Bài 1. Ba ngày giết 2 Lãnh Đạo Bộ Công An: Bộ Trưởng và Thứ Trưởng.

Chương 2. Ba ngày giết 2 Lãnh Đạo Bộ Công An: Bộ Trưởng và Thứ Trưởng.

Bài 1. Ba ngày giết 2 Lãnh Đạo Bộ Công An: Bộ Trưởng và Thứ Trưởng.

NhẬN Thư Mật “Có thư “rất mật”, “tối mật”, có thư “tối khẩn”, Bác yêu cầu đọc xong đốt ngay.

Xong liền chết.

Ngày 24.4.1947, trên đường đi công tác, Hòang Hữu Nam không may bị tai nạn và mất trên sông Lô, hưởng dương 37 tuổi, Bộ trưởng Lê Văn Hiến đã ghi trong nhật ký của mình: “Tin này sẽ làm cho Hồ Chủ tịch phiền lòng”. Cuộc họp Hội đồng Chính phủ ngày 30.4.1947, đã tổ chức tưởng niệm Hòang Hữu Nam và cụ Hùynh Thúc Kháng (từ trần trước đó 3 ngày, tức 21.4.1947).

Thế mới thật là: Thư mật kia bảo những gì

                        Làm xong liền chết đáng đời Hữu Nam.

                        Thư mật kia bảo những gì

                        2 ông cự phách – cách nhau 3 ngày!

                        Giờ đây khẳng định Hữu Nam.

                        Tên này đếch phải là ngài Phan Bôi!

HOÀNG HỮU NAM TẤM GƯƠNG SÁNG VỀ LÒNG TRUNG THÀNH VỚI DÂN VỚI ĐẢNG

Tác giả: UBND Điện Bàn .Ngày đăng: 30/09/2009

http://dienban.gov.vn/Default.aspx?tabid=107&NewsViews=997

Hoàng Hữu Nam, sinh năm 1911, tại làng Bảo An, tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn (nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn) tỉnh Quảng Nam, nơi từng sản sinh nhiều bậc đại khoa, những nhà cách mạng dũng cảm kiên cường.

Hoàng Hữu Nam có tên thật là Phan Bôi, còn tên Hòang Hữu Nam được dùng sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, anh là con thứ bảy trong gia đình. Song thân là ông Phan Định và bà Lê Thị Tiến. Ông Phan Định, thường gọi là Biện Chín, người sớm có lòng yêu nước, từng tham gia phong trào chống thuế năm 1908. Các anh, em của Hòang Hữu Nam đều có những đóng góp cho các cuộc đấu tranh yêu nước và cách mạng, trong đó anh ruột là Phan Thanh – một trí thức yêu nước nổi tiếng trong phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ những năm 1936 – 1939.

Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng, vốn có tư chất thông minh, Hòang Hữu Nam sớm nhận thức sự bất công của xã hội đương thời. Những năm 1925-1927, khi mới 15-16 tuổi đang học tại trường Quốc học Huế, Hòang Hữu Nam đã là một trong những người tham gia lãnh đạo đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh, chống lại việc đuổi học Nguyễn Chí Diểu. Do các họat động chống đối thực dân phong kiến, Hòang Hữu Nam bị đuổi học. Sau đó, Hòang Hữu Nam ra Hà Nội làm việc cho nhà in Ngô Từ Hạ và tiếp tục họat động trong phong trào thanh niên học sinh ở thủ đô.

Năm 1929, Hòang Hữu Nam được phân công vào công tác hợp pháp ở Sài Gòn, rồi gia nhập An Nam Cộng sản Đảng. Năm 1930, Hòang Hữu Nam được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, sinh họat cùng chi bộ với Hải Triều và Trần Văn Giàu…

Là đảng viên trẻ, đầy nhiệt huyết, Hòang Hữu Nam được tổ chức tin tưởng, giao nhiệm vụ tham gia lãnh đạo Hội phản đế và Hội học sinh thành phố. Các Hội này xuất bản hai tờ báo: Tân học sinh do Trần Văn Giàu phụ trách và báo Giải phóng do Hòang Hữu Nam đảm nhận. Ngòai ra, Hòang Hữu Nam còn giảng dạy lý luận sơ yêu cho nhiều thanh niên, học sinh.

Tháng 01/1931, Ban chấp hành Trung ương Đảng thông báo cho các tổ chức Đảng trong cả nước cổ động cho các ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, kỷ niệm ngày công xã Paris 18/3. Tháng 02 năm 1931, sau cuộc đình công của công nhân Nhà Bè, Xứ ủy Nam Kỳ chỉ thị cho các chi bộ Sài Gòn hưởng ứng, tham gia phong trào, trong đó có tổ chức biểu tình kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Yên Bái.

Chiều ngày 08.02.1931, cuộc mítting kỷ niệm khởi nghĩa Yên Bái được tổ chức với nội dung kêu gọi liên minh công nông, yêu cầu tăng lương, giảm giờ làm. Ban tổ chức cuộc mít ting có 3 người, đồng chí Hòang Hữu Nam lúc này phụ trách tuyên truyền của Xứ ủy, có bí danh là Quảng, được phân công làm trưởng ban; Lý Tự Trọng (tức Hai) làm nhiệm vụ bảo vệ. Địa điểm mít ting nằm trên đường Larégnere, cạnh một sân bóng đá. Lúc quần chúng xem bóng vừa đổ ra, đứng lại để nghe nói chuyện, nhưng người được phân công phụ trách diễn thuyết vẫn chưa có mặt (sau này mới biết là đã bị bắt), do đó đồng chí Hòang Hữu Nam phải lên thay thế. Cuộc diễn thuyết diễn ra chớp nhóang, vừa kết thúc thì bọn cảnh sát ập đến. Tên Cò Legrand nhảy vào bắt đồng chí Hòang Hữu Nam, lập tức Lý Tự Trọng dùng súng lục bắn liền hai phát, tên Cò Legrand gục xuống.

Trong vụ này, Hòang Hữu Nam, Lý Tự Trọng và một số đồng chí khác bị bọn thực dân bắt gia ở khám Catinat, rồi đưa vào Khám Lớn (Sài Gòn), riêng Lý Tự Trọng bị kết án tử hình.

Ngày 07.5.1933, Hòang Hữu Nam và một số đồng chí bị thực dân Pháp đưa ra xét xử trong vụ án mà chúng gọi là “Vụ án Đảng Cộng sản Đông Dương”. Hòang Hữu Nam bị kết án 20 năm tù và bị đày ra Côn Đảo ngày 13.5.1933. Tại Côn Đảo, đồng chí Hòang Hữu Nam cùng một số đồng chí khác lập ra chi bộ Đảng và có nhiều họat động nhằm giữ vững khí tiết của người Cộng sản.

Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp lên nắm chính quyền ở Pháp, do sức ép đấu tranh của dư luận, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương buộc phải trả tự do cho nhiều tù chính trị, trong đó có Hòang Hữu Nam. Từ Côn Đảo trở về đất liền, đồng chí tham gia các phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ ở quê hương Quảng Nam, Đà Nẵng, nhất là vận động thanh niên, học sinh, đón phái bộ do Gô-da dẫn đầu sang Đông Dương. Ngày 28.02.1937, phái bộ Gô-da đến Đà Nẵng. Nhân dân đã đứng chật ních hai bên đường. Đường bị tắc nghẽn. Gô-da phải đi bộ, đi đến đâu quần chúng theo đến đó, Hòang Hữu Nam đã dịch tất cả tài liệu tố cáo ách thống trị hà khắc của bọn thực dân Pháp ở Việt Nam sang tiếng Pháp và trực tiếp đưa kiến nghị của quần chúng cho phái bộ Gô-da ngay tại Tòa đốc lý Đà Nẵng.

Sau sự kiện này, Hòang Hữu Nam trở lại Hà Nội và sống tại nhà anh ruột là Phan Thanh để họat động và tham gia viết bài cho các báo công khai của Đảng như: Lao động, Tiếng nói của chúng ta, Dân chúng, Tin tức.Hòang Hữu Nam cũng là người trực tiếp chuyển những ý kiến của Đảng cho Phan Thanh trong việc đấu tranh nghị trường (bấy giờ Phan Thanh là dân biểu của Viện dân biểu Trung Kỳ do Đảng Cộng sản Đông Dương đưa vào).

Do các họat động trên, Hòang Hữu Nam bị bọn mật thám đưa vào danh sách những phần tử nổi lọan nguy hiểm ở Bắc Kỳ, cần cưỡng chế lao dịch tại một trung tâm nhất định theo sắc lệnh ngày 21.01.1940. Tháng 5 năm 1940, Hòang Hữu Nam bị thực dân Pháp bắt và đưa đi an trí tại Trại Bắc Mê ( huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang). Đến tháng 11 năm 1941, Hòang Hữu Nam bị đưa về nhà lao Ninh Bình, sau đó cùng 11 người bị đày đi Madagasca (Châu Phi) – nơi từng giam giữ nhiều nhà yêu nước nổi tiếng của Việt Nam như Thành Thái, Duy Tân… Tại đây, Hòang Hữu Nam cùng bạn tù trao đổi về Chủ nghĩa MácLeNin, về duy tâm, duy vật; luôn tin tưởng vào sự thắng lợi cuối cùng của cách mạng Việt Nam và mong muốn ngày trở về Tổ quốc để góp phần giành độc lập cho nước nhà.

Tháng 11 năm 1942, quân Anh chiếm tòan bộ Madagasca, những người theo De Gaulle thay thế chính quyền Petain. Tháng 6 năm 1943, Hòang Hữu Nam được phóng thích khỏi Madagasca và được đưa sang Ấn Độ. Để có cơ hội về nước tham gia họat động cách mạng, được tổ chức Đảng trong nước đồng ý, Hòang Hữu Nam cùng 6 đồng chí khác cùng bị giam ở Madagasca nhận làm tình báo cho Anh. Hòang Hữu Nam và Lê Giản còn bí mật bắt nối liên lạc với Đảng Cộng sản Ấn Độ.

Gần cuối năm 1944, sau khi dự huấn luyện nghề tình báo, Hòang Hữu Nam được quân Anh đưa về Việt Nam. Nhảy dù xuống Cao Bằng, sau một thời gian bắt nói được với cơ sở, đồng chí được đưa về công tác ở cơ quan Trung ương Đảng. Nhóm tình báo được phép liên lạc với người Anh như kế họach ban đầu. Bác Hồ khuyên nhóm tình báo không cần thiết phải đốt dù và căn dặn có bắt liên lạc với Trung tâm chỉ huy ở Can-Cút-Ta(Ấn Độ) để xin thêm vũ khí, điện đài, thuốc chữa bệnh và vẫn công tác khuôn khổ mục tiêu chống phát xít.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Hòang Hữu Nam cùng một số đồng chí khác, trong đó có Phạm Văn Đồng được Bác Hồ phân công ở lại củng cố cơ sở, vì Người biết chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến sẽ xảy ra ở vùng rừng núi này.

Tuy nhiên do tình hình sau Cách mạng tháng Tám diễn biến phức tạp, Hòang Hữu Nam được điều động về Hà Nội làm việc tại Văn phòng Chính phủ, Hòang Hữu Nam là một người năng nổ, thông minh, cẩn thận, thạo nhiều công việc, đặc biệt là công tác tổ chức và công tác Văn phòng. Trong khi đó, Bộ Nội vụ lúc này cần một người có khả năng như đồng chí Hòang Hữu Nam để lo toan mọi công việc nội vụ của Chính phủ. Do đó, đồng chí được giao nhiệm vụ Thứ trưởng Bộ Nội vụ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lúc này Bộ trưởng là đồng chí Võ Nguyên Giáp.

Tháng 01 năm 1946, đồng Hòang Hữu Nam được Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Nam giới thiệu ra ứng cử và trúng vào Quốc hội khóa đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập. Với chính sách đại đòan kết dân tộc, nhiều nhân sĩ, trí thức danh tiếng được mời tham gia vào trong Chính phủ. Cụ Hùynh Thúc Kháng giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, một bộ phận quan trọng trong Chính phủ. Để có người trực tiếp giúp cụ Hùynh trong mọi công việc quan trọng, đồng chí Hòang Hữu Nam tiếp tục được cử làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

Sau khi Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 được ký kết, Hòang Hữu Nam lại được giao nhiệm vụ Trưởng Ban liên kiểm Việt – Pháp. Với những trọng trách đó, đồng chí vinh dự được gần gũi và làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ.

Công việc ngày một nhiều, nhưng được làm việc bên Bác Hồ, được Bác dìu dắt, chỉ đạo; nhờ đức độ, tài năng và sức trẻ, đồng chí Hòang Hữu Nam đã cống hiến được nhiều cho cách mạng, đặc biệt trong thời kỳ đất nước nghìn cân treo sợ tóc”, kẻ thù ngày đêm phá họai thành quả cách mạng của nhân dân ta.

Hòang Hữu Nam đã tham gia đối phó với họat động của Việt quốc và Việt cách, phá vụ án Ôn Như Hầu; đấu tranh với đại diện quân Pháp trong Ban liên kiểm Việt – Pháp. Lúc Bác Hồ sang thăm nước Pháp, cụ Hùynh Thúc Kháng – Bộ trưởng Bộ Nội vụ giữ chức quyền Chủ tịch nước, sau đó, Cụ Hùynh đi kinh lý các tỉnh miền Nam Trung bộ, do đó các công việc quan trọng của Bộ Nội vụ đều do Hòang Hữu Nam xử lý. Chính vì thế, lúc về thăm quê hương vào cuối năm 1946, Cụ Hùynh Thúc Kháng đã nói chuyện với cán bộ và nhân dân tỉnh Quảng Nam “Tôi làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, nhưng chỉ bàn đường lối chung, công tác lớn, còn mọi việc đều do anh Hòang Hữu Nam đảm trách giải quyết. Thanh niên bây giờ giỏi lắm, đó là lực lượng đáng tin cậy của Nhà nước cách mạng”.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, đây là thời điểm gay go, quyết liệt, cực kỳ phức tạp. Để thích ứng với thời chiến, các cơ quan, đơn vị phải tiến hành cuộc đại sơ tán tòan diện. Bác Hồ cùng bộ máy tổng hành dinh chỉ huy kháng chiến rút về chiến khu Việt Bắc. Đồng chí Hòang Hữu Nam phải lo tập trung và hòan thành tốt việc phối hợp chuyển cơ quan Trung ương và Chính phủ ra vùng an tòan, đồng thời tổ chức cho nhân dân tản cư. Đồng chí cũng là có công trong việc quân dân Hà Nội kìm giữ chân địch trong thời gian 2 tháng, bởi đã nhận Chỉ thị trực tiếp của Bác Hồ về cách kìm chân địch ở thủ đô để ta có thời gian sơ tán người, máymóc, thiết bị.

Do hòan cảnh kháng chiến, Quốc hội không có điều kiện tập trung để giải quyết những vấn đề lớn của dân tộc, chỉ có Ban Thường trực Quốc hộ bên cạnh Chính phủ để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Lúc này, vai trò Hội đồng Chính phủ giữ trọng trách như một bộ phận tham mưu chỉ đạo tòan diện cuộc kháng chiến. Đồng chí Hòang Hữu Nam được Bác Hồ trực tiếp giao nhiệm vụ liên quan về họat động của Chính phủ, từ việc tổ chức và chuẩn bị nội dung các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, vấn đề cán bộ, chuẩn bị cho các chuyển công tác của Người…

Đáng lưu ý, ngòai những lần làm việc và giao nhiệm vụ trực tiếp, từ ngày 23.12.1946 đến ngày 9.4.1947, Bác Hồ đã viết gần 70 lá thư, Chỉ thị, có ngày 2-3 lá gửi cho Hòang Hữu Nam mà các cơ quan lưu trữ còn giữ được. Nội dung những lá thư yêu cầu giải quyết những việc quan trọng, cấp bách. Những Chỉ thị của Bác đều liên quan đến các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngọai giao… Có thư “rất mật”, “tối mật”, có thư “tối khẩn”, Bác yêu cầu đọc xong đốt ngay. Chỉ trong sáng ngày 06.01.1947, Bác hai lần gửi Chỉ thị cho đồng chí về việc giúp bà con Hoa Kiều ở tỉnh Quảng Ninh tản cư, tuyên truyền, động viên dân chúng tham gia kháng chiến và nhắc những vấn đề cụ thể của công tác tổ chức; sau đó, chuẩn bị chu đáo để đón tiếp các nhà báo quốc tế. Thư đề ngày 15.01.1947, Bác giao việc: “ \Chuẩn bị cho cuộc họp Hội đồng Chính phủ; việc các hội thảo sắc lệnh và lưu ý trong các văn bản nên viết ngắn gọn, dễ hiểu, không dùng tiếng Tây”. Trưa ngày 21.01.1947 (tức 30 Tết Đinh Hợi), Bác viết thư yêu cầu: Xử lý ngay, bắt làm án các cán bộ ngành Công an ăn tiền của dân”. Bên cạnh những việc lớn của Đảng và đất nước, Bác còn chỉ thị giải quyết những việc rất cụ thể như những vụ khiếu tố của nhân dân cần điều tra chính xác, hay việc phải có thái độ tốt với nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi.

Thư đề ngày 09.4.1047, Người thông báo cho Hòang Hữu Nam biết quân địch chuẩn bị tấn công và chỉ thị: “Nhân viên và tài liệu Chính phủ phải rời ngay vào nơi an tòan. Lúc rời phải bí mật, chỉ một số người rất ít, rất cần thiết ở lại, nhưng cũng phải chuẩn bị sẵn sàng”.

Qua những bức thư Bác Hồ trao đổi công việc, có thể hiểu Hòang Hữu Nam là người giúp việc gần gũi của Bác, được Bác rất tin cậy, đúng như những dòng Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến ghi lại trong Nhật ký một Bộ trưởng: “Nam – một nhân tài xuất sắc, hứa hẹn rất nhiều cho xứ sở”.

Ngày 24.4.1947, trên đường đi công tác, Hòang Hữu Nam không may bị tai nạn và mất trên sông Lô, hưởng dương 37 tuổi, Bộ trưởng Lê Văn Hiến đã ghi trong nhật ký của mình: “Tin này sẽ làm cho Hồ Chủ tịch phiền lòng”. Cuộc họp Hội đồng Chính phủ ngày 30.4.1947, đã tổ chức tưởng niệm Hòang Hữu Nam và cụ Hùynh Thúc Kháng (từ trần trước đó 3 ngày, tức 21.4.1947). Trong tập nhật ký của một Bộ trưởng, Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại việc này như sau: “… Hội đồng hôm nay có hai tin buồn: cái chết của cụ Hùynh và Nam. Cụ ( tức Bác Hồ) nói qua lịch sử chiến đấu của hai chiến sĩ trong Chính phủ sau khi tất cả đều mặc niệm một phút. Mọi người đều cảm động trước cái chết đau thương của hai người trong lúc quốc dân đang cần nhân tài để đảm đương việc nước. Cụ Chủ tịch nói với một giọng rất đau đớn như mất một người anh và một người con vậy”.

Sau khi Hòang Hữu Nam mất, mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng Bác Hồ luôn nghĩ đến gia đình Hòang Hữu Nam. Tháng 4 năm 1948, nhân một năm ngày mất của Hòang Hữu Nam, Bác Hồ đã gửi thư cho gia đình Hòang Hữu Nam và theo chỉ thị của Bác, Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến đã giúp vợ Hòang Hữu Nam một số tiền để chi tiêu hàng ngày.

Trong đời thường, Hòang Hữu Nam là một người họat bát, nhanh nhẹn, hòa nhã, tác phong làm việc chính quy, nghiêm túc, có sức thu hút mọi người chung quanh. Đánh giá về đồng chí, nhiều đồng chí, bạn bè đã thổ lộ những tình cảm chân thật nhất. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi nhớ về đồng chí của mình, đã viết:

Anh Phan Bôi – Hòang Hữu Nam đối với tôi là bạn đồng học và bạn đấu tranh cách mạng ngay từ thời niên thiếu tại trường Quốc học Huế,

… Anh Hòang Hữu Nam là một cán bộ tốt của Đảng, có tinh thần hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, lại có tài năng, gần gũi với bạn bè, đòan kết với đồng chí.

Anh ra đi đột ngột, để lại lòng tiếc thương vô hạn với chúng tôi”.

Người bạn đời của Hòang Hữu Nam là bà Trịnh Thị Tuyến, nguyên là vợ một người đồng chí họat động với nhau từ năm 1930 và cùng bị đày ra Côn Đảo. Trong chuyến vượt ngục về đất liền, đồng chí đó có dặn lại với Hòang Hữu Nam nếu mình có mệnh hệ gì thì sẽ thay mặt ông chăm sóc vợ con. Đồng chí đã đã hy sinh trên đường vượt ngục. Theo lời nguyện đó, đồng chí Hòang Hữu Nam khi trở về đất liền đã đến tìm bà Tuyến và kết hôn với nhau. Bà Tuyến là một trong 5 người phụ nữ Việt Nam đầu tiên tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.

Có thể nói, đồng chí Hòang Hữu Nam là một cán bộ, một chiến sĩ Cộng sản hết lòng vì nước, vì dân, một người giúp việc đắc lực cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí mất đi đã để lại muôn vàn tình thương yêu cho gia đình và đồng đội, Đảng mất đi một tài năng đức độ, một cán bộ tận trung với nước, tận hiếu với dân./.

1. Nhan Thu bi mat 2. Chi 3 ngay 2 LD Bo CA chet bi an 1

Đã xem 7 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments