việt Nam là ba quốc gia nhau. Sau này việc cho phép thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ cũng nằm trong kế hoạch thành lập Liên bang Đông Dương của Pháp.

…Tháng 2 năm 1946, Ủy viên Cộng hòa Nam Kỳ (Commissaire République, tức chức vụ mới lập để gọi người Pháp cầm đầu hành chánh ở Nam Kỳ) Jean Cédile cho lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Coeil coultatif de Cochinchine) với 12 ủy viên. Thành phần Hội đồng gồm 4 người Pháp và 8 người Việt nhưng tất cả đều có quốc tịch Pháp.[4] Mục đích của Pháp là tách Nam Kì ra khỏi Việt Nam thống nhất.[5]

Chính Hội đồng này sang tháng 3 đã đệ trình một kiến nghị với chữ ký của 8 ủy viên người Việt lên Cao ủy Đông Dương (tương đương với chức Toàn quyền Đông Dương cũ) là đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu đề nghị thành lập nước Nam Kỳ Tự trị.[6] Cédile tỏ rõ ý định ủng hộ đề nghị thành lập nước Nam Kỳ Tự trị và hậu thuẫn những đảng phái thân Pháp như Đảng Nam Kỳ của Béziat để vận động công chúng. Những nhóm như Đông Dương Tự trị Đảng và Việt Nam Tân dân Đảng cũng ngả theo lập trường “Nam Kỳ tự trị”. Cùng lúc đó thì Đảng Tân Dân chủ của bác sĩNguyễn Văn Thinh tuy tham gia vào Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ vẫn cố gắng tìm chỗ đứng riêng để thu hút các lực lượng không cộng sản. Đến 31/05/1946 Hội đồng tư vấn Nam Kỳ đổi thành Hội đồng Nam Kỳ (Coeil de Cochinchine) với số ủy viên tăng lên 42 người.

Trong khi Hội nghị Fontainebleau sắp diễn ra ở Pháp thì Cao ủy Đông Dương là d’Argenlieu đơn phương tán thành việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ ngày 27 tháng 5 năm 1946 và ra tuyên cáo ngày 1 tháng 6 trước đám đông tụ tập ở Nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Ngày 5 tháng 6, tổng trưởng Pháp Marius Moutet chấp thuận hành xử của d’Argenlieu để “bảo vệ quyền lợi của dân tộc Nam Kỳ”.[7] Cũng vào đầu tháng 6, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm thủ tướng chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ tự trị. Ủy viên Cédile liền ký với tân thủ tướng một hiệp ước nhìn nhận xứ Nam Kỳ là một xứ tự do, riêng biệt trong khuôn khổ của Liên bang Đông Dương.

  1. Thinh

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Thinh

Thinh (188810 tháng 11 năm 1946) là một bác sĩ và chính trị gia người Việt giữa thế kỷ 20. Ông cũng là thủ tướng đầu tiên của chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ.

Ông sinh năm 1888, trong một gia đình đại điền chủ Nam Kỳ, có quốc tịch Pháp. Vốn theo học Tây học từ nhỏ, đậu thủ khoa khóa đầu tiên Trường Đại học Y khoa Đông Dương năm 1907[1] rồi sau đó sang Pháp theo học tại Y Khoa Đại học Đường Paris (Faculté de Médecine de Paris) lấy bằng bác sĩ y khoa Pháp.

…Ông bước vào chính trị năm 1926 như một người theo phe Lập Hiến với việc tham gia vào Ủ tổ chức lễ tang cụ Phan Chu Trinh, và sau đó thành lập Đảng Dân chủ Đông Dương vào năm 1937. Ông cũng từng là hội viên sáng lập của Hội truyền bá quốc ngữ Nam Kỳ và hội trưởng Hội cứu đói Nam Kỳ.

Sau khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng phe Đồng Minh thì Pháp mở cuộc tái chiếm Nam Bộ. Họ chủ trương chia cắt miền Nam để đáp lại tuyên bố chủ quyền thống nhất với miền Nam của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để thực hiện chủ trương đó, Đại tá Jean Cédille, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ (tức tương đương với chức thống đốc Nam Kỳ cũ) đã đề cử bác sĩ Thinh huy động nhân sĩ lập ra Hội đồng tư vấn Nam Kỳ để thành lập chính phủ Nam Kỳ tự trị.

Ngày 4 tháng 2 năm 1946đô đốc D’Argenlieu nhân danh Cao ủy Pháp tại Đông Dương ký sắc lệnh thành lập một Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ gồm bốn thân hào Pháp, tám thân hào Việt Nam. Cũng hội đồng này đã cử bác sĩ Thinh làm thủ tướng lâm thời vào ngày 26 tháng 3 năm 1946…

Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ thành lập vội vã, thiếu sự ủng hộ của quần chúng lao động mà chỉ trông vào giới trung lưu người Việt, và thậm chí, bị ngay chính người Pháp đối xử tàn tệ. Bản thân chính phủ không có tài chính, không có quân đội, không có cả trụ sở. Bác sĩ Thinh phải lấy phòng mạch bác sĩ của ông làm nơi làm việc của chính phủ.[6]

Ngày 10 tháng 11 năm 1946, sau khi nhận thấy mình đã bị Pháp lừa và lợi dụng, ông đã tự tử bằng cách thắt cổ, trên bàn viết gần đó có quyển sách thuốc còn mở ra ở trang nói về “Thắt cổ” (Pendaison).[7]

7.^ Người ta tìm thấy xác ông treo cổ bằng dây điện lên song sắt cửa sổ. Thời bấy giờ có tin đồn ông bị nhân viên an ninh Pháp (Service de Sécurité) giết rồi làm giả thành vụ tự tử, do sợ bác sĩ Thinh thất vọng vì bị lừa bịp, sẽ lên tiếng tố cáo, phản đối chính quyền Pháp. (dẫn theo , “Thủ tướng hai mươi”)

  1. Hồ Chủ tịch với trí thức dân chủ trong cách mạng tháng 8

08:06 | 19/05/2010

VŨ ĐÌNH HÒE       Trích đoạn trong cuốn Hồi ký “Pháp quyền – Nhân nghĩa Hồ Chí Minh”.

http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c209/n5555/Ho-Chu-tich-voi-tri-thuc-dan-chu-trong-cach-mang-thang-8.html

…Trung ương Đảng Dân chủ vừa ra công khai sau Cách mạng tháng Tám (cuối tháng 9-1945) với những ủy viên mới bổ sung, vạch ngay kế hoạch xây dựng phát triển đảng, để tăng cường lực lượng trong trí thức và các tầng lớp trên ở thành thị. Trung ương Đảng Cộng sản trong chỉ thị “Kháng chiến ngày 15/11/1945” đã vạch cho các cấp ủy đảng mình: “Giúp cho Việt Nam Dân chủ đảng thống nhất” và phát triển để thu hút vào Mặt trận những tầng lớp tư sản, địa chủ yêu nước và tiến bộ”.

Chủ trương của cả hai Trung ương (Dân chủ và Cộng sản) là cần thiết và hợp thời.

“…Tám tháng sau, thấy mình bị thực dân lừa gạt, đẩy ra làm việc phi nghĩa, Thinh tự tử. Thật ra duyên do sự thể là vì đa số thành viên Chính phủ của ông đã được Thành bộ Dân chủ Sài Gòn vận động từ chức, Thinh bị cô lập, lại bị dư luận trong giới trí thức khinh bỉ (theo báo cáo của Bí thư Kỳ ủy Dân chủ Nam hồi đó)…”

V.Đ.H
(139/09-00)

  1. Hồ Văn Ngà http://www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?key=H%E1%BB%93+V%C4%83n+Ng%C3%A0&type=A0

Hồ Văn Ngà là nhà hoạt động chính trị, nhà báo, quê ở thị xã Tân An nay là thị xã Tân An, tỉnh Long An.

Ông xuất thân trong một gia đình Nho học, thân phụ làm nghề thuốc Bắc, ông là anh ruột Bác sĩ Hồ Văn Huê (cựu đại tá, Thứ trưởng Bộ Y tế chính phủ CMLTMNVN).

Thuở nhỏ ông học tại trường làng ở Tân An đậu Primaire. Năm 1918, ông lên Sài Gòn học Trường Chasseloup Laubat, đang học năm thứ ba vì tham gia “làm reo” (grève) bãi khóa nên bị đuổi học, nhưng nhờ học lực xuất sắc (luôn đứng đầu lớp) nên được cho học lại. Năm 1923, ông học nhảy lớp, đậu đầu tú tài bản xứ, được gia đình bên vợ cung cấp tài chánh sang Pháp học tại Trường Cao học Kỹ nghệ và Mỹ thuật Trung ương Paris (Arts et Manufactures de l’École Centrale de Paris) luôn đỗ đầu trong các năm học. Ở Pháp ông tham gia các tổ chức chống chế độ thuộc địa, nên lại bị đuổi học một lần nữa, và trục xuất về Nam Kỳ.

Kỹ sư Lưu Văn Lang khi hay tin trên than tiếc trường hợp ông, cho rằng: “Uổng quá, tôi có học trường ấy, nhưng tôi không làm major (đứng đầu lớp) suốt ba năm như Ngà. Làm major, khi ra trường tương lai lớn lắm. Uổng quá! Uổng quá!”.

Về Sài Gòn, ông viết báo, dạy tại các trường tư, tham gia các tổ chức xã hội, chính trị chống Pháp. Năm 1936, ông tham gia Đông Dương đại hội cùng với Tạ Thu Thâu, Tạo, Dương Bạch Mai, Phan Văn Hùm, Diệp Văn Kỳ… cộng tác với các báo La Cloche fêlée, La lutte, L’Avant Garde, Thần Chung, Công Luận, Mai, Dân chúng, Hưng Việt. Có thời gian ông bị Pháp cưỡng bức lưu trú ở Sóc Trăng vì tội chống Pháp!

Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp (9-3-45), ông cùng thành lập Việt Nam Quốc gia Độc lập đảng do ông làm chủ tịch. Từ đó ông kêu gọi các lực lượng chống Pháp thành lập Mặt trận Quốc gia thống nhất (gồm Việt Nam Quốc gia Độc lập, Thanh niên Tiền phong, Nhóm trí thức, Đoàn Công chức, Tịnh độ cư sĩ, Hòa Hảo, Cao Đài, Nhóm Tranh đấu…) tham gia việc nước. Khi làm Khâm sai Đại thần Nam Bộ của chính phủ , ông được cử giữ chức Chánh văn phòng Khâm sai.

Những ngày Pháp tái chiếm miền Nam, ông bị kẻ lạ mặt giết trên đường Bạc Liêu – Cà Mau. Theo truyền văn, trước khi bị hành quyết ông còn nói: “Các anh muốn giết tôi thì giết mà đừng gán cho tôi là Việt gian!”.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_S%C3%A2m

 (27 tháng 9, 1898 –10 tháng 101947) là một nhà báo và chính h Việt Nam. Ông được vua Bảo Đạiđề cử làm khâm sai Nam Kỳ thời Đế quốc Việt Nam, đại diện triều đình Huế ở miền Nam sau khi Liên bang Đông Dương của Pháp bị Đế quốc Nhật Bản đảo chánh tước quyền.

Ông quê ở Bang Long, tỉnh Sóc Trăng, có tiếng thông minh học giỏi từ nhỏ. sau theo học Trường Công chánh (Ecole des Travaux Publics) ở Hà Nội. Ông lấy vợ nhà giàu, ghi là hạng tỉ phú.[1]

…Tên của được biết đến đầu tiên trong làng báo chí với bài vở đóng góp trên báo La Tribune Indigène của Nguyễn Phú Khai …

…Từ trước năm 1945  đã tham gia lập ra Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng. Có một thời ông hoạt động với bí danh Dương Sĩ Kỳ.[5]

Khi Đế quốc Nhật đảo chính thực dân Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945 và Thủ tướng Trần Trọng Kim nhân danh vua Bảo Đại đứng ra lập chính phủ của Đế quốc Việt Nam thì được chọn là khâm sai Nam Kỳ theo dụ 108,[6] tức đại diện của nhà vua ở miền Nam kể từ ngày 14 tháng 8.[7] …

Sang năm 1946 ông đại diện Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng đến họp ở Bà Quẹongoại ô Sài Gòn vào ngày 20 tháng 4để cùng các đảng phái và đoàn thể tôn giáo ở Nam Kỳ lập Mặt trận Quốc gia Liên hiệp hầu tranh thủ với đảng Cộng sản Việt Nam trong việc chống Pháp.[11]

Khi Đảng Quốc gia Độc lập suy thoái với nhiều thành viên ngã theo cộng sản[5] thì là một trong những người sáng lập ra Đảng Dân Xã Việt Nam vào năm 1946, chủ yếu với thành phần Phật giáo Hòa Hảo; sau ông lên làm chủ tịch Đảng.[12]

Khi chính phủ Nam Kỳ Quốc của Nguyễn Văn Thinh hình thành năm 1947 thì đảng viên Dân xã được chọn làm Ðại diện Ngoại giao.[13] Ông là người đứng ra lập Mặt trận Thống nhứt Toàn quốc, tức Mặt trận Quốc gia Thống nhứt vào tháng 8 ủng hộ việc đưa cựu hoàng Bảo Đại lên thống lĩnh các lực lượng không cộng sản để đòi độc lập từ tay người Pháp.[7][14] Tuy tham chính trong chính phủ Nam Kỳ Quốc, ông cùng Tổng trưởng Thông tin Trần Văn Ân muốn thống nhất Nam Kỳ vào với Trung và Bắc Kỳ nên có người cho là Pháp đã cho người ám sát ông[13] trên đường Cây Mai, Chợ Lớn. Thuyết thì cho là lực lượng Việt Minh[5] do Nguyễn Văn Trấn và Cao Đăng Chiếm ra lệnh giết ông[15] vì cả hai phe, Pháp lẫn Việt Minh đều thù ghét ông.[16]

trong cuốn Một cơn gió bụi nhận xét là người “ôn hòa trầm tĩnh, ngay chính và hết lòng lo việc nước”.[17]

  1. Kẻ cầm đầu Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ bị bắt như thế nào?

QĐND – Thứ Tư, 14/09/2011, 13:30 (GMT+7)

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/89/70/79/79/79/160474/Default.aspx

QĐND … Tiêu biểu nhất trong đám Việt gian ở Sài Gòn là Dương Văn Giáo, còn gọi là Trạng sư Dương Văn Giáo. Tên này vừa từ Xiêm về Việt Nam, bám gót Tây thành lập Chính phủ Việt gian bán nước, với tên gọi “Nam Kỳ Cộng hòa quốc”.

Trong hồ sơ của Huỳnh Văn Nghệ được lưu tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, có bản báo cáo thành tích do chính ông viết. Ở mục “Những thành tích kháng chiến” giai đoạn 1945, Huỳnh Văn Nghệ viết như sau (trích nguyên văn): “Bắt được tên Dương Văn Giáo, Thủ tướng Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ: Một mình với một khẩu súng lục, dùng lý lẽ thuyết phục được một đại đội sắp ra đầu hàng địch, kéo đại đội này trở về với ta và dùng ngay lực lượng ấy xông vào bắt tên Dương Văn Giáo và Lê Quang Kim nạp cho chánh phủ xử tội, kết quả giải tán ngay trong trứng chính phủ bù nhìn đầu tiên của địch ở Nam Bộ làm địch rất lúng túng trong việc tìm người để thành lập chính phủ bù nhìn ”.

Tài liệu không ghi rõ ngày xảy ra sự kiện cũng như diễn biến của sự kiện ấy. Chúng tôi đã tìm gặp ông Huỳnh Văn Nam, nguyên Tổng giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, là con trai của “Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ. May mắn cho chúng tôi là trong gia phả tộc họ Huỳnh Văn có khá nhiều tư liệu liên quan đến giai đoạn này của Huỳnh Văn Nghệ, trong đó có bút tích, lưu bút của nhiều người từng sống và làm việc với ông. Nhờ đó, chúng tôi có được tư liệu khá đầy đủ về một trong những chiến công xuất sắc của “Thi tướng” nói riêng và lực lượng Việt Minh nói chung trong giai đoạn Nam Bộ kháng chiến.

Trước ngày nổ ra Nam Bộ kháng chiến, Huỳnh Văn Nghệ được Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ giao nhiệm vụ làm Ủy viên hành chính phụ trách miền Đông. Nhiệm vụ tối quan trọng đầu tiên Huỳnh Văn Nghệ thực thi là đem hơn 70 vạn tiền Đông Dương sang Cam-pu-chia mua vũ khí phục vụ kháng chiến. Do chưa có kinh nghiệm nên Tám Nghệ (tên thường gọi của Huỳnh Văn Nghệ) đã bị những kẻ lái súng lừa gạt, lấy mất tiền. Trên đường trở về Sài Gòn, Tám Nghệ lòng nặng trĩu, tự dằn vặt mình vì không hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao. Khi về đến phà Mỹ Thuận, Tám Nghệ biết tin Trạng sư Dương Văn Giáo theo giặc đứng ra thành lập Chính phủ Việt gian thông qua nguồn tin của Báo Cứu quốc. Ai chứ tay Trạng sư ma mãnh và trụy lạc này thì Tám Nghệ đâu có lạ. Hắn đã từng có “duyên nợ” với Tám Nghệ. Giai đoạn ở Xiêm trước đó, Dương Văn Giáo từng là nhân vật cốt cán của tổ chức “Việt Nam Phục quốc đồng minh hội”, làm mật thám cho Nhật, lừa gạt, giết hại nhiều đồng chí là kiều bào của ta. Tám Nghệ đã hai lần tìm cách trừ khử tên chó săn này nhưng không có kết quả vì hắn rất ranh ma. Giờ đây, khi quân Pháp tăng chi viện cho Sài Gòn hòng đánh bật Việt Minh, tên Việt gian họ Dương này lại bám gót Pháp, trở về Việt Nam để thành lập Chính phủ Việt gian.

Bao lo âu, phiền muộn về vụ mua súng bị lừa gạt bỗng chốc tan biến trong lòng Tám Nghệ. Phải tìm mọi cách bắt ngay Dương Văn Giáo. Để chậm trễ ngày nào sẽ là tai họa cho cách mạng ngày đó. Tám Nghệ giục người lái xe mở hết tốc độ chạy như bay về Sài Gòn để tổ chức lực lượng truy bắt gấp tên Việt gian này. Sáng ngày hôm sau, trên đường đi gặp người của Ủ kháng chiến, Tám Nghệ mừng như bắt được vàng khi phát hiện ra Dương Văn Giáo đang ngồi trên chiếc xe mui trần có cắm cờ của Đồng minh Quốc dân đảng Trung Quốc. Người đi cùng Tám Nghệ là Giỏi, cán bộ Công đoàn Sài Gòn – Chợ Lớn– Gia Định. Sự kiện này được ông Giỏi kể lại:

– Trong lúc Tám Nghệ và tôi chờ xe đến đón ở gần nhà thương (bệnh viện) Chợ Rẫy thì Tám Nghệ thấy một chiếc xe chạy ngược chiều, trong xe có tên Dương Văn Giáo. Tôi đưa cho Tám Nghệ xem danh sách chính phủ Việt gian bắt tay với Pháp. Tám Nghệ tức tốc cho xe rượt theo để bắt chúng. Tôi liền mở cặp táp đưa cho Tám Nghệ khẩu súng Vitkar Đức, còn tôi thì sử dụng khẩu mô-de.

Tám Nghệ bí mật cho xe bám theo và vạch ngay trong đầu các phương án bắt sống Dương Văn Giáo sao cho êm gọn nhất. Trong trường hợp xe của tên Việt gian này chạy về hướng Trường đua (nay là Trường đua Phú Thọ), sẽ sử dụng lực lượng bộ đội Bình Xuyên đón bắt. Bằng không, sẽ phải bám đến cùng xem nó đi đến đâu để có phương án “vào hang bắt cọp”. Phương án thứ nhất không xảy ra. Xe chở Dương Văn Giáo chạy lòng vòng rồi rẽ vào một xóm ở Bà Chiểu, sau đó cả đám xuống xe. Tám Nghệ dừng xe, phân công đồng chí Giỏi chạy thẳng về Gò Vấp xin lực lượng đến vây bắt Dương Văn Giáo, còn mình thì bám theo mấy bóng người đang khuất dần sau khóm tre. Dương Văn Giáo và đám tay chân bước vào một ngôi nhà ngói nằm giữa vườn cây xanh.

Cuộc tập kích không tiếng súng

Tám Nghệ hết sức ngạc nhiên khi phát hiện ra, trong ngôi nhà ấy có một đơn vị quân đội đang đóng trú nhưng không biết là quân của lực lượng nào? Đang lúc đầu óc căng như dây đàn thì bất ngờ từ trong nhà có hai người đeo súng lục bên hông bước nhanh ra cổng. Tám Nghệ kéo sụp chiếc mũ xuống che mặt định bước đi thì một trong hai người đó đã nhận ra ông. Hóa ra đó là một người bạn cùng học với ông từ thời ở Trường Petrus Ký, tên là Hồng Tảo. Cuộc tương ngộ quá bất ngờ. Qua mấy câu thăm hỏi chóng vánh, Tám Nghệ biết, đây là đại bản doanh của nhóm Lê Kim Lễ, Lê Kim Tỵ, là đám Việt gian theo Pháp. Dương Văn Giáo đã lôi kéo bọn này theo mình và cuộc gặp gỡ của bọn chúng hôm nay sẽ rất quan trọng đối với kế hoạch, âm mưu thành lập Chính phủ Việt gian của Dương Văn Giáo. Còn Hồng Tảo là người chỉ huy một đại đội Cộng hòa vệ binh đóng ở đây để bảo vệ. Hồng Tảo cho Tám Nghệ biết, Lê Kim Tỵ là người bỏ tiền ra nuôi lực lượng bảo vệ này.

Tám Nghệ suy tính nhanh, nếu đợi đến lúc bộ đội của ta đến không khéo kế hoạch đã bị bại lộ, bọn Việt gian sẽ thừa cơ trốn thoát. Mặt , khó có thể tránh khỏi đụng độ căng thẳng giữa hai bên. Thuyết phục Hồng Tảo đứng về phía chính nghĩa và sử dụng lực lượng này bắt ngay Dương Văn Giáo là thượng sách. Tám Nghệ cho Hồng Tảo biết, vị h đang đối ẩm với chủ nhà ở trong kia chính là kẻ phản quốc hại dân Dương Văn Giáo. Bằng tài cảm hóa của mình, Tám Nghệ đã thuyết phục Hồng Tảo hợp tác với mình. Hồng Tảo là người yêu thơ, rất mực phục tài thi phú của Tám Nghệ và từ lâu đã coi Tám Nghệ như một bậc đàn anh đáng kính. Sau mấy phút lưỡng lự, Hồng Tảo nói với Tám Nghệ: – “Anh Tám chờ tui ít phút” rồi đi nhanh vào nhà. Nhận thấy có sự xâm nhập của người lạ, những người ở trong nhà tỏ ra lo lắng. Lê Kim Lễ và Lê Kim Tỵ liền đứng dậy trấn an: “Trong tay chúng tôi có hẳn một đại đội bảo vệ. Không có chuyện gì khiến các anh phải lo lắng”. Chừng dăm phút sau, Hồng Tảo bước ra sân lấy khăn tay vẫy vẫy làm ám hiệu cho Tám Nghệ đi vào nhà. Tám Nghệ đường hoàng bước vào, một tay đút vào túi áo nắm chắc khẩu súng lục đã lên đạn. Thấy Tám Nghệ xuất hiện như trên trời rơi xuống, Dương Văn Giáo quát: “Thằng Nghệ, mày đến đây làm gì”? Rồi giục Lê Kim Tỵ lệnh cho quân “xử” Tám Nghệ. Lê Kim Tỵ lập tức ra lệnh cho Hồng Tảo bắt Tám Nghệ. Hồng Tảo từ nhà dưới đi lên dẫn theo chục tay súng. Nhưng thay vì bắt Tám Nghệ, Hồng Tảo lại chĩa nòng súng về phía Dương Văn Giáo, Lê Kim Tỵ và đám tay chân rồi hô lớn: “Tất cả đứng im, giơ tay lên!”. Tám Nghệ bấy giờ mới lên tiếng: “Mời anh Dương Văn Giáo về Ủ Nhân dân Nam Bộ để trả lời về tội thành lập Chính phủ Việt gian bán nước”. Tám Nghệ ra lệnh trói cả bọn. Một lúc sau bộ đội của ta đến đưa Dương Văn Giáo và đồng bọn về Gò Vấp giao cho người của Ủ quản thúc. Tám Nghệ nhờ người báo tin cho đồng chí biết vụ việc để có hướng xử lý tiếp theo. Mọi người ôm chầm lấy Tám Nghệ chúc mừng chiến thắng. Tên cầm đầu bị bắt, Chính phủ Việt gian đầu tiên ở Nam Bộ bị xóa sổ mà không tốn một viên đạn nào.

Minh Thiên

Đã xem 8 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments