Bài 1: Người chết ở đoàn “Đại biểu Quốc hội Quảng Nam Đà Nẵng khóa I (1946-1960)”.

Quyển 16. Quốc Hội khóa 1 là giết người.

Lời dẫn. Lấy lý do là chính quyền Công Nông, Hồ đã gợi ý ra ứng cử Đại Biểu Quốc Hội toàn là người Không phải Cộng Sản, Tuy nhiên ở một số tỉnh vẫn còn sót Cộng sản kỳ cựu hoặc Trí Thức lớn. Thế là Hồ phải thực hiện việc giết họ!

Ta nghiên cứu danh sách Đại biểu QH khóa 1 sẽ thấy, các đoàn gồm toàn Bầy quỷ đã nghiên cứu ở quyển 7 và nông dân – Một số đoàn có trí thức thì những người đó thường là chết sớm! Tuyệt nhiên không thấy Cộng sản cũ (Đông Dương CS)

Cả việc cái gọi là Quốc Dân Đại Hội Tân Trào tháng 8 – 1945 cũng vậy, liệu 60 người Hồ nhặt ở vài nơi về không qua bầu bán có là Quốc Dân Đại Hội? (độc giả tự nghiên cứu)

Kìa cụ Ngô Tất Tố, cụ Phạm Bá Trưc, cụ Bùi Bằng Đoàn… chỉ làm cảnh cho chúng 1 hai năm là ốm rồi chết! (độc giả tự nghiên cứu)

Bài 1: Người chết ở đoàn “Đại biểu Quốc hội Quảng Nam Đà Nẵng khóa I (1946-1960)”.

(Một số đoàn khác cũng như vậy – độc giả tự nghiên cứu)

Nhận xét 1. Có 6 người chết trẻ. 6/16 một tỷ lệ khá lớn!

Nhưng nếu ta tạm để ra 4 người không có thông tin (Không biết họ chết già hay chết trẻ) thì tỷ lệ (Người chết trẻ/ người chết già) sẽ là 6/6 một tỷ lệ rất đáng để ta suy nghĩ!

Tại sao lại có 4 người không rõ sống chết ra sao? Họ chết trẻ hay già?

Nhận xét 2: 6 người chết trẻ họ là ai?

Trong đó 3/6 người thì đã rõ họ là những kỳ cựu cao cấp của Đảng CS Đông Dương. 3 Người còn lại thì không rõ chức vụ gì, có vẻ như họ bị lãng quên! (Đến năm 2009 ông Nguyên Thế kỷ mới được công nhận liệt Sĩ)

Nhận xét 3: 4 người không rõ sống chết ra sao, họ là ai?

Chỉ thấy ghi: “Sau ngày 17/11/1931, chi bộ Đảng Trung Lực- Mỹ Thổ ra đời

…Sau đó anh Lê Viên, Lê Dung quê ở Thạch Bàn ở trường Quốc học Huế về ”, rất có thể họ là những người Cộng Sản kỳ cựu, vì sao thông tin của họ ít vậy?

4 người này chết sống thế nào? Chỉ biết một điều đến 1971 thì không thấy ghi họ là đại biểu Quốc hội nữa.

Nhận xét 4. Những người sống tương đối thọ. 2 người Lê Văn Hiến, Lê Thị Xuyến ta đã biết ở Quyển 7 – Bầy quỷ, còn lại 4 người Nguyễn Xuân Nhĩ, Trần Tống, Lâm Quang Thự, Trần Đình Tri thì ta thấy:

  1. Nguyễn Xuân Nhĩ, Thọ 71 tuổi, và 1976 (64 tuổi) đã ung thư vòm họng – không nói được.

Liệu ông này có phải người có tên Nguyễn Công Tâm? Ở danh sách đại biểu Quốc hội khóa 1, chỉ có tên Nguyễn Xuân Nhĩ mà không có đuôi “Tức Nguyễn Công Tâm” Ở danh sách đại biểu Quốc hội khóa 6 thì chỉ thấy tên Nguyễn Công Tâm mà chẳng thấy (Tức Nguyễn Xuân Nhĩ). (ta sẽ nghiên cứu thêm về Nguyễn Xuân Nhĩ sau)

  1. Trần Tống: Thọ 72 tuổi, “Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ”, người giới thiệu Tố Hữu vào đảng vậy mà sau chỉ làm “Thứ trưởng Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp” Vậy Trần Tống này có phải đúng Trần Tống “Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ” không?

Để ý ta sẽ thấy Hồi ức của ông kể không thật!

Vì sao một cán bộ kỳ cựu Cs lại kể chuyện như không đúng sự thật như vậy?

Liệu một kỳ cựu Cộng sản thật thì có kể chuyện sai như vậy?

Ta sẽ nghiên cứu thêm về những hồi ký không thật này sau.

  1. Trần Đình Tri. Không phải kỳ cựu Cộng Sản: “Trần Đình Tri (thuộc nhóm xã hội)”
  2. Lâm Quang Thự. Không thấy chỗ nào nói ông là Đảng Viên Cộng Sản. Hồi ký của ông này đã được xuất bản sau khi ông đã chết 15 năm – Một “Tư liệu quí giá” mà lại xuất bản sau khi chết 15 năm? Ở đây có điều gì bí hiểm?

Đây là vấn đề ta sẽ nghiên cứu kỹ sau.

Kết luận: So sánh với Nhận xét 1 thì trong 16 người (trừ Lê Văn Hiến và Lê Thị Xuyến – nghiên cứu sau, Nguyễn Xuân Nhĩ nghiên cứu thêm sau) thì chỉ 3  người còn sống tương đối thọ (3/13) và 3 người đó đều không phải là kỳ cựu Cộng Sản! Trong khi đó những người chết trẻ thì có 3 người tương đối rõ thông tin thì đều là kỳ cựu CS!

Đây là một điều rất đáng để ta nghiên cứu các vấn đề tiếp theo.

Chi Tiết:

Nhận xét 1. Có 6 người chết trẻ. 6/16 một tỷ lệ khá lớn!

Nhưng nếu ta tạm để ra 4 người không có thông tin (Không biết họ chết già hay chết trẻ) thì tỷ lệ (Người chết trẻ/ người chết già) sẽ là 6/6 một tỷ lệ rất đáng để ta suy nghĩ!

Tại sao lại có 4 người không rõ sống chết ra sao? Họ chết trẻ hay già?

Danh sách Đại biểu Quốc hội Quảng Nam Đà Nẵng khóa I (1946-1960)

http://dbnd.danang.gov.vn/TabID/63/CID/41/ItemID/167/default.aspx

TT Họ và tên Năm sinh Quê quán Nơi ứng cử Phụ chú
1 Phạm Bằng Quảng Nam Từ trần tháng 9/1948
2 Phan Bôi

tức Hoàng Hữu Nam

Quảng Nam Quảng Nam Từ trần ngày 24/7/1947 tại Tuyên Quang
3 Phan Diêu 1912 Quế Lộc – Quế Sơn – Quản Nam Quảng Nam
4 Lê Dung 1907 Lệ Thủy – Quảng Bình Đà nẵng
5 Lê Văn Hiến 1904 Hòa Vang – Đà Nẵng Quảng Nam Từ trần ngày 15/11/1997 tại Hà Nội
6 Huỳnh Ngọc Huệ Quảng Nam Từ trần ngày 27/4/1949
7 Nguyễn Thế Kỷ 1910 Tam Kỳ – Quảng Nam Quảng Nam Từ trần tháng 02/1954 tại Bắc Giang
8 Nguyễn Xuân Nhĩ

tức Nguyễn Công Tâm

1912 Quảng Nam Quảng Nam Từ trần năm 1983
9 Võ Sạ 1910 Tam Kỳ – Quảng Nam Quảng Nam
10 Phan Thao 1915 Điện Bàn – Quảng Nam Quảng Nam Từ trần ngày 5/8/1960
11 Lâm Quang Thự 1905 Hòa Khương – Hòa Vang – Đà Nẵng Quảng Nam Từ trần năm 1990
12 Trần Tống 1916 Đại Lộc – Quảng Nam Quảng Nam Từ trần năm 1988
13 Đinh Tựu

tức Ka Tu

Quảng Nam Từ trần tháng 10/1954
14 Trần Đình Tri 1915 Quảng Nam Quảng Nam Từ trần năm 1994
15 Trần Viện 1915 Quế Sơn – Quảng Nam Quảng Nam Đã từ trần
16 Lê Thị Xuyến 1909 Đại Lộc – Quảng Nam Quảng Nam Từ trần ngày 5/5/1996

  1. Về nhóm 6 người chết trẻ

Nhận xét 2: 6 người chết trẻ họ là ai?

Trong đó 3/6 người thì đã rõ họ là những kỳ cựu cao cấp của Đảng CS Đông Dương. 3 Người còn lại thì không rõ chức vụ gì, có vẻ như họ bị lãng quên! (Đến năm 2009 ông Nguyên Thế kỷ mới được công nhận liệt Sĩ)

  1. Phạm Bằng. (Mất 1946) (Ngoài 30 tuổi) – là bí thư chi bộ từ 1941 (Cùng thời với Võ Toàn (tức Võ Chí Công).

“Mảnh đất thánh” của cách mạng Khu 5

Ngày đăng: 28/03/2011 08:19

http://www.dtdtqnam.gov.vn/tin-tuc.aspx?article=323-manh-dat-thanh-cua-cach-mang-khu-5

…Tháng 3.1940, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam được thành lập lại do đồng chí Võ Toàn (tức Võ Chí Công) làm Bí thư. Đầu năm 1941, Chi bộ Thạnh Bình được thành lập gồm có đồng chí Phạm Bằng (Bí thư), Huỳnh Quyên, Đào Trợ, Huỳnh Hóa. Sau đó Chi bộ Tài Đa cũng được thành lập vào tháng 12.1941 với các đồng chí Nguyễn Huyên (Bí thư), Phạm Vịnh và Võ Tuệ, lấy bí danh là Chi bộ Triều Tiên. … Hoạt động dần bị lộ, bọn mật thám ráo riết truy bắt và kết án Nguyễn Huyên 2 năm tù khổ sai, Phạm Vịnh, Võ Tuệ bị quản chế 2 năm tại địa phương.

Lúc này, Chi bộ Thạnh Bình được bàn giao lại cho đồng chí Phan Thị Nễ, phát triển thêm các tổ quần chúng ở Thạnh Bình và An Thượng.

…Ông Phạm Phú Sơn kể, trong một lần về thăm làng Thạnh Bình, đồng chí Võ Chí Công (nguyên Chủ tịch nước) đã ân cần hỏi thăm gia cảnh của ông, nhắc lại những kỷ niệm một thời hoạt động cách mạng với cha ông …

Sau cuộc tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thành công năm 1945, đồng chí Phạm Bằng được bầu làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Tiên Phước, Nguyễn Huyên làm Phó Chủ tịch. Năm 1946, đồng chí Phạm Bằng trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên. Cũng trong năm này ông qua đời do các vết thương bị Pháp hành hạ khi ở trong tù tái phát.

DIỄM LỆ (từ báo Quảng Nam online)

  1. Phan Bôi (Mất 1947 – thọ 36 tuổi), là kỳ cựu Cộng Sản từ 1930!

            http://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_B%C3%B4i

Phan Bôi tức Hoàng Hữu Nam (1911 -1947) nhà hoạt động cách mạng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam, Chánh Văn phòng Phủ Chủ tịch, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I.

(Phan bôi cũng chẳng phải Hoàng Hữu Nam – xem Quyển 23. Dùng xong là giết – 3 ngày giết 2 Thứ và Bộ trưởng bộ Công An. Bán mạng cho quỷ 5 Bộ trưởng bộ Y tế chết khi đang tại vị. (Dùng tay chân giết Cộng Sản và trí thức Việt sau đó thì quay lại giết họ))

  1. Huỳnh Ngọc Huệ (1914 – 1949) …đã từng giữ chức Bí thư Thành ủy Đà Nẵng , Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ

Huỳnh Ngọc Huệ http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BB%B3nh_Ng%E1%BB%8Dc_Hu%E1%BB%87

Huỳnh Ngọc Huệ (1914 – 1949), ông đã từng giữ chức Bí thư Thành ủy Đà Nẵng và là lãnh đạo Ủy ban khởi nghĩa thành phố (năm 1945), năm 1946, ông là Đại biểu quốc hội của tỉnh Quảng Nam khóa 1.[1]

http://www.danangcity.gov.vn/portal/page/portal/danang/chinhquyen/gioi_thieu/danh_nhan?p_pers_id=&p_folder_id=6904289&p_main_news_id=9195426&p_year_sel=

…Tháng 10-1945, ông được bầu làm Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ, phụ trách công vận, Chủ nhiệm kiêm thư ký tòa soạn báo Tay thợ. Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội của tỉnh Quảng Nam khóa I.

Ngày 27-5-1946, Hội nghị đại biểu công nhân toàn quốc họp ở Hà Nội quyết định thành lập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, ông được cử giữ chức Tổng thư ký, được cử vào Ban Chấp hành Liên hiệp Công đoàn thế giới.

Tại Đại hội Đảng bộ Liên khu V lần thứ I (3-1949), ông được bầu làm Phó bí thư Liên khu ủy.

Năm 1949, trên đường từ liên khu 5 (ở Quảng Ngãi) ra Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới, ông bị nhiễm trùng Tétanos (uốn ván) và mất ở Quảng Ngãi ngày 27-4-1949. …

Cổng TTĐT thành phố

  1. Nguyễn Thế Kỷ (1910 – 1954)

Công nhận liệt sĩ cho một đại biểu Quốc hội khóa I

Lao Động – 14/05/2009

http://www.baomoi.com/Cong-nhan-liet-si-cho-mot-dai-bieu-Quoc-hoi-khoa-I/121/2728354.epi

Sở LĐTBXH tỉnh ngày 13.5 cho biết: Chủ tịch Nước đã quyết định công nhận liệt sĩ cho ông Nguyễn Thế Kỷ (quê xã Tam Quang, huyện Núi Thành) – nguyên là Đại biểu Quốc hội khóa I, Khu ủy viên Khu V.

  1. Phan Thao “Sinh 1915 – Từ trần ngày 5/8/1960” thọ 45 tuổi!

            Con chú bác với Phan Bôi?

*. Lê Thị Xuyến, ông Phan Bôi và ông Phan Thao Cùng 1 làng!

Làng Bảo An trong ngày bầu cử Quốc hội khóa I

Thứ sáu, 13/05/2011

http://www.nhandan.com.vn/hangthang/chinh-tri/item/16451002-.html

Ðể tìm hiểu về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa I ở làng Bảo An trong ngày 6-1-1946, tôi đã đến gặp bác Phan Nam, năm nay hơn 90 tuổi, đã tham gia cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, bác Phan Nam là Xã đội trưởng, sau hòa bình lập lại là kỹ sư kinh tế. Bác Phan Nam kể tỉ mỉ, rõ ràng ngày đáng nhớ ấy.

Làng Bảo An nay thuộc xã Ðiện Quang anh hùng trên đất Gò Nổi, huyện Ðiện Bàn, nổi tiếng trù phú và lắm danh nhân. … Ðặc biệt nhất là có bài viết về cổ động cho các ứng cử viên, mà ai cũng thuộc lòng. Bài vè như sau:

Tổng tuyển cử đã đến rồi

…Trong kết quả này, có ba ứng cử viên của làng Bảo An là bà Lê Thị Xuyến, ông Phan Bôi và ông Phan Thao….

Phó Ðức Vượng

  1. Đinh Tựu. (Không thấy TL nào nói)
  1. Nhóm 4 người không rõ sống chết ra sao

Nhận xét 3: 4 người không rõ sống chết ra sao, họ là ai?

Chỉ thấy ghi: “Sau ngày 17/11/1931, chi bộ Đảng Trung Lực- Mỹ Thổ ra đời

…Sau đó anh Lê Viên, Lê Dung quê ở Thạch Bàn ở trường Quốc học Huế về ”, rất có thể họ là những người Cộng Sản kỳ cựu, vì sao thông tin của họ ít vậy?

4 người này chết sống thế nào? Chỉ biết một điều đến 1971 thì không thấy ghi họ là đại biểu Quốc hội nữa.

  1. Phan Diêu (Trên Google không thấy thông tin – Không biết chết sống thế nào)

            Ở trên chỉ ghi sinh 1912 còn hay chết thì không biết.

            Có 1 thông tin sau (Không biết có phải ông này hay không vì không lẽ bố hơn con có 4 tuổi à):

http://vi.wikipedia.org/wiki/Xu%C3%A2n_T%C3%A2m

Xuân Tâm sinh ngày 1 tháng 1 năm 1916 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Ông là con trai thứ hai[1] của ông Phan Diêu, một gia đình có truyền thống hiếu học.

…  ^ Cha mẹ Xuân Tâm có ba trai là Phan Lai, Phan Hạp, Phan Viên và một gái là Phan Thị Hồng Hạnh. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các con ăn học thành tài, cha mẹ ông đã phải bán ngôi nhà và một sào đất vườn ở Bảo An, đưa tất cả gia đình ra Huế, dựng một ngôi nhà tranh bên trường Quốc Học Huế, nấu cơm tháng cho học sinh. Theo: [1]. (http://phantocbaoan.wordpress.com/2008/10/16/th%C6%A1-xuan-tam-phan-h%E1%BA%A1p-214/)

  1. Lê Dung (sinh 1907 – Không rõ sống chết thế nào)

            Chỉ thấy:

            THANH NIÊN LỆ THUỶ TRONG CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG. (1931-1935) 3/26/2012

http://lethuy.edu.vn/?u=nws&su=d&cid=362&id=241591

* Hoạt động của các nhóm thanh niên yêu nước đầu tiên trong huyện (1931 -1932).

Sau ngày 17/11/1931, chi bộ Đảng Trung Lực- Mỹ Thổ ra đời

…Lúc bấy giờ ở Lệ Thuỷ có 2 nhóm thanh niên yêu nước ở 2 vùng khác nhau đó là Trung Lực- Mỹ Thổ và An Xá- Thạch Bàn. Hai nhóm này đang hoạt động bí mật độc lập. Tuy có cùng chí hướng hành động nhưng chưa thống nhất về tổ chức. Cả hai nhóm đều cố gắng bí mật tuyên truyền vận động để mở rộng địa bàn…

…Sau đó anh Lê Viên, Lê Dung quê ở Thạch Bàn ở trường Quốc học Huế về tạo nên sức mạnh tập hợp được 18 thanh niên. Nhóm thanh niên yêu nước An Xá – Thạch Bàn chủ yếu là học sinh có khả năng giao lưu tiếp xúc rộng nên gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên các vùng Lộc An- Xuân Lai, Tuy Lộc. Nhóm đã thông qua sách báo tiến bộ, in truyền đơn để tuyên truyền, giác ngộ được nhiều thanh niên trong vùng, vận động nông dân vào nông hội…

Theo Lịch sử Đoàn thanh niên Lệ Thủy

  1. Võ Sạ là ai? (Trên Google không thấy thông tin – Không biết chết sống thế nào)
  2. Trần Viện (Trên Google không thấy thông tin – Không biết chết sống thế nào)

4 người này chết sống thế nào? Chỉ biết một điều đến 1971 thì không thấy ghi họ là đại biểu Quốc hội nữa.

            …Danh sách Đại biểu Quốc hội quê ở Quảng Nam Đà Nẵng khóa IV (1971-1975)

TT Họ và tên Năm sinh Quê quán Nơi ứng cử Phụ chú
1 Trần Tống 1916 Đại Lộc – Quảng Nam Hải Hưng Từ trần năm 1988
2 Trần Đình Tri 1915 Quảng Nam Thanh Hóa Từ trần năm 1994
3 Lê Thị Xuyến 1909 Đại Lộc – Quảng Nam Hải Phòng Từ trần ngày 5/5/1996
4 Nguyễn Chương Hồng 1912 Quảng Nam Hà Nội Đã từ trần
5 Nguyễn Bá Phát 1921 Hòa Liên – Hòa Vang – Đà nẵng Quảng Ninh Đã từ trần năm 1993

  1. Nhóm 6 người sống tương đối thọ.

Nhận xét 4. Những người sống tương đối thọ. 2 người Lê Văn Hiến, Lê Thị Xuyến ta sẽ có nghiên cứu riêng sau, còn lại 4 người Nguyễn Xuân Nhĩ, Trần Tống, Lâm Quang Thự, Trần Đình Tri thì ta thấy:

  1. Nguyễn Xuân Nhĩ, Thọ 71 tuổi, và 1976 (64 tuổi) đã ung thư vòm họng – không nói được.

Liệu ông này có phải người có tên Nguyễn Công Tâm? Ở danh sách đại biểu Quốc hội khóa 1, chỉ có tên Nguyễn Xuân Nhĩ mà không có đuôi “Tức Nguyễn Công Tâm” Ở danh sách đại biểu Quốc hội khóa 6 thì chỉ thấy tên Nguyễn Công Tâm mà chẳng thấy (Tức Nguyễn Xuân Nhĩ). (ta sẽ nghiên cứu thêm về Nguyễn Xuân Nhĩ sau)

  1. Trần Tống: Thọ 72 tuổi, “Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ”, người giới thiệu Tố Hữu vào đảng vậy mà sau chỉ làm “Thứ trưởng Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp” Vậy Trần Tống này có phải đúng Trần Tống “Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ” không?

Để ý ta sẽ thấy Hồi ức của ông kể không thật!

Vì sao một cán bộ kỳ cựu Cs lại kể chuyện như không đúng sự thật như vậy?

Liệu một kỳ cựu Cộng sản thật thì có kể chuyện sai như vậy?

Ta sẽ nghiên cứu thêm về những hồi ký không thật này sau.

  1. Trần Đình Tri. Không phải kỳ cựu Cộng Sản: “Trần Đình Tri (thuộc nhóm xã hội)”
  2. Lâm Quang Thự. Không thấy chỗ nào nói ông là Đảng Viên Cộng Sản. Hồi ký của ông này đã được xuất bản sau khi ông đã chết 15 năm – Một “Tư liệu quí giá” mà lại xuất bản sau khi chết 15 năm? Ở đây có điều gì bí hiểm?

Đây là vấn đề ta sẽ nghiên cứu kỹ sau.

Kết luận: So sánh với Nhận xét 1 thì trong 16 người (trừ Lê Văn Hiến và Lê Thị Xuyến – nghiên cứu sau, Nguyễn Xuân Nhĩ nghiên cứu thêm sau) thì chỉ 3  người còn sống tương đối thọ (3/13) và 3 người đó đều không phải là kỳ cựu Cộng Sản!

Đây là một điều rất đáng để ta nghiên cứu các vấn đề tiếp theo.

***

  1. Lê Văn Hiến (Xem vợ chồng Lê Văn Hiến – quyển 7)
  2. Lê Thị Xuyến.

 

  1. Nguyễn Xuân Nhĩ tức Nguyễn Công Tâm

Một người mà khi là Đại biểu QH khóa 1 là Nguyễn Xuân Nhĩ, khóa 6 lại là Nguyễn Công Tâm?

Lý do thay tên?

Tài liệu nói:  Đại biểu QH khóa 1 là Nguyễn Xuân Nhĩ!

Danh sách đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I

http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_%C4%91%E1%BA%A1i_bi%E1%BB%83u_Qu%E1%BB%91c_h%E1%BB%99i_Vi%E1%BB%87t_Nam_kh%C3%B3a_I

…Quảng Nam

Nguyễn Xuân Nhĩ

DANH SÁCH
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA I

http://www.quochoi.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/phuluc/phuluc_1.html#_ftnref22

…QUẢNG NAM

…211. Nguyễn Xuân Nhĩ…

            Lời Bàn: Không có ghi: tức Nguyễn Công Tâm!

Tài liệu nói Đại biểu QH khóa 6 là Nguyễn Công Tâm!

DANH SÁCH CÁC VỊ LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC VÀ CÁC VỊ PHỤ TRÁCH
CÁC CƠ QUAN CAO CẤP CỦA NHÀ NƯỚC ĐƯỢC BẦU TẠI KỲ HỌP THỨ NHẤT,
QUỐC HỘI KHÓA VI, CÁC NGÀY 2 VÀ 3-7-1976 

http://www.na.gov.vn/Sach_QH/VKQHTTtapV/Phuluc/PHULUC_2.htm

…Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Ủy viên:

…Nguyễn Công Tâm…

Danh sách Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá VI (1976 – 1981)
17:56 | 13/04/2011

http://cn.cpv.org.vn/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340666&cn_id=454221

…Nguyễn Công Tâm…

DANH SÁCH ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH QUẢNG NGÃI

TỪ KHOÁ I ĐẾN KHOÁ XI

http://snn.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/Home/128431626_1604/

http://www.quangngai.gov.vn/userfiles/file/dudiachiquangngai/PHANII/CHUONG_XI/Phuluc_ChuongXI.htm#Phụ_lục_6

Khoá VI (1976-1981; tỉnh Nghĩa Bình)

…9.       Nguyễn Công Tâm

Không có: tức Nguyễn Xuân Nhĩ!

Lời bàn: Xem như trên ta thấy cái ông Nguyễn Xuân Nhĩ là đại biểu Quốc hội khóa 1 và cái ông Nguyễn Công Tâm là đại biểu Quốc hội khóa 6 chẳng có gì liên quan!

  1. 4. Trần Tống (1916 -1988) – Thọ 72 tuổi.

31.01.2012

http://vntimes.com.vn/hien-tai-dat-viet/trang-nguyen-tien-si/5264-tran-tong-thoi-nay.html

Trần Tống quê gốc xã Đại Minh, huyện Đại Lộc, sinh năm 1916 và mất năm 1988. Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, Thứ trưởng Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp.

Trần Tống quê gốc xã Đại Minh, huyện Đại Lộc, sinh năm 1916 và mất năm 1988. Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, Thứ trưởng Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp. 

Trong hồi ký “Nhớ lại một thời”, Tố Hữu kể lại: “Người giới thiệu tôi (vào Đảng- NV) là anh Trần Tống, bạn học hơn tôi ba tuổi, vào Đảng trước tôi một năm, sau này là Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc. Vào một đêm mưa lâm thâm, người ta hẹn tôi ra cầu nhà máy điện. Khi tôi đến, một người bước lại nói: “Hôm nay Đảng kết nạp đồng chí vào Đảng, đặt lợi ích và lý tưởng của Đảng lên trên lợi ích và tính mạng của mình. Trong mọi hoàn cảnh, đồng chí hãy chiến đấu kiên cường, dũng cảm với tinh thần của một chiến sĩ cộng sản”.

Vào cuối năm 1939, Trần Tống là một trong số nhiều đảng viên của Đảng ở Quảng Nam bị địch bắt. ….

Một sự kiện khác sáng ngời phẩm chất đảng viên là việc Trần Tống bí mật dịch sách trong tù để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Dịch thành công một cuốn sách có giá trị như một tài liệu cách mạng ngay tại nhà tù của bọn đế quốc trong điều kiện bị canh giữ nghiêm ngặt, tra tấn, lăng nhục của kẻ thù là điều ít thấy. Nhưng Trần Tống và các đồng chí của mình đã làm được việc đó. Đó là cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản Nga” bằng tiếng Pháp. Sách dày 400 trang, do Xứ ủy Trung Kỳ gửi cho Đảng bộ Quảng Nam. Sách được giấu tại một địa điểm bí mật ở Duy Xuyên. Các đảng viên trong nhà lao Hội An nhắn ra bên ngoài tìm cho được cuốn sách nói trên để gửi vào nhà tù. Nửa cuối năm 1940, những trang đầu của cuốn sách mới đến được với đồng chí Trần Tống. Mỗi ngày chỉ đưa lén được một tờ. Ngắt ra, mỗi người học thuộc lòng bằng tiếng Pháp một đoạn. Lộ thì sẽ vò giấy mà nuốt luôn vào bụng. Dịch nhanh, xong tờ nào thì ở ngoài lại gửi tiếp tờ khác.

Giả kêu lắm muỗi, để xin đưa đèn sáp vào, lấy ánh sáng để dịch. Giả đau lưng, cần đấm bóp, để lê cùm lại gần nhau, chồng chéo ba người lên nhau, vừa để dịch, vừa canh chừng lính gác. Các đảng viên Ngô Huy Diễn, Trương Nhi, Khưu Thúc Cự, Trương Kim Ấn cùng tham gia dịch, chép lại trên giấy mỏng cuốn thuốc lá bằng bút chì. Nhờ thông thạo tiếng Pháp nhất, Trần Tống là người dịch chủ yếu và hiệu đính lại. Mỗi người trong nhóm lại phải tự học thuộc lòng đoạn bằng tiếng Việt đã dịch. Trên cơ sở tài liệu dịch, Trần Tống biên soạn một số chuyên đề để đảng viên cùng học tập, như: chuyên đề về “Thời cơ cách mạng”, về “Công tác chi bộ đảng”, về “Phát triển đảng viên”… Lúc bấy giờ, ở nước ta, các chuyên đề đó đang là những vấn đề lý luận cách mạng nóng hổi.

Những chuyên đề ngắn gọn và đơn sơ ấy không chỉ được phổ biến trong nhà tù mà còn được phổ biến ở bên ngoài nhà tù, đóng góp chung vào nhiệm vụ cách mạng đang rất khẩn trương lúc này.

Nguồn Báo Quảng Nam

Lời Bàn: Để ý ta sẽ thấy: Tố Hữu kể chuyện kết nạp đảng không đúng thực tế, phét quá!

Trần Tống kể chuyện tù phét quá!

Trong tù mà: “Dịch thành công một cuốn sách có giá trị như một tài liệu cách mạng ngay tại nhà tù của bọn đế quốc trong điều kiện bị canh giữ nghiêm ngặt, tra tấn, lăng nhục của kẻ thù là điều ít thấy. Nhưng Trần Tống và các đồng chí của mình đã làm được việc đó…”

            “Các đảng viên trong nhà lao Hội An nhắn ra bên ngoài tìm cho được cuốn sách nói trên để gửi vào nhà tù. Nửa cuối năm 1940, những trang đầu của cuốn sách mới đến được với đồng chí Trần Tống. Mỗi ngày chỉ đưa lén được một tờ. Ngắt ra, mỗi người học thuộc lòng bằng tiếng Pháp một đoạn. Lộ thì sẽ vò giấy mà nuốt luôn vào bụng. ”

            Chuyện này cũng như chuyện một số “Cựu tù” kể chuyện đào hầm trốn tù: Chúng tôi đào từng ít một – đối diện với câu hỏi: Đất đổ đi đâu? Thì nói: Chúng tôi phân công mỗi người ném một ít ra ngoài!

            Ta thử hình dung: Với lượng đất là một cái Hầm để chui được một người chỉ cần qua một hàng rào thôi  thì đào mất bao lâu, và lượng đất đó ném ra ngoài thì Cai tù có phát hiện được không?

            Chưa nói, tù nhân không thể ra bờ rào mà đào được, mà phải đào từ trong nhà tù, qua sân, qua hàng rào!

            Những người kể chuyện không thật họ là ai?

  1. Trần Đình Tri

http://mobile.coviet.vn/detail.aspx?key=Tr%E1%BA%A7n%20%C4%90%C3%ACnh%20Tri&type=A0

Nhà hoạt động cách mạng Trần Đình Tri sinh năm Ất Mão (1915) tại thôn Đông Gia, làng Gia Cốc, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Đông Gia, xã Đại Minh, huyện Đại Lộctỉnh Quảng Nam).

Thời niên thiếu ông học tại Trường tiểu học Mỹ Hoà ở huyện Đại Lộc, Hội An sau ra học ở Huế và tham gia hoạt động cách mạng từ những năm 30. Từng là thành viên tổ chức Thanh niên phản đế ở Huế rồi thủ lãnh phong trào này ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Thường vụ tỉnh ủy Quảng Nam…

Năm 1945, ông là một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền thân Nhật tại Đà Nẵng, từng làm chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Đà Nẵng, rồi chủ tịch Ủy ban hành chánh Thành phố Đà Nẵng, chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh tỉnh Quảng Nam trong 9 năm kháng chiến chống Pháp.

Sau hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Năm 1957, ông được cử giữ chức Tổng thư ký Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong nhiều nhiệm kỳ.

Lúc đương chức ở Quảng Nam (1946-1954) bạn ông, thi sĩ Hồ Thấu có hai bài thơ gởi tặng ông:

Nhớ lại phiên chất vấn đầu tiên của Quốc hội Việt Nam

– 3:12 PM, 25/11/2010

Và cũng ngay tại phiên chất vấn đầu tiên này, người đứng đầu Chính phủ cũng phải trả lời các câu hỏi của đại biểu. Biên bản kỳ họp cho biết danh sách những người chất vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm: Trần Đình Tri (thuộc nhóm xã hội), Lê Huy Vân (trung lập), Khuất Duy Tiến (Mácxít), Nguyễn Đình Thi (Việt Minh), Nguyễn Sơn Hà (công thương), Trần Huy Liệu (Mácxít), Huỳnh Văn Tiểng (Dân chủ) Xuân Thuỷ (Việt Minh) và Nguyễn Văn Tạo (Mácxít)….

(*) Trong bài này chúng tôi sử dụng nhiều tài liệu của cố đại biểu Quốc hội Lâm Quang Thự.

Dương Trung Quốc

  1. Lâm Quang Thự (sinh năm 1905, mất 1990)

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A2m_Quang_Th%E1%BB%B1

Lâm Quang Thự (sinh năm 1905, mất 1990) là một nhà Quảng nam học, nhân sĩ trí thức, đại biểu quốc hội quê ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Ông tham gia cách mạng từ rất sớm, là chủ tịch huyện Hòa Vang sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 1[1], khóa đầu tiên năm 1946 và lưu nhiệm các khóa II và III.

Sau khi về hưu (năm 1970), ông viết sách địa chí Quảng Nam gồm 2 cuốn “Quảng Nam–Địa lý-Lịch sử-Nhân vật”“Đất Quảng trong thơ ca”, đồng thời là đồng tác giả cuốn “Danh nhân đất Quảng”.

Ông mất năm 1990 tại Hà Nội.

TIỂU SỬ NHÀ VĂN LÂM QUANG THỰ

16 Tháng Tám 2013 – Phong

Lượt xem: 279     Phản hồi: 0

http://hoavang.danang.gov.vn/Default.aspx?tabid=b27d19de-c42e-404f-bb66-ff7e9bc4b88b&mid=3f3644dd-d8f7-4d75-8b03-0056c3e3e0fa&itemid=2763&page=Detail

Nhà văn Lâm Quang Thự, nhà hoạt động, sinh ngày 15-9-1905 tại làng Cẩm Toại, tổng An Phước, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Hòa Phong, huyện Hoà Vangthành phố Đà Nẵng).

Xuất thân trong gia đình Nho học, thuở nhỏ học ở Huế. Năm 1925, ông đậu Cao đẳng Tiểu học, ngành sư phạm (Quốc học, Huế) rồi được bổ làm giáo học tại trường Tiểu học Pháp Việt Nha Trang. Tại đây ông bắt đầu giác ngộ cách mạng, tinh thần yêu nước, tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh, tổ chức các buổi học ban đêm cho thợ thuyền, dân nghèo.

Năm 1928, ông bị cách chức giáo học nên ông vào Sài Gòn dạy trường tư, gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, sau chuyển sang Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1931, ông bị Pháp bắt và giải về Quảng Nam quản thúc một thời gian. Năm 1932, ông làm thư kí công nhật ở sở Hoả xa Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, đến năm 1937 được đổi về Đà Nẵng.

Năm 1939, ông tham gia các phong trào công khai như: vận động bầu cử Đặng Thai Mai vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, tổ chức và làm hội trưởng Hội Ái hữu Hoả xa…

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (3-1945) ông tham gia đỡ đầu phong trào thanh niên Quảng Nam – Đà Nẵng, có chân trong Hội Truyền bá Quốc ngữ tại hai hạt Đà Nẵng – Hoà Vang.

Tháng 8-1945, ông là chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng huyện Hoà Vang.

Trong cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, ông được bầu đại biểu Quốc hội. Năm 1946, ông được cử làm Chánh văn phòng Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Nam.

Đầu năm 1947, ông làm Trưởng ban xây dựng các chiến khu của tỉnh ở Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Kỳ. Giữa năm 1947, ông trở lại cơ quan tỉnh và sau đó được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chánh miền Nam Trung bộ đến ngày kí hiệp định Genève năm 1954.

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Bộ Nội vụ, phủ Thủ tướng, tham gia nghiên cứu luật tuyển cử để chuẩn bị hiệp thương tổng tuyển cử theo qui định của hiệp định Genève.

Cuối năm 1956, ông được điều sang Văn phòng Ủy ban thường vụ Quốc hội làm công tác nghiên cứu, giữ chức quyền Vụ trưởng Vụ dân chính, đến đầu năm 1970 ông nghỉ hưu.

Ngoài những hoạt động cách mạng, kháng chiến, ông còn nghiên cứu về lịch sử và pháp luật, ông viết sách, đọc nhiều tham luận tại các kì họp Quốc hội.

Ông được nhà nước Việt Nam công nhận là cán bộ có hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng 8-1945 và được hưởng chế độ ưu đãi.

Ngày 16-6-1900, ông mất tại Bệnh viện hữu nghị Việt Xô, hưởng thọ 85 tuổi, an táng tại nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội).

Kỷ niệm 60 năm ngày tổng tuyển cử đầu tiên 6-1-1946:

Kỳ 1: Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân

http://www.na.gov.vn/60namqhvn/www.na.gov.vn/60namqhvn/cacbaiviet/Cuoc%20tong%20tuyen%20cu%20cua%20long%20dan.html

Một ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khai sinh, Bác Hồ đã nghĩ đến việc lập một thiết chế dân chủ, cái mà trước đó trong lịch sử dân tộc ta chưa hề có, dân ta chưa hề được hưởng…

Và câu chuyện “Tổng tuyển cử đầu tiên” (6-1-1946) đã được ông Lâm Quang Thự (đại biểu Quốc hội khóa I) ghi chép khá đầy đủ. Tư liệu quí giá này vừa được công bố trong cuốn sách Lâm Quang Thự – người con đất Quảng do Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng phối hợp Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản.

Lâm Quang Thự: Người con đất Quảng http://elib.duytan.edu.vn/ChitietSach/?id=2830&typeid=1863&loai=2&tb=s

Nhóm tác giả: Lê Duy Anh, Nguyễn Kim Nhị, Lưu Anh Rô,…
Nhà xuất bản: Đà Nẵng; Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng – Đà Nẵng
Năm xuất bản: 2005
Ngày cập nhật: 06/02/2009

Tóm tắt:

Trình bày: Chân dung con người Lâm Quang Thự, Trang Quốc hội, Bút hoài thương, Chung gánh nợ trần về cuộc đời và sự nghiệp Lâm Quang Thự người con đất Quảng.

LB: Vì sao Hồi ký lại được xuất bản sau khi Tác giả của nó đã chết 15 năm, có còn trung thực với những gì ông ghi chép không? Đây là một dấu hiệu ta sẽ nghiên cứu thêm ở phần sau.

Phần B. Tài Liệu đối chứng:

  1. Kỳ cựu Quảng Nam chết sớm:
  2. Thầy giáo Huỳnh

Thứ năm, 17 Tháng 11 201

http://www.vhtttamky.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1117:thy-giao-hunh&catid=98:bo-tn-bo-tang&Itemid=291

Đã hơn nửa thế kỷ đi qua nhưng cái tên Thầy giáo Huỳnh rất đỗi thân thương và đầy kính phục vẫn còn in đậm trong tâm khảm của các thế hệ học trò cùng cán bộ, nhân dân thành phố Tam Kỳ nói riêng, tỉnh Quảng Nam nói chung.

Thầy giáo Huỳnh, tên thật là Trần Hoàng, sinh năm 1913 trong một gia đình tiểu thương nghèo ở làng Quảng Phú, Tổng An Hoà, phủ Tam Kỳ nay là thôn Tân Phú (xã Tam Phú, tp Tam Kỳ). …

Là người được sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, cùng với sự giúp đỡ của các nhà cách mạng lỗi lạc như Võ Chí Công, Khưu Thúc Cự, Lê Bá, Võ Sạ, Nguyễn Thế Kỳ, Nguyễn Hộ, Lê Thuyết, Nguyễn Chánh, Hồ Ngọc Thành…, 24 tuổi thầy trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, được giao giữ nhiệm vụ Uỷ viên uỷ ban tổ chức Công hội đỏ. Tháng 5/1938 thầy giáo Huỳnh và đồng chí Hồ Ngọc Thành ở làng Bàn Thạch (Hoà Hương, Tam Kỳ) … Sau đó, thầy giáo Huỳnh cùng đồng chí Khưu Thúc Cự tổ chức lễ để tang cho ông Phan Thanh – Nghị viện Trung kỳ bị mật thám Pháp bắn chết, hàng trăm Cán bộ, đảng viên, giáo chức và nhân dân từ các nơi đến dự. …

Tháng 8/1945 thầy giáo Huỳnh được giao nhiệm vụ phụ trách công tác tự vệ ở Tổng Hồng Phong…Sau khi thực hiện thành công cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền thầy giáo Huỳnh được giao giữ nhiệm vụ Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến lâm thời Tổng Hồng Phong. Gần 10 năm, kinh qua nhiều lĩnh vực công tác và các chức danh khác nhau như Bí thư Chi bộ Phan Thanh Hồ, Thường vụ Huyện uỷ, Chủ nhiệm Việt Minh, Phó Bí thư Huyện uỷ Tam Kỳ, … Tháng 4/1954 từ Sài Gòn về Quảng Nam công tác, đến địa phận thôn Thanh Quýt (xã Điện Thắng, Điện Bàn) thì bị địch bắt đưa xuống nhà giam Hội An, đánh đập tra tấn dã man nhưng không khai thác được gì, bọn chúng chuyển thầy giáo Huỳnh ra trại giam kho đạn Chợ Cồn (Đà Nẵng). Bằng nhiều thủ đoạn dã man nhưng thầy giáo Huỳnh vẫn một lòng trung thành với Đảng, với nhân dân. Tháng 7/1957 bọn chúng đày thầy ra nhà tù Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), bị bọn chúng giam cầm ở nhiều trại giam khác nhau và bị đánh đập, tra tấn đủ mọi cực hình, thầy đã anh dũng hy sinh vào những ngày cuối tháng 2/1960 tại chuồng cọp kiểu Pháp.

…Đặc biệt được đồng chí Võ Chí Công – nguyên Chủ tịch nước, Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ghi nhận bằng những dòng chữ đầy xúc động “Hoạt động của đồng chí Trần Hoàng trước Cách mạng tháng Tám 1945 đã được ghi công. Sau Hiệp định Giơnevơ 1954 đồng chí ở lại hoạt động tại khu V đến năm 1957 bị địch bắt đày ra Côn Đảo và hy sinh năm 1960…”./.

Tác giả bài viết: Nguyễn Điện Ngọc

tamkyrt.vn

            Lời Bàn: Liệu có đúng là “năm 1957 bị địch bắt đày ra Côn Đảo và hy sinh năm 1960…”? Hay là ghi theo lời ghi của Võ Chí Công? Và Võ Chí Công là ai?

            Ta hãy xem thêm tại phần nói về Võ Chí Công.

  1. LIỆT SỸ: Hồ Ngọc Thành

http://trian.go.vn/liet-sy-126845/ho-ngoc-thanh

Họ và tên:Hồ Ngọc Thành

Bí danh:

Ngày sinh:1914

Quê quán:Hoà Hương,Tam Kỳ, Quảng Nam

Nơi an nghỉ hiện nay:
Nghĩa trang liệt sỹ Thành phố Tam Kỳ – tỉnh Quảng Nam

            LB: “LIỆT SỸ: Hồ Ngọc Thành” chết năm bao nhiêu? Chết như thế nào? Sao sử chỉ ghi có vậy?

            Bài 2:  Bom Trúng Hầm là một hiện tượng Hy Hữu – cả 2 “Chủ nhiệm Mặt trận Liên Việt tỉnh Quảng Nam” đều chết sớm lại là một hiện tượng Phổ Biến.

  1. Hồ Thấu, nhà trí thức cách mạng

Ngày đăng: 08/11/2013

http://www.tuyengiaoqna.vn/Default.aspx?tabid=72&NewsViews=624

Nói đến Hồ Thấu chúng ta nghĩ ngay đến một trí thức cách mạng, một nhà thơ tài hoa. Nhà thơ Huy Cận từng viết: “Tưởng niệm Hồ Thấu, chúng ta tưởng niệm một nhà thơ tài hoa, xuất sắc bạc mệnh đang đà nảy nở”.

Hồ Thấu có bút danh Huyền Thông, sinh năm 1918, tại thôn Phú Bông, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, trong một gia đình nhà nho có truyền thống hiếu học và yêu nước. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi tại phủ đường Duy Xuyên, Hồ Thấu được nhân dân tín nhiệm cử vào Ủy ban cách mạng lâm thời phủ Duy Xuyên, được phân công Ủy trưởng phụ trách công tác văn hóa, tuyên truyền. Với lòng nhiệt tình cách mạng và sự năng động của người cán bộ trí thức trẻ, trong một thời gian ngắn, đồng chí đã vận động tổ chức được nhiều lớp học truyền bá quốc ngữ xóa nạn mù chữ, xây dựng phong trào văn hóa văn nghệ đều khắp ở các thôn xã của huyện Duy Xuyên. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Hồ Thấu được Tỉnh ủy Quảng Nam điều động về làm Chủ nhiệm Mặt trận Liên Việt tỉnh Quảng Nam, đặc trách công tác trí thức, công tác văn hóa, văn nghệ.

            Ngoài hoạt động chính trị, Hồ Thấu vừa dạy học vừa làm thơ, viết văn, sáng tác kịch bản. Tài năng của ông được bộc lộ khá sớm, từ lúc còn là học sinh trung học ở Quy Nhơn và Huế. Thời còn tuổi học sinh trường Quốc học Huế, nhà thơ Huy Cận đã viết về Hồ Thấu vào giai đoạn này như sau: “Anh Thấu và tôi đều học trường Quốc học Huế, tôi lớp trước, anh lớp sau. Lúc ở trường tôi đã nghe nhiều bạn nhắc đến thơ anh, nhưng thơ anh ít đăng báo nên chưa được phổ biến rộng rãi”. Dù vậy, mãi về sau này, suốt những tháng năm hoạt động cách mạng cho đến ngày qua đời (1949), Hồ Thấu sáng tác cũng không nhiều, hầu như chỉ là những bài thơ viết ra để chuyền tay cho bạn bè và đồng đội đọc. Thế nhưng cái đẹp của một trái tim thi sĩ và khát vọng chân thành đã chiến thắng được thời gian.

            Những năm dạy học tại trường Tân Tân, Hồ Thấu sáng tác nhiều bài thơ vừa làm tài liệu giảng dạy, vừa tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia cách mạng: “Bạn có nghe muôn trùng sóng dậy/Bạn có thấy khắp nhân gian máu chảy/ Đời lên rào rạt triều mênh mông/ Lửa hạn muôn trung chảy núi sông…”. Ông kêu gọi các tầng lớp trung gian, trí thức đứng lên nhập vào cao trào cách mạng: “Kẻ lo chi định mệnh/ Kẻ ôm chi kinh thư/ Kẻ chờ chi ngày tạnh/ Kẻ mở chi trường tư/ Hãy đứng dậy lên đường/ Nhập vào lòng biển cả/ Đời không còn xa lạ/ Đời chỉ là mến thương” (Lên đàng, 1944).

            Chứng kiến cuộc sống của người dân mất nước, luôn luôn khao khát với tự do, độc lập, Hồ Thấu đã sớm hóa thân nhập cuộc với phong trào vận động cách mạng ở ngay trên quê hương mình: “Thấy đời còn quặn khổ đau/ Mắt trong sầu héo trước màu đục nhơ/ Lên đường như đứa trẻ thơ/ Kể gì nguy hiểm bụi bờ chông gai”. Khi được tiếp xúc cơ sở cách mạng và được giao nhiệm vụ truyền bá rộng rãi những tài liệu tuyên truyền vận động cách mạng của Việt Minh, đồng chí đã làm việc không kể ngày hay đêm, biến cả phòng ngủ của mình thành cơ sở in nhân sao tài liệu, rồi đem đi phân phát nhiều nơi, cổ vũ phong trào vận động cách mạng trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong học sinh, sinh viên, trí thức có tư tưởng yêu nước tiến bộ. Trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Quảng Nam, ở trường học, các cơ quan… đâu đâu mọi người cũng thuộc lòng thơ Hồ Thấu. Thơ ông mang khí phách cách mạng, mang tính kêu gọi nhưng vẫn toát lên một tâm hồn lãng mạn của người thanh niên cộng sản.

            Giữa lúc tài năng đang được phát huy và góp phần vào những thắng lợi bước đầu của quân và dân Quảng Nam sau 2 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thì Hồ Thấu lâm bệnh – căn bệnh lao phổi, lúc bấy giờ chưa có thuốc đặc trị. Trên giường bệnh đồng chí vẫn tiếp tục làm thơ nói lên nỗi nhớ quê hương, bạn bè da diết: “Nắng reo ta nhớ đường xa/ Nhớ đàn bướm trắng, nhớ hoa ven rừng” (Nhớ đường, 1947). Và nhớ những đoàn cán bộ đi công tác: “Ai đi sứ mệnh nặng vai/ Lòng vui nhiệm vụ chẳng nài gian lao/ Nằm đây ta nhớ thao thao/ Nhớ sông, nhớ núi, dạt dào bốn phương/ Bao giờ gió mới gặp hương/ Trời xanh chân rộng, dặm đường thênh thênh…”.

            Ở tuổi 30, trước mắt mình cái chết đang cận kề, song đồng chí vẫn lạc quan yêu đời, tin tưởng vào tương lai tương sáng của dân tộc. Chính những ngày giằng xé đau đớn với bệnh tật trong một ngôi miếu cũ giữa bãi cát nắng cháy Tam Thăng, con người thi sĩ của Hồ Thấu đã tỏa sáng hơn bất cứ bao giờ hết. Trong một thế giới mà sự cô đơn cùng với căn bệnh nan y vây bủa, Hồ Thấu âm thầm chống chọi với sự tuyệt vọng. Vào những ngày tháng đó, khoảnh khắc đó, nguồn cảm của thi sĩ thể hiện rõ bước đi định mệnh của mình đến bờ bến vô cùng: “Chiều lên theo nẻo đẹp thơ/ Ra đi chỉ tiếc cuộc cờ thiếu tay”. Đứng bên bờ tử sinh mà câu thơ đẹp một cách kiêu sa. Và hiệu quả là sức sống của thơ Hồ Thấu đã gieo vào lòng công chúng những cảm xúc mạnh mẽ, khó quên. Đây có thể nói là bể chứa của thời gian, qua những thanh lọc khắc nghiệt, cũng của thời gian. Cái đẹp như một niềm tin vững chãi nâng con người đứng dậy: “Một lần tin chắc tương lai/ Trời xanh, thơ đẹp, không ai, riêng mình”.

            Vào những ngày cuối tháng 12.1949, Hồ Thấu ra đi. Trước đó, ông đã kịp sáng tác bài “Gửi Kỳ”. Đây là những lời trăng trối, di chúc bằng thơ của người biết trước giờ phút ra đi để trở về với đất: Chừ đây ôn lại đời ta/ Một đời trong trắng như hoa giữa đồng/ Ái ân chưa bận tấc lòng/ Bạc tiền chưa bẩn túi không bao giờ/ Trong đời chỉ đẹp và thơ/ Yêu đời dù đến ngẩn ngơ cũng đành/ …Mắt ta khô lệ từ lâu/ Mà lòng vẫn thấy tủi sầu nhân gian/ Chết đi như khách qua đường/ Ôm đầy hoa lá giàu sang xuống mồ/ Đời lên theo nẻo đẹp thơ/ Ra đi chỉ tiếc cuộc cờ thiếu tay/ Lên đường vững bước mà say/ Ta vừa thức giấc sáng đầy bình minh/ …Thấy đời còn quá khổ đau/ Mắt xanh sầu nhớ những màu đục nhơ/ Lên đường như đứa trẻ thơ/ Kể gì nguy hiểm bụi bờ chông gai/ Một lòng tin chắc tương lai/ Trời xanh, thơ đẹp, không ai, riêng mình.

                        Sau khi đồng chí qua đời, để tưởng nhớ công lao của nhà trí thức cách mạng, nhà thơ tài hoa, bạc mệnh, Tỉnh ủy đã lấy tên đồng chí đặt cho tên trường Đảng của tỉnh – trường Đảng Hồ Thấu.

Phòng Lịch sử Đảng

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam

(Theo: Hồ Thấu – Nhà trí thức cách mạng, Nxb Đà Nẵng, 1999 và Quảng Nam – Những tấm gương cộng sản, tập 3)

BÙI  BIÊN

(1891 – 1952)

http://kyniem.easyvn.com/_easyweb/idt/tocbui/nhanvat/buibien.php?username=tocbui&file=nhanvat/buibien.php&pass=0

Ông BÙI BIÊN tục danh, Ô. CỬU THỨ là thứ nam của Ông Bá hộ Bùi Túc và Bà Phan Thị Trang.

Ông sinh năm T. Mão, 1891 tại Vĩnh Trinh. Ông thông minh, linh hoạt. Ông học thông chữ Nho, chữ Nôm và biết chữ Quốc ngữ.

Năm 20 tuổi – 1911 – Ông kết duyên cùng Bà PHAN THỊ YẾN, trưởng nữ của Ông Bà Phan Phiên, tục gọi Ông Bà Lễ Tầm ở Bảo An, Điện Bàn.

Năm sau – năm N. Tý, 1912 – Ông Bà sinh hạ cậu con trai đầu lòng đặt tên là Bùi Thứ – sau đổi thành Bùi Kiến Tín – và cũng từ đấy, sau khi được thưởng chức Cửu phẩm, Ông được gọi là Ông Cửu Thứ.

…Ông Bà đã lần lượt sinh hạ thêm 4 trai, 4 gái và 2 ấu vong.

Tháng 06 năm 1932, trưởng nam của Ông Bà, Ông Bùi Kiến Tín, thi đỗ Tú tài toàn phần, vinh qui bái tổ rất linh đình. Tháng 02 năm 1935, Ông Tín được học bổng du học Y khoa Bác sĩ ở Pháp. Ông Bà làm ăn giàu có, con cái đỗ đạt cao, nên mọi người đều khen ngợi.

 … Ông xin Nhạc mẫu cho cưới cô em vợ nhũ danh PHAN THỊ THƠ  làm kế thất vào năm 1935.

Bà chánh thất suy yếu dần và mất ngày 19 tháng 11 năm B. Tý (1937), thọ 45 tuổi.

Bà kế thất đã lần lượt sinh hạ được 3 trai, 2 gái và 3 ấu vong (2).

…Cuối năm 1945, Ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Vận động kháng chiến quận Quế Sơn và về sau Ông được cử làm Chủ tịch Hội Liên Việt tỉnh Quảng Nam.

Trong thời kỳ chiến tranh, sau mỗi lần phi cơ oanh tạc gây tổn thất cho đồng bào, Ông đều đứng ra tổ chức cứu trợ, giúp đỡ tích cực các gia đình lâm nạn. Nhưng trớ trêu thay, rạng ngày 19-09-N. Thìn (1952), một tai nạn thảm khốc đã xảy đến cho gia đình Ông: Phi cơ Pháp bay đến thả bom, 3 quả trúng ngay hầm trú ẩn của nhà Ông, gây tử vong cho 18 người, trong đó có vơ chồng Ông và 8 người con cháu trong nhà. Ông thọ 62 tuổi, Bà thọ 41 tuổi, đều cùng các con cháu tử nạn an táng tại xứ Cửa Làng, Trung Phước.

Việc gia đình Ông ngộ nạn đã làm cho bà con và đồng bào địa phương thương tiếc và xúc cảm vô cùng.

LB: Cũng có thể là trúng bom thật!

Nhưng cũng có thể là Thủ Tiêu!

Chủ tịch Hội Liên Việt tỉnh Quảng Nam”  ông rất có thể là một Kỳ cựu mà ai đó muốn thủ tiêu!

Việc bom trúng hầm là một hiện tượng Hy Hữu!

Cả ông và Hồ Thấu đều là “Chủ tịch Hội Liên Việt tỉnh Quảng Nam” lại đều chết sớm, cách nhau có 3 năm là một hiện tượng Phổ Biến!

  1. Người tương đối thọ – thì kể láo!

NHÀ ĐÀY LAO BẢO-QUẢNG TRỊ VÀ NHỮNG NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA XỨ QUẢNG – HUỲNH VĂN HOA

http://vovanhoaqt.vnweblogs.com/print/10775/341800

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), nhiều đảng viên của Đảng bị giam cầm tại Lao Bảo. Quảng Trị có Trần Hữu Dực, Lê Chưởng, Hoàng Hữu Trọng, Lê Thế Tiết, Hoàng Anh,…Quảng Nam có Phan Văn Định, Nguyễn Sơn Trà, Trần Kim Bảng, Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Thúy, Nguyễn Xuân Nhĩ, Võ Sạ,…

Trần Kim Bảng (1911-1985), quê huyện Hòa Vang, là nhà báo nổi tiếng. Ông bị giam tại Lao Bảo trong những năm 30 của thế kỷ XX. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ông tham gia hoạt động nội thành. Năm 1968, ông thoát ly ra chiến khu, tham gia Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

          Phan Văn Định (1905-1985), Bí thư đầu tiên của Tỉnh ủy Quảng Nam. Sau cuộc khủng bố trắng năm 1930, thực dân Pháp kết án 8 năm và đày đi Lao Bảo.

            1 Trần Kim Bảng …Kể láo!

  1. Đúng 12 giờ trưa 4-8-1930: “Thưa đồng bào! Tôi là chiến sĩ cách mạng, là cộng sản. Đồng bào hãy ủng hộ Đảng Cộng sản…”
  2. Từ 1930 Nhân Dân đã biết gọi… Cộng Sản? “Từ khắp các ngả đường, nhân dân hối hả gọi nhau: “Cộng sản diễn thuyết!. Cộng sản diễn thuyết!.
  3. “Bất ngờ, tên Hương Một – Lý hương xã Minh Hương đứng lẫn trong nhân dân nhảy bổ lên để bắt ông nhưng bị lực lượng tự vệ đã bố trí quật ngã
  4. kể về người không xác định: “…Diễn thuyết xong, ông rút vào nhà một cơ sở gần đó”

Người phất cờ Đảng ở Hội An

Thứ ba – 23/10/2012

http://hoianheritage.net/vi/di-san-van-hoa/Di-tich-lich-su/Nguoi-phat-co-Dang-o-Hoi-An-101/

…Năm 1929, được đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ (sau này là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, Thường vụ Khu ủy, Trưởng ban Tổ chức Khu ủy 5) giới thiệu, ông tích cực tham gia hoạt động trong Hội Học sinh đỏ ở trường Quốc học Huế. Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được lệnh thoát ly gia đình.

Sau một thời gian tham gia hoạt động xây dựng Chi bộ Đảng ở Đà Nẵng, ông được đưa vào Hội An, bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (do đồng chí Phan Văn Định làm Bí thư) và được phân công phụ trách tờ báo Lưỡi Cày – cơ quan ngôn luận của Tỉnh ủy Quảng Nam… Ngày 4-8-1930, để chia lửa với nhân dân Nghệ Tĩnh, Tỉnh ủy Quảng Nam quyết định tổ chức buổi diễn thuyết tại Hội An (địa điểm gần chùa Quảng Triệu) và Trần Kim Bảng vinh dự được chọn là diễn giả…

Đúng 12 giờ trưa 4-8-1930, khi bọn cảnh sát thay phiên gác, ông cải trang thành nông dân, đầu đội nón lá, tay cầm roi tiến đến địa điểm đã chọn. Lấy từ trong ngực áo lá cờ đỏ búa liềm tra vào cán roi, ông nhảy lên ghế đá và bắt đầu buổi diễn thuyết: “Thưa đồng bào! Tôi là chiến sĩ cách mạng, là cộng sản. Đồng bào hãy ủng hộ Đảng Cộng sản, đứng lên làm cách mạng, noi gương công – nông Nghệ Tĩnh, đánh đổ đế quốc Pháp và Nam triều phong kiến, đem lại cơm áo ấm no cho mọi người. Đông Dương độc lập hoàn toàn muôn năm!”… Từ khắp các ngả đường, nhân dân hối hả gọi nhau: “Cộng sản diễn thuyết!. Cộng sản diễn thuyết!. Tới coi cộng sản diễn thuyết bà con ơi!”. Quần chúng kéo đến mỗi lúc một đông. Bất ngờ, tên Hương Một – Lý hương xã Minh Hương đứng lẫn trong nhân dân nhảy bổ lên để bắt ông nhưng bị lực lượng tự vệ đã bố trí quật ngã… Diễn thuyết xong, ông rút vào nhà một cơ sở gần đó, thay quần trắng, áo dài lương, khăn đóng, mang kính trắng ngồi đọc báo như chưa có chuyện gì xảy ra. Tin về cuộc diễn thuyết chẳng mấy chốc lan đi khắp nơi. Ở ngoài phố, các đồng chí đảng viên nhân đó tuyên truyền cho quần chúng: Cộng sản diễn thuyết nói hay lắm! Ngược lại, tên Công sứ Hội An cay cú lồng lộn, lập tức ra thông cáo: “Cộng sản xuất hiện giữa ban ngày, dân chúng không giúp chính phủ bắt cộng sản. Từ nay về sau, ai còn làm ngơ sẽ bị trừng trị”…

Tháng 10-1930, ông bị thực dân Pháp bắt và đày đi Lao Bảo. Năm 1935, ông ra tù và tiếp tục hoạt động tại Huế với bí danh Hải Vân. Ông cùng Hải Triều (tức Nguyễn Khoa Văn), Hải Khánh (tức Trần Huy Liệu) và Hải Trần (tức Nguyễn Văn Khai) lập nên nhóm Tư Hải. … Năm 1945 ra tù, ông vào miền Nam tham gia hoạt động trong các tổ chức yêu nước ở nội thành Sài Gòn, Mỹ Tho,… dù bị chính quyền thực dân quản lý gắt gao. Từ năm 1956, ông dạy môn lịch sử tại một số trường tư thục ở Sài Gòn và tham gia viết báo, viết sách. ….

Tháng 10-1969, trong một lần địch đánh bom vào cơ quan Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, ông bị thương và được đưa ra Bắc chữa trị. Sau ngày giải phóng, ông được đưa vào TP. Hồ Chí Minh, nhưng do di chứng của căn bệnh phổi, ông nghỉ công tác và chỉ chuyên tâm viết sách cho đến lúc từ trần – vào ngày 6-4-1985.

Tác giả bài viết: LÊ MINH CHIẾN

Nguồn tin: http://baoquangnam.com.vn

  1. “Phan Văn Định – Bí thư đầu tiên của Tỉnh ủy Quảng Nam! ” Kể …Láo!
  1. “…đồng chí Lê Duẩn đã tiếp lửa cho nhóm Tài Định hoạt động hăng say…”
  2. Truyền đơn, cờ búa liềm và cả tờ báo “Lưỡi cày” của Cách mạng, đã được bí mật in trong nhà xe tòa sứ…
  3. Công Sứ Labócđơ Kiểm tra Cộng sản một mình: “Chỉ vài tháng ở Tòa sứ, Labócđơ đã để mắt đến những người Việt làm trong tòa sứ. Một hôm hắn bất ngờ xộc vào gara ôtô để kiểm tra”
  4. Công Sứ mắt toét: “Lúc này, tài liệu tuyên truyền và báo “Lưỡi cày” in xong chưa kịp phát tán hết đang để đầy một hòm
  5. Công Sứ … Cho Quạ ăn: “Đang lúc nguy khẩn, vừa may có một con quạ của một nhân viên tòa sứ nuôi bay vào. Con quạ biết nói, nó há mỏ kêu “Qua đói”, “Qua đói”. Tài Định lấy miếng bánh mỳ bẻ cho nó ăn. Viên công sứ thích thú giành lấy miếng bánh, tự tay cho quạ ăn và chơi với quạ. Tài Định nhanh tay đánh tráo cái hòm tài liệu.”
  6. Công Sứ bắt Cộng Sản… Một mình: “Đi được vài cây số, hắn bảo dừng xe lại và xua tay ra hiệu bảo anh ngồi sang phía bên cạnh. …”

            “Từ trước tới giờ, Bí thư Tỉnh ủy lái xe cho Công sứ. Bây giờ Công sứ lái xe cho Bí thư Tỉnh ủy!

            “- Vào đồn Khố xanh! – Viên Công sứ cướp lời, hằn học – Tôi buộc phải giam giữ anh!

Tài Định hiểu, cuộc đấu tranh gian khổ đã bắt đầu…”

  1. Xuất bản sau khi chết.

Theo ghi chú: “(Theo tư liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Quảng Nam – Đà Nẵng và gia đình ông Phan Văn Định.)” thì có nghĩa là tài liệu này đã không được xuất bản trước 1985, cũng có thể chẳng phải do Phan Văn Định viết, hoặc có viết thì cũng được sửa chữa nhiều.

Bí thư Tỉnh uỷ và viên công sứ

17/02/2009

http://vnca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=53547

Đúng hẹn, ông Định đến, viên quan cai trị người Pháp lật tay xem đồng hồ, nói: – “Anh đến sớm vài giây. Thế là tốt”. Ngồi chưa yên vị, viên công sứ nói: “Đà Nẵng”. Tài Định cho xe nổ máy. Nhìn lướt gương hậu, anh thấy viên công sứ  miết tay lên kính xe, có lẽ có ít bụi bám. Hắn nhíu mày:
– Làm cho tôi anh không được ở bẩn, nghe không!

Tài Định buông tay lái, quay lại rút khăn mùi xoa lau nhanh kính xe.

Ra khỏi Hội An, dường như muốn dẹp sự im lặng có phần căng thẳng với lái xe, người phục vụ có quan hệ đến sự an nguy của mình, viên công sứ bắt chuyện:

– Anh bao nhiêu tuổi? Hai lăm à? Trẻ quá, còn kém tuổi cô Hêlen. Đẹp giai khoẻ mạnh thế này chắc lắm cô mê? Anh nói sõi tiếng Pháp chứ? Tốt. Đi với tôi đến Câu lạc bộ Pháp có thể có nhiều cô đầm mê đấy. Họ thích của lạ Phương Đông mà… Phải không Hêlen? – Hắn cười châm chọc – Nhưng cẩn thận đấy. Để tôi bị xúc phạm, tôi sẽ nghiền nát anh ra!

…Tài Định mở cửa xe bước ra ngoài. Viên công sứ thản nhiên, cười cười mở cửa sau đi lên ngồi vào sau tay lái. Quay ra nhìn Tài Định đứng bên cạnh lề đường, hắn nói:

– Anh xuống ngồi sau nơi bà Hêlen. Anh không còn giữ được bình tĩnh để cầm lái rồi – Hắn cười vẻ khoái chí.

…Phan Văn Định là một thanh niên yêu nước được sinh ra trong một gia đình khoa bảng bề thế ở làng Đông Thái, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông nội anh là Tiến sĩ Phan Nhật Tĩnh từng là Tế Tựu Quốc Tử giám, rồi Tổng đốc Hải Dương. Bác ruột anh là Tiến sĩ Phan Trọng Mưu. Một người bác ruột nữa là Phan Cát Tưu đã cùng cha anh là Phan Trọng Nghị đỗ đồng khoa cử nhân. Cả hai người này cùng tham gia phong trào Văn Thân chống Pháp của Phan Đình Phùng. Người bác Phan Cát Tưu bị tử trận, cha anh bị bắt và bị quản thúc, làm huấn đạo ở địa phương.

…Lái xe cho bác sĩ người Pháp ở nhà thương Đà Nẵng là Tácđiơ. Không bao lâu anh đã có nhiều người bạn tốt. Trong đó có những trí thức tiến bộ như các anh Lê Văn Hiến, Nguyễn Tường, Nguyễn Sơn Trà… làm ở nhà dây thép. …

Dần dà các anh hình thành được một nhóm tin cậy cùng chí hướng. Giữa năm 1925, có một thanh niên 18 tuổi quê ở Quảng Trị mới đỗ Pơrime, tham gia phong trào học sinh bãi khóa, bị đuổi học, tìm đến làm quen. Anh có đôi mắt nhỏ, sắc, da ngăm đen, nét cương nghị toát ra từ vẻ mặt đến cử chỉ, lời nói. Đó là đồng chí Lê Duẩn. Ít lâu sau đồng chí Lê Duẩn xin được chân soát vé ở nhà ga. Với bản chất sôi nổi, thông minh, đồng chí Lê Duẩn đã tiếp lửa cho nhóm Tài Định hoạt động hăng say.

Sau khi bị Pháp xử án không thành, cụ Phan Bội Châu vào Đà Nẵng sống ở nhà dược sĩ Phạm Doãn Điềm. Nhóm thanh niên của Tài Định đến thăm cụ. …

Tháng 6 năm 1925, thân sinh đồng chí Lê Duẩn ở Quảng Trị vào thăm. Qua vài lần trò chuyện với đám trẻ, cụ rất cảm kích. Trước khi từ biệt, cụ đọc tặng anh em mấy câu:

…Làm việc cho Tòa sứ có nhiều ràng buộc rất bất tiện, nhưng vốn tháo vát và dũng cảm, Tài Định nhanh chóng biến nơi sào huyệt kín cổng cao tường của thực dân thành nơi che giấu kín đáo cho Tổ chức. Lợi dụng xe của Tòa sứ và những chuyến đi cùng Khâm sứ, Tài Định đã chuyển đưa tài liệu, liên lạc với các cơ sở ở các huyện, thị. Truyền đơn, cờ búa liềm và cả tờ báo “Lưỡi cày” của Cách mạng, đã được bí mật in trong nhà xe tòa sứ.

Tháng 3 năm 1929, Tỉnh bộ “Thanh niên cách mạng đồng chí hội” của Quảng Nam được thành lập. Tài Định được cử làm Bí thư. Tháng 3 năm 1930, đồng chí Nguyễn Phong Sắc từ Hà Nội vào truyền đạt nội dung hội nghị Hương Cảng ngày 3/2/1930 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã thống nhất ba tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Tài Định được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

Viên công sứ Côlôngbông về nước, viên công sứ Labócđơ đến thay. Đây là một tên thực dân cáo già, dày dạn kinh nghiệm “chống Cộng”.

Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra. Thực dân Pháp và tay sai ra sức đàn áp phong trào yêu nước ở khắp nơi. Chỉ vài tháng ở Tòa sứ, Labócđơ đã để mắt đến những người Việt làm trong tòa sứ. Một hôm hắn bất ngờ xộc vào gara ôtô để kiểm tra. Lúc này, tài liệu tuyên truyền và báo “Lưỡi cày” in xong chưa kịp phát tán hết đang để đầy một hòm. Vừa mở từng cái hòm, cái tủ cho hắn xem, Tài Định vừa nấn ná tìm cách che giấu, nhưng xem ra khó lắm. Đang lúc nguy khẩn, vừa may có một con quạ của một nhân viên tòa sứ nuôi bay vào. Con quạ biết nói, nó há mỏ kêu “Qua đói”, “Qua đói”. Tài Định lấy miếng bánh mỳ bẻ cho nó ăn. Viên công sứ thích thú giành lấy miếng bánh, tự tay cho quạ ăn và chơi với quạ. Tài Định nhanh tay đánh tráo cái hòm tài liệu.

Thoát hiểm nhưng Tài Định hiểu anh đã bị nghi ngờ.

Tháng 10 năm 1930, nhiều đảng viên và cả Bí thư Huyện ủy ở Duy Xuyên bị bắt. Cơ quan Tỉnh ủy bí mật bị lục soát.

Tình thế cấp bách, Tài Định cử liên lạc ra Đà Nẵng báo cáo với Xứ ủy. Ngay trong đêm đó, anh thông báo cho các đảng viên phải nhanh chóng cất giấu, phi tang tài liệu mật. Ai bị bắt không được khai báo. Nếu bị khai xuất phải chối đến cùng. Ai có thể lánh đi thì đi ngay, sau sẽ liên lạc.

Hôm sau, ngày 22 tháng 10 năm 1930, viên công sứ Labócđơ gọi Tài Định chở hắn đi Đà Nẵng. Tài Định gợi chuyện, hỏi hắn về tình hình bắt bớ ở Hội An. Viên công sứ tỉnh bơ, nhìn ra ngoài không nói gì. Sau khi gặp Tổng đốc Ngô Đình Khôi, hắn bảo quay xe về Hội An.

Đi được vài cây số, hắn bảo dừng xe lại và xua tay ra hiệu bảo anh ngồi sang phía bên cạnh. Khi hắn ngồi vào sau tay lái, hắn quay sang nói với Tài Định:

– Từ trước tới giờ, Bí thư Tỉnh ủy lái xe cho Công sứ. Bây giờ Công sứ lái xe cho Bí thư Tỉnh ủy! (2)

Tài Định nóng ran mặt. Hiểu hết cơ sự nhưng anh trấn tĩnh thản nhiên hỏi:

– Bây giờ chúng ta đi…

Vào đồn Khố xanh! – Viên Công sứ cướp lời, hằn học – Tôi buộc phải giam giữ anh!

Tài Định hiểu, cuộc đấu tranh gian khổ đã bắt đầu, Anh rất tự tin và tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của Cánh mạng vô sản ở Việt Nam. Dù bản thân anh có thể hy sinh, anh quyết chấp nhận đương đầu. l

(Theo tư liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Quảng Nam – Đà Nẵng và gia đình ông Phan Văn Định.)

 (1)  Bình Nguyên: Bình Nguyên quân thời Chiến quốc, ý nói là những người tài cứu nước.

(2)  Ông Phan Văn Định –  Nguyên Bí thư đầu tiên của tỉnh ủy Quảng Nam.

Ông đã được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và được đặt tên cho một đường phố ở thành phố Đà Nẵng

Văn Phan

III. Hồi ký xuất bản – Sau khi chết.

 Tìm Hiểu Hòa Vang » Đất và người Hoà Vang » Tiểu sử Nhà Văn Lâm Quang Thự

TIỂU SỬ NHÀ VĂN LÂM QUANG THỰ

16 Tháng Tám 2013 – Phong

Lượt xem: 268     Phản hồi: 0

http://hoavang.danang.gov.vn/Default.aspx?tabid=b27d19de-c42e-404f-bb66-ff7e9bc4b88b&mid=3f3644dd-d8f7-4d75-8b03-0056c3e3e0fa&itemid=2763&page=Detail

Nhà văn Lâm Quang Thự, nhà hoạt động, sinh ngày 15-9-1905 tại làng Cẩm Toại, tổng An Phước, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Hòa Phong, huyện Hoà Vangthành phố Đà Nẵng).

Xuất thân trong gia đình Nho học, thuở nhỏ học ở Huế. Năm 1925, ông đậu Cao đẳng Tiểu học, ngành sư phạm (Quốc học, Huế) rồi được bổ làm giáo học tại trường Tiểu học Pháp Việt Nha Trang. Tại đây ông bắt đầu giác ngộ cách mạng, tinh thần yêu nước, tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh, tổ chức các buổi học ban đêm cho thợ thuyền, dân nghèo.

Năm 1928, ông bị cách chức giáo học nên ông vào Sài Gòn dạy trường tư, gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, sau chuyển sang Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1931, ông bị Pháp bắt và giải về Quảng Nam quản thúc một thời gian. Năm 1932, ông làm thư kí công nhật ở sở Hoả xa Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, đến năm 1937 được đổi về Đà Nẵng.

Năm 1939, ông tham gia các phong trào công khai như: vận động bầu cử Đặng Thai Mai vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, tổ chức và làm hội trưởng Hội Ái hữu Hoả xa…

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (3-1945) ông tham gia đỡ đầu phong trào thanh niên Quảng Nam – Đà Nẵng, có chân trong Hội Truyền bá Quốc ngữ tại hai hạt Đà Nẵng – Hoà Vang.

Tháng 8-1945, ông là chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng huyện Hoà Vang.

Trong cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, ông được bầu đại biểu Quốc hội. Năm 1946, ông được cử làm Chánh văn phòng Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Nam.

Đầu năm 1947, ông làm Trưởng ban xây dựng các chiến khu của tỉnh ở Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Kỳ. Giữa năm 1947, ông trở lại cơ quan tỉnh và sau đó được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chánh miền Nam Trung bộ đến ngày kí hiệp định Genève năm 1954.

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Bộ Nội vụ, phủ Thủ tướng, tham gia nghiên cứu luật tuyển cử để chuẩn bị hiệp thương tổng tuyển cử theo qui định của hiệp định Genève.

Cuối năm 1956, ông được điều sang Văn phòng Ủy ban thường vụ Quốc hội làm công tác nghiên cứu, giữ chức quyền Vụ trưởng Vụ dân chính, đến đầu năm 1970 ông nghỉ hưu.

Ngoài những hoạt động cách mạng, kháng chiến, ông còn nghiên cứu về lịch sử và pháp luật, ông viết sách, đọc nhiều tham luận tại các kì họp Quốc hội.

Ông được nhà nước Việt Nam công nhận là cán bộ có hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng 8-1945 và được hưởng chế độ ưu đãi.

Ngày 16-6-1900, ông mất tại Bệnh viện hữu nghị Việt Xô, hưởng thọ 85 tuổi, an táng tại nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội)….

Kỷ niệm 60 năm ngày tổng tuyển cử đầu tiên 6-1-1946:

Kỳ 1: Cuộc tổng tuyển cử của lòng dân

http://www.na.gov.vn/60namqhvn/www.na.gov.vn/60namqhvn/cacbaiviet/Cuoc%20tong%20tuyen%20cu%20cua%20long%20dan.html

Một ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khai sinh, Bác Hồ đã nghĩ đến việc lập một thiết chế dân chủ, cái mà trước đó trong lịch sử dân tộc ta chưa hề có, dân ta chưa hề được hưởng…

Và câu chuyện “Tổng tuyển cử đầu tiên” (6-1-1946) đã được ông Lâm Quang Thự (đại biểu Quốc hội khóa I) ghi chép khá đầy đủ. Tư liệu quí giá này vừa được công bố trong cuốn sách Lâm Quang Thự – người con đất Quảng do Hội Khoa học lịch sử TP Đà Nẵng phối hợp Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản.

Lâm Quang Thự: Người con đất Quảng http://elib.duytan.edu.vn/ChitietSach/?id=2830&typeid=1863&loai=2&tb=s

Nhóm tác giả: Lê Duy Anh, Nguyễn Kim Nhị, Lưu Anh Rô,…
Nhà xuất bản: Đà Nẵng; Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng – Đà Nẵng
Năm xuất bản: 2005
Ngày cập nhật: 06/02/2009

Tóm tắt:

Trình bày: Chân dung con người Lâm Quang Thự, Trang Quốc hội, Bút hoài thương, Chung gánh nợ trần về cuộc đời và sự nghiệp Lâm Quang Thự người con đất Quảng.

LB; Đây là một dấu hiệu ta sẽ nghiên cứu thêm ở phần sau.

  1. Người tương đối thọ – 2 đời vợ!

Trần Kim Bảng

http://www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?pid=N0JDODBEMEUwQQ&key=Nh%C3%A2n+s%C4%A9+Tr%E1%BA%A7n+Kim+B%E1%BA%A3ng&type=A5

Nhân sĩ, nhà văn Trần Kim Bảng hiệu Thiên Giang, quê làng Nam Ô, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng).

Ông xuất thân là nhà giáo, viết báo tại Sài Gòn. Những năm 30, ông tham gia hoạt động chống Pháp thuộc tỉnh ủy Quảng Nam bị Pháp bắt đày lên Lao Bảo (Quảng Trị) Bà Rá (nay thuộc tỉnh Bình Phước).

Năm 1939, ông được trả tự do về dạy học tại Sài Gòn.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia các tổ chức yêu nước tại nội thành trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

Năm 1968, ông ra chiến khu, từng ra nước ngoài làm công tác tuyên truyền cho chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.

Vợ sau ông là nữ sĩ Vân Trang, con trai đầu là giáo sư tiến sĩ khoa học Trần Kim Thạch đã cống hiến nhiều về lĩnh vực văn học và khoa học Việt Nam hiện đại.

Ngày 6-4-1985, ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh, thọ 74 tuổi.

LB: Đây là một dấu hiệu ta sẽ nghiên cứu thêm ở phần sau.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Kim_Th%E1%BA%A1ch

Trần Kim Thạch (19372009) là một trong những nhà địa chất hàng đầu của Việt Nam [1] và là nhà khoa học nổi tiếng ở Việt Namthế giới.[2] Ông cũng là người có công lớn góp phần vào việc đặt nền móng nghiên cứu, giảng dạy và phát triển hiệu quả về địa chất tại miền Nam Việt Nam liên tục trong suốt 45 năm qua (19642009).[3] Ông được giới chuyên môn xem là một trong số ít những cây đại thụ [4] của ngành địa chất Việt Nam.

Tiểu sử

Giáo sư tiến sĩ Trần Kim Thạch sinh ngày 01/01/1937 tại làng Nam Ô, quận Hòa Vang (nay là quận Liên Chiểu), thành phố Đà Nẵng trong một gia đình là dòng dõi hậu duệ Nhà Trần di cư vào Đà Nẵng từ khoảng thế kỷ XVI. Nội tổ là cụ Trần Đình Liệu làm quan triều Nguyễn. Cha là nhà giáo-nhà trí thức Trần Kim Bảng[5] (bút hiệu Thiên Giang) và cô ruột là nhà giáo Trần Thị Hợp Phố (bút danh Hợp Phố) là những nhà giáo nổi tiếng với các trước tác về giáo dục thanh niên, thiếu niên từ trước năm 1975 ở Miền Nam. Cha của ông cũng là anh em “cột chèo” với giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê và học giả miền Nam Hồ Hữu Tường.

  • Năm 1955: Đỗ tú tài toàn phần. Cựu học sinh trung học Petrus Ký (Sài Gòn)
  • Năm 1958: Cử nhân Vạn vật học (sinh- địa) Khoa học Đại học đường Sài Gòn
  • Năm 1964: Tốt nghiệp tiến sĩ tối danh dự tại Viện Nghiên cứu Trầm tích học thuộc Đại học Reading (Anh) lúc mới 27 tuổi.
  • Năm 19641974: Giảng dạy với tư cách giảng viên (1964), giáo sư ủy nhiệm (1970) & giáo sư thực thụ (1972) tại Khoa học Đại học đường Sài Gòn và được bầu làm Trưởng ban Địa chất thuộc trường đại học này. Ông cũng là người Việt đầu tiên được giao chức vụ Trưởng ban khoa học của một trong những trường đại học hàng đầu của Miền Nam lúc ấy.
  • Năm 19751976: Phó Ban lãnh đạo Đại học Khoa học Sài Gòn (Phó hiệu trưởng).
  • Năm 19761985: Giáo sư,Trưởng khoa Địa chất của Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

Ông nghỉ hưu từ năm 2003 nhưng vẫn làm việc nghiên cứu địa chất, biên soạn sách cho tới ngày mất. Ông mất ngày 28/7/2009 tại TP.Hồ Chí Minh

Thiên Giang Trần Kim Bảng – nhà văn tranh đấu miền Nam giai đoạn 1945 – 1954

Thứ sáu, 29 Tháng 8 2014 23:47 Đỗ Thị Thanh Nhàn

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=4921%3Athien-giang-trn-kim-bng-nha-vn-tranh-u-min-nam-giai-on-1945-1954&catid=120%3Alun-vn-ca-ncs-hvch-a-sv&Itemid=186&lang=vi

Đỗ Thị Thanh Nhàn(*)

 TÓM TẮT

Thiên Giang – Trần Kim Bảng là chiến sĩ – nhà văn – nhà giáo và cũng là chứng nhân lịch sử của thế kỷ XX. Ông đã dùng văn chương như vũ khí để đấu tranh trong cuộc chiến đấu chung của toàn dân. Những sáng tác, nghiên cứu và dịch thuật của ông có những tiến bộ nhất định, tạo nên hiệu ứng tích cực trong đời sống xã hội bấy giờ.

Văn học Nam Bộ giai đoạn 1945-1954 phát triển mạnh với sự xuất hiện của các nhóm văn học. Một trong nhưng nhóm văn học có nhiều ảnh hưởng và đóng góp là nhóm Chân trời mới. Nhóm Chân trời mới với bộ ba chủ chốt: Thiên Giang, Tam Ích và Thê Húc. Góp phần vào tiếng nói chung của văn chương tranh đấu ở Nam Bộ giai đoạn 1945-1954, tác giả Thiên Giang Trần Kim Bảng tuy không tạo nên một sự nghiệp văn học bề thế, nhưng đã tạo được một vị trí quan trọng trong giới cầm bút và tình cảm của độc giả. Những sáng tác, nghiên cứu và dịch thuật của ông có những tiến bộ nhất định, tạo nên hiệu ứng tích cực trong đời sống xã hội bấy giờ.

  1. Cuộc đời Thiên Giang Trần Kim Bảng

Trần Kim Bảng sinh ngày 10/5/1911 tại huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, là con trai cả trong gia đình gồm 5 anh em. Trong quá trình hoạt động văn học, Trần Kim Bảng sử dụng các bút danh: Hải Vân, Bảy Phong, Dã Hoa, Trần Thiện Phong, Nguyên Phương, và được biết đến nhiều nhất là Thiên Giang.

Những năm đầu của thập niên 20 thế kỷ XX, ông bắt đầu đi học tại Đà Nẵng. Gia cảnh khó khăn, ông cố gắng chăm chỉ học tập và sớm có ý thức cách mạng. Năm 1926, ông tham gia phong trào cách mạng tại Huế, hoạt động tích cực trong các cuộc bãi khóa, biểu tình của học sinh. Năm 1929, ông gia nhập vào “Sinh hội đỏ” tại trường Quốc học Huế và tiếp tục hoạt động cho đến khi nghỉ học vì bị bọn tay sai mật thám Pháp truy nã.

Chọn con đường chông chênh nguy hiểm và không được cha ủng hộ, nhưng Thiên Giang vẫn giữ vững lập trường, quyết đấu tranh chống lại kẻ thù. Năm 1930, sau khi được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, ông thoát ly gia đình đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Thời gian đầu, ông chuẩn bị các điều kiện để xây dựng chi bộ đầu tiên tại Quảng Nam – Đà Nẵng. Sau đó ông vào Hội An đảm nhận vị trí phó bí thư tỉnh ủy, hoạt động tổ chức phong trào quần chúng ở Quảng Nam, hưởng ứng phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh và phong trào đấu tranh ở Quảng Ngãi. Ngày 4/8/1930, cùng với một số đồng chí khác, Thiên Giang đã đánh một đòn bất ngờ gây choáng váng cho giặc khi treo cờ đỏ búa liềm và mở cuộc diễn thuyết công khai tại thị xã Hội An, tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình ở huyện Duy Xuyên. Tại miền trung, nhà văn hoạt động chủ yếu trên địa bàn Huế, Hội An và Đà Nẵng, dùng nhiều phương thức để tuyên truyền chính trị, vận động quần chúng giác ngộ và xây dựng lực lượng cách mạng.

Năm 1931, ông bị Thượng thư Bộ Hình của triều đình Huế là Ngô Đình Khôi kết án 7 năm tù, bắt đi đày tại Lao Bảo. Tuy nhiên nhà tù không giam hãm được chí lớn, các chiến sĩ trong đó có Trần Kim Bảng đã biến lao ngục thành trường học. Chính trong thời gian này, nhà văn được các đồng chí lão thành giúp hiểu sâu về cách mạng. Ông học chữ Hán với ông Tú Nguyễn Đình Kiên, học chữ Pháp với đồng chí Nguyễn Sĩ Sách, Hồ Sĩ Thiều. Năm 1935, ông được thả khỏi Lao Bảo nhưng vẫn bị quản thúc tại nơi cư trú. Năm 1936, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Thái, người con gái ở phố cổ Hội An.

Trần Kim Bảng đánh dấu hoạt động văn học bằng việc thành lập nhóm Tứ Hải (1936-1939) gồm Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn), Hải Khách (Trần Huy Liệu), Hải Trần (Nguyễn Văn Khai), Hải Vân (Trần Kim Bảng). Nhà văn đã tham gia tích cực trong Phong trào Mặt trận Bình dân và cuộc bút chiến Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh, viết nhiều bài đả kích văn học lãng mạn. Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 2 tại Sài Gòn sau sự kiện Nam Kỳ khởi nghĩa, tiếp tục bị lưu đày tại trại tù Dakgley. Là một chiến sĩ cộng sản được giặc đánh giá là nguy hiểm, vì vậy dù mãn hạn tù nhưng ông bị cấm lưu trú tại Sài Gòn và phải chịu sự quản thúc tại Cần Thơ. Tuy nhiên ông vẫn nhiều lần bí mật quay về Sài Gòn hoạt động, lưu trú tại nhà của Hoàng Đôn Vân. Trong khoảng thời gian này ông thường đọc sách tại nhà sách Tân Sinh, số 116 Đinh Tiên Hoàng, tại đây ông đã gặp gỡ cô bán sách Nguyễn Thị Trang (nhà văn Vân Trang), sau này là người bạn đời, bạn văn chương của nhà văn.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám bùng nổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, xứ ủy Nam Kỳ đứng đầu là bí thư Trần Văn Giàu đã cùng với nhân dân Nam Bộ kịp thời vùng lên cướp chính quyền. 29 ngày sau khi Pháp tái chiếm Sài Gòn, ông đưa gia đình Hoàng – Trần về lánh nạn tại Rạch Bần. Tại đây ông bị lầm tưởng là Việt gian nên bị bắt và hành hình bằng cách cột đá nhấn xuống sông. May mắn có một đồng chí là thân tộc của nhà thơ Tố Hữu nhận ra nên ông thoát chết. Giai đoạn 1946-1947, Thiên Giang trở về Sài Gòn tham gia Mặt trận Báo chí thống nhất, đặc biệt năm 1947 tham gia vận động thành lập nhóm Chân trời mới, lần lượt cho ra đời nhiều tác phẩm lý luận, văn học, chính trị và sử học có giá trị.

 Khi văn học tranh đấu không còn tạo được không khí sôi động trên văn đàn và cảm hứng sáng tác không còn dồi dào như trước, với sự giúp đỡ của bạn bè: Phạm Xuân Thái (Nxb Tứ Hải), Hồ Tấn Nghĩa (Nxb Dân tộc), Sơn Khanh (Nxb Sống chung), Đinh Xuân Hòa (Nxb Nam Việt), Đinh Xuân Tiếu (chủ nhà in Sông Gianh) và các thân hữu trong nhóm Chân trời mới, tháng 7 năm 1949 nhà văn đã đáp tàu Marechal Joffre sang Pháp để khảo cứu nghề in. Trong suốt thời gian này, ông có điều kiện thâm nhập vào cuộc sống của người dân Pháp và Việt Kiều. Chuyến đi là nguồn cảm hứng để nhà văn viết Pháp du hồi kí. Sau hơn nửa năm sống trên đất Pháp, tác giả trở về Sài Gòn và bị bệnh lao phổi kéo dài nhiều năm. Dù tình hình sức khỏe không tốt, nhưng tấm lòng dành cho đồng bào, đất nước luôn trọn vẹn, trước âm mưu nô dịch văn hóa của Mỹ – Diệm, Thiên Giang lại tiên phong phát khởi trào lưu tân giáo dục trong suốt giai đoạn 1954-1960. Cũng trong thời gian này, ông cùng nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê cho ra đời bộ Lịch sử thế giới toàn tập gồm bốn tập, trong đó nhà văn viết tập 2 và 3 với cách viết và góc nhìn tiến bộ theo hướng biện chứng và duy vật lịch sử. Trước hiện trạng đất nước vẫn còn hình bóng quân thù, song hành cùng vấn đề về giáo dục, ông lại tiếp tục công cuộc đấu tranh chính trị thông qua tổ chức cách mạng. Sau khi Phong trào Dân tộc tự quyết bị đàn áp, Thiên Giang chuyển sang làm nòng cốt tổ chức Lực lượng Bảo vệ Văn hóa dân tộc và Phong trào Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ Việt Nam.

Năm 1964, ông chủ trương tờ báo Hồn trẻ, đây là cơ quan ngôn luận giới thiệu truyền bá những tư tưởng nhân đạo và tiến bộ, trụ sở được đặt tại đình Nam Chơn, số 29 Trần Quang Khải. Cùng với vợ là nhà văn Vân Trang, Thiên Giang đã sáng tác nhiều truyện ngắn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Được sự chỉ đạo bí mật của Ban Trí vận, năm 1966, ông giữ vị trí chủ chốt cùng với hàng trăm trí thức, nhân sỹ yêu nước tích cực tổ chức nhiều hội đoàn đấu tranh công khai và bán công khai để bảo vệ văn hóa dân tộc. Trong thời gian này, ông giữ chức vụ Chủ tịch Hội Bạn trẻ em Việt Nam. Năm 1968 ông vào chiến khu, giữ chức Ủy viên thường trực của Ủy ban Liên minh Khu Sài Gòn – Gia Định.

Trước những trọng trách được giao, chiến sĩ – văn sĩ Thiên Giang đã không ngừng cống hiến sức mình, nhưng do tuổi tác, bệnh tật và cường độ công việc nên khoảng năm 1971 lâm bệnh nặng, được Trung ương cho qua Đức điều trị. Cuối năm 1972 ông trở về Hà Nội.

Ngày 2 tháng 5 năm 1975, Thiên Giang được điều động vào Sài Gòn. Những năm tháng tiếp theo hai vợ chồng Thiên Giang – Vân Trang tiếp tục làm công tác mặt trận tại Ủy ban Mặt trận tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 6/4/1985, nhà văn qua đời tại nhà riêng.

  1. Hoạt động văn học

Trong suốt quá trình dựng nước, dân tộc ta luôn phải chống giặc ngoại xâm. Văn học có sự đóng góp xứng đáng trong từng chặng đường tranh đấu đó. Cùng với tinh thần nhân đạo, lòng yêu nước đã trở thành cơ sở tư tưởng tình cảm cho văn học dân tộc. Là một chiến sĩ đồng thời là nhà văn, Thiên Giang ý thức được sứ mệnh của người cầm bút. Cả cuộc đời ông là hành trình chiến đấu không ngừng nghỉ trên khắp các mặt trận chính trị và văn hóa. Đặc biệt trong giai đoạn 1936-1939 và 1945-1954 ông có nhiều sáng tác, phê bình, dịch thuật tạo được tiếng vang trên văn đàn. Gắn với từng giai đoạn, Thiên Giang cùng với bạn hữu lập nên hai nhóm Tứ Hải (1936-1939) và Chân trời mới (1947-1949).

Nhóm Tứ Hải: Năm 1936 Mặt trận Bình dân giành thắng lợi tại Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Tình thế chính trị đổi khác, ngày càng có lợi cho cách mạng, vì vậy Thiên Giang có thời gian để viết và tham gia các hoạt động.

Cùng với các đồng chí Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn), Hải Khách (Trần Huy Liệu), Hải Trần (Nguyễn Văn Khai), Hải Vân (Trần Kim Bảng) đã cùng nhau thành lập nhóm Tứ Hải. Nhiều sách báo ra đời trên mặt trận đấu tranh công khai được phát hành rộng rãi nhằm tuyên truyền cách mạng. Trong giai đoạn đó, văn đàn trở nên sôi động do cuộc bút chiến nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Cùng với những thành viên trong nhóm Tứ Hải, ông đã viết nhiều bài báo “phê phán kịch liệt phái nghệ thuật vị nghệ thuật dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa văn nghệ, góp phần đẩy lùi khuynh hướng phi chính trị hóa đã tách văn hóa văn nghệ ra khỏi cuộc đấu tranh của dân tộc”(1).

Với bút hiệu Hải Vân (có khi ký Thạch Vân), Trần Kim Bảng đã luôn đứng về phái chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh. Ông kịch liệt phản đối những tác phẩm, tác giả lãng mạn. Cuộc tranh luận đã tạo được ảnh hưởng khá sâu rộng trong giới cầm bút và công chúng, “đã khẳng định tính ưu việt của mỹ học Mác xít trong khả năng tiếp nhận chân lý đời sống và chân lý nghệ thuật”(2). Trong những bài viết thời kỳ này, có thể kể: Nguyên nhân phát sinh của hai trào lưu văn nghệ ở xứ này, (Tiến bộ, số 1, 9/2/1936); Sự xung đột của hai tư tưởng hay là sự xung đột của hai thế giới (Tiến bộ, Số 6, 15/3/1936);  Văn chương trong xã hội giai cấp, (Hồn trẻ, số ra ngày 11/7 và 18/7/1936). Những bài viết này đã thể hiện rõ lập trường và tư tưởng của nhà văn, chi phối hoạt động văn học và giáo dục của ông sau này.

Có thể thấy, cả bốn thành viên đều là những nhà văn, nhà báo và chiến sĩ yêu nước, có nhiều bài viết đăng trên các tờ báo tiến bộ, nêu cao tinh thần chiến đấu cho giới văn nghệ sĩ cũng như thanh niên. Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan, nhóm không có tác phẩm viết chung mà chỉ là tập hợp những cộng tác chung chí hướng. Cùng gắn kết trong cuộc bút chiến, những gì họ làm được chưa thực sự công minh vì còn quá cực đoan khi công kích văn học lãng mạn. Nhưng xét trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ thì có thể chấp nhận được. Không “đứng mũi chịu sào” như Hải Triều, nhưng với sự nhiệt thành, Hải Vân đã phần nào thể hiện được tấm lòng vì dân vì nước trong ý thức sống của người trí thức.

Nhóm Chân trời mới: Nhóm Chân trời mới là tập hợp những trí thức có lập trường yêu nước, tiến bộ. Nhóm gồm có bộ ba Tam Ích (Lê Nguyên Tiệp), Thê Húc (Phạm Văn Hạnh), Thiên Giang (Trần Kim Bảng), ngoài ra còn có sự giúp đỡ và cộng tác của bạn hữu văn sĩ như Thiếu Sơn, Hợp Phố, Bách Việt…

Hoạt động của nhóm gắn liền với giai đoạn văn học tranh đấu (1947-1949) ở đô thị Sài Gòn với mục đích “kiểm điểm lại những giá trị cũ để vạch một đường hướng dẫn về tương lai”. Nhóm đã gây được tiếng vang trên văn đàn Nam Bộ bởi sự nhất trí trong đường lối và tác phẩm. Tác phẩm của họ phong phú và được viết trên nhiều lĩnh vực: văn học, lịch sử, giáo dục với nhiều thể loại gồm hồi ký, truyện ngắn, tiểu thuyết, dịch, biên khảo… Theo quan điểm của nhóm, nhà văn phải biết hòa mình sống cùng với quần chúng, phải biết ý thức sứ mệnh lịch sử của mình là góp sức cho tranh đấu. Chính vì vậy mà họ đề cao những tác phẩm tả chân xã hội: Gót sắt (Jack London), Người mẹ (Marxim Gorky), Túp lều bác Tôm (Howard Fast), bên cạnh đó kịch liệt phản ánh những nhà văn, nhà phê bình lãng mạn vì cho rằng “quần chúng đối với họ chỉ là sự xa lạ”.

Là một trong ba cây bút chủ chốt của nhóm, Thiên Giang – Trần Kim Bảng hoạt động sôi nổi với các lĩnh vực sáng tác, phê bình, dịch thuật. Phần lớn sự nghiệp văn học của nhà văn tập trung trong giai đoạn này: hồi ký Lao tù, Lao tù II, Bộ xích sắt, Bứt xiềng, Văn chương và xã hội, Nghệ thuật và nhân sinh, Thi văn hiện đại, Giữa chốn ba quân (dịch), Qua lớp bụi đời (dịch). Việc chọn lựa hòa nhịp theo dòng chảy của văn chương tranh đấu và ủng hộ những sáng tác tả chân dù có phần khiên cưỡng và chưa hoàn toàn thống nhất từ tư tưởng đến tác phẩm, tuy nhiên có thể nhận thấy ở ông tấm lòng vì dân vì nước.

Dù chỉ hoạt động trong thời gian ngắn, nhưng nhóm Chân trời mới đã tạo nên sự ảnh hưởng trên văn đàn. Những sáng tác, biên khảo, phê bình và dịch thuật của nhóm nhìn chung vẫn hướng về mục đích chung của toàn dân là chống giặc. Hiện nay, việc giới thiệu những công trình của nhóm nói riêng, các tác giả miền Nam giai đoạn 1945-1954 còn sơ lược và khiếm khuyết, chưa thật tương xứng với những đóng góp của nó.

  1. Tác phẩm của Thiên Giang Trần Kim Bảng

Sự nghiệp văn học của Thiên Giang hầu như tập trung trong hai giai đoạn 1936-1939 và 1945-1954. Tác phẩm của ông minh chứng cho quan niệm “nghệ thuật là sản vật của xã hội, phát nguyên của nghệ thuật là ở xã hội mà cứu cánh của nó cũng ở xã hội. Vì vậy nghệ sĩ và quần chúng là một. Giữa cuộc đời và quần chúng họ sẽ tìm thấy sứ mạng lịch sử”.

Tác phẩm đã xuất bản: Tác phẩm đã xuất bản của Thiên Giang gồm có: Lao tù, Thi văn hiện đại, Nghệ thuật và nhân sinh, Văn chương và xã hội, Bộ xích sắt, Người mẹ sáng suốt (viết chung với nữ sĩ Vân Trang), Giữa chốn ba quân (dịch), khoảng 20 truyện ngắn và các bài nghiên cứu về lịch sử, giáo dục đăng trên báo Mới, Luận đàm và tạp chí Bách Khoa.

Trong sự nghiệp sáng tác, có thể nói tác phẩm gây ấn tượng và tạo được tiếng vang nhất của nhà văn là hồi ký Lao tù – “hình ảnh truyền thần của chế độ thuộc địa”(3). Dù bị cắt bớt nội dung trong quá trình kiểm duyệt nhưng Lao tù đã đến với công chúng và được bạn đọc phản hồi khá tích cực. Bằng chính những trải nghiệm trong những năm bị đày tại Lao Bảo, Lao tù đã tái hiện lại chân thực, sống động chính sách nhà tù dã man tàn bạo cũng như những hậu quả khốc liệt hủy hoại con người về thể xác lẫn tinh thần. Cùng với các hồi ký viết về đề tài đi đày: Côn Lôn ký sự của Thiết Hán, Tôi bị đày đi Bá Rá của Việt Tha, Lao tù của Thiên Giang đã làm phong phú hơn “bộ phận ít ỏi của ký đô thị viết về thế giới của những con người đi chiến đấu, góp phần thổi lửa vào lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu ở đô thị”(4).

Chiếm số lượng khiêm tốn, ít được bạn đọc biết đến và hầu như chưa được giới phê bình quan tâm, các truyện ngắn một mặt làm phong phú thêm sự nghiệp văn học của nhà văn Thiên Giang; mặt khác mang lại những góc nhìn mới mẻ, những suy tư trăn trở nơi ngòi bút này. Với hơn 20 truyện ngắn, Thiên Giang đã gợi nhắc đến một số nét văn hóa truyền thống: trò chơi dân gian, tục gói bánh, tục thờ cúng tổ tiên… Ông dành sự cảm thông và xót xa trong những trang văn của mình khi viết về những thân phận con người: đứa trẻ nghèo làm việc nặng nhọc để mưu sinh, người ở mướn, nhà giáo, từ đó đề ra những vấn đề đạo đức rất sâu sắc.

Không dày dặn và đều tay bằng sáng tác văn học nhưng những tác phẩm lý luận phê bình của nhà văn Thiên Giang đã để lại dấu ấn nhất định. Có thể nói, với phê bình văn học ở Nam Bộ 1945-1954, ông đã có những đóng góp quan trọng. Do biến chuyển của cao trào lịch sử và ý thức của một chiến sĩ, Thiên Giang liên tiếp cho xuất bản Văn chương xã hội, Nghệ thuật vị nhân sinh, Thi văn hiện đại (cùng nhiều tác giả khác), cả ba đều tập hợp những trang viết mang tính tranh đấu và bàn luận về các vấn đề bức thiết trong xã hội. Là cuốn sách thứ sáu của tủ sách Chân Trời Mới, Nghệ thuật và nhân sinh đã chạm đến khá nhiều khía cạnh của văn học: vấn đề tự do sáng tác, nghệ thuật Việt Nam đi về đâu, quá trình văn nghệ Việt Nam, chung quanh khuynh hướng mới… với mong muốn “mở rộng vấn đề trên khắp các ngành nghệ thuật ở trong nước và trên thế giới ngày nay hầu đem lại cho độc giả một ý niệm tổng quát về tính chất và cứu cánh của nghệ thuật”(5).

Tác phẩm dạng bản thảo: Ngoài số lượng tác phẩm đã xuất bản nhắc đến ở trên, chúng tôi đã sưu tầm được ba hồi ký ở dạng bản thảo của Thiên Giang: Nảy mầm, Pháp du hồi ký, Ông cháu. Ngoài ra còn có những sáng tác chưa đến được với bạn đọc do chế độ kiểm duyệt: tiểu thuyết Bứt xiềng, hồi ký Trước cơn giông. Những tác phẩm này càng làm sáng rõ phương châm sống và viết của nhà văn Thiên Giang. Riêng Pháp du hồi ký đã mang lại màu sắc mới cho thể ký nói riêng và văn học Việt Nam nói chung khi tái hiện sinh động cuộc sống của đồng bào Việt kiều tại Pháp.

Kết luận

Thiên Giang – Trần Kim Bảng là chiến sĩ – nhà văn – nhà giáo và cũng là chứng nhân lịch sử của thế kỷ XX. Trọn cuộc đời sống, chiến đấu, lao động vì đất nước, ông đã dùng văn chương như vũ khí để đấu tranh trong cuộc chiến đấu chung của toàn dân. Suốt cuộc đời mong muốn cho đất nước độc lập, giáo dục phát triển, văn chương ích lợi, tác giả đã góp vào gia tài văn học, lịch sử nước ta một chân dung bình dị, tuy “thô sơ da thịt” nhưng “lên đường không bao giờ nhỏ bé”. Nhìn chung, dù là sáng tác hay lý luận, dịch thuât, nhà văn Thiên Giang đều thể hiện sự tranh đấu với mong muốn hướng con người đến những điều tốt đẹp. Việc nghiên cứu sự nghiệp văn học của nhà văn Thiên Giang – Trần Kim Bảng nhằm giới thiệu đầy đủ hơn cuộc đời, sáng tác, lý luận – phê bình của ông – một tác giả còn khá lạ lẫm với bạn đọc cũng như học sinh, sinh viên, để góp phần bổ khuyết cho những khoảng trắng của văn học Nam Bộ, thiết nghĩ là một việc làm cần thiết.

Chú thích:

(1) Vu Gia (2002), Hải Triều – Nghệ thuật vị nhân sinh, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh.

(2) Viện Văn học (2002), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 637.

(3) Đề tài cấp Trọng điểm Đại học Quốc gia (2012), Sưu tầm, khảo sát và đánh giá văn học Nam Bộ 1945 – 1954, TP. Hồ Chí Minh.

(4) Đề tài cấp Trọng điểm Đại học Quốc gia (2012), Sưu tầm, khảo sát và đánh giá văn học Nam Bộ 1945 – 1954, TP. Hồ Chí Minh,  tr.59.

(5) Tam Ích, Thê Húc, Thiên Giang (1948), Nghệ thuật và Nhân sinh, Nxb Nam Việt, Sài Gòn, tr.8.

Tài liệu tham khảo

  1. Đề tài cấp trọng điểm Đại học Quốc gia Sưu tầm, khảo sát và đánh giá văn học Nam Bộ 1945 – 1954do Võ Văn Nhơn làm chủ nhiệm (nghiêm thu năm 2012).
  2. Hoàng Đôn (2009), Giữa ngàn thác lũ, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
  3. Thiên Giang (1949), Lao tù, Nxb Nam Việt, Sài Gòn.
  4. Thiên Giang (1948), Nghệ thuật và nhân sinh, Nxb Nam Việt, Sài Gòn.
  5. Thiên Giang, Tam ích, Thê Húc (1948), Văn chương và xã hội, Nxb Nam Việt, Sài Gòn.
  6. Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan (2008), Văn học thời kỳ 1945 – 1975 ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh.
  7. Nhiều tác giả (1949), Thi văn hiện đại, Nxb Dân tộc, Sài Gòn.
  8. Nguyễn Văn Sâm (1969), Văn chương tranh đấu miền Nam, Nxb Kỷ Nguyên, Sài Gòn.
  9. Nguyễn Văn Sâm (1972), Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1950, Nxb Lửa thiêng, Sài Gòn.

Nguồn: Tạp chí Văn hóa & Du lịch, số 18 (72), tháng 7.2014, tr. 86 – 92

Đã xem 6 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments