Bài 2. Tưởng Dân Bảo chủ trì đón tù côn Đảo.

(Người đón tù thật thì bị chết bí hiểm cả 2 vợ chồng – và bọn quỷ kể láo!)

Sau đây là bản tự thuật của đồng chí Lý Văn Chương (đã ghi âm và đã đánh máy thành 7 bản) tại Viện Bảo tàng Cách mạng Hà Nội.”

            Nhận xét: Có tin được không?

            Tài liệu nghiên cứu.

            Cựu tù Tưởng Dân Bảo (ST: Nguyễn Thọ Chân)

http://tucondao3045.blogspot.com/2011/06/cu-tu-tuong-dan-bao-st-nguyen-tho-chan.html

Tưởng Dân Bảo (tức Võ Văn Tính) sinh 1907 tại Hà Đông, mất 1947.

Bị giam ở Côn Đảo từ 1929-1936.

Tháng 9-1945 ông được Xứ ủy Nam Kỳ, Chính quyển cách mạng giao nhiệm vụ đưa tàu ra Côn Đảo đón tù chính trị.

Trong kháng chiến là bí thư Tỉnh ủy Châu Đốc, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Châu Đốc, Thanh tra chính tri miền Tây Nam Bộ.

Tháng 10-1946 ông bị kẻ thù bắt, 11-1946 ông được tổ chức vượt ngục về Chiến khu 7, được Khu trưởng Nguyễn Bình và đồng đội chăm sóc, song do bị quân thù tra tấn dã man, ông mất vào 8-1947.

Hiện ông còn con gái Tưởng Thị An, nguyên giáo viên toán trú tại xã Tân Quy Đông, Nhà Bè, tp Hồ Chí Minh.

Hồi ký của Trần Văn Giàu

http://www.gocong.com/forums/forum_posts.asp?TID=7790

Sau đây là bản tự thuật của đồng chí Lý Văn Chương (đã ghi âm và đã đánh máy thành 7 bản) tại Viện Bảo tàng Cách mạng Hà Nội.

Nhắc lại rằng chiều tối ngày 25 tháng 8, khi cuộc biểu tình vũ trang một triệu người đã giải tán thì Xứ uỷ họp kiểm điểm ngày khởi nghĩa và đề ra những nhiệm vụ cần kíp; tôi, chính tôi yêu cầu Xứ uỷ và Uỷ ban ra quyết định cử người đem tàu, ghe rước anh em ta còn ở ngoài Côn Đảo. Riêng tôi ký ngay lệnh lấy chiếc tàu De Lanessan để làm ngay việc đón rước cho mau chóng nhất. Một ban chuyên trách được thành lập ngay gồm ba người: Đào Duy Kỳ (nguyên Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ), Nguyễn Công Trung (viết báo Dân Chúng) và Tưởng Dân Bảo (người đã từng ở Côn Lôn). Ban này giao cho Lý Văn Chương thực hiện kế hoạch đi rước. Anh Lý Văn Chương bác bỏ kế hoạch mướn tàu Hải Nam ở Rạch Giá; anh là người Gò Công, chủ một cái tiệm máy móc phụ tùng ở đại lộ De La Somme. Mặt xương xẩu, nói lấp vấp mà tính tình chân thật, thương anh em; quen biết tất cả anh em thủ thuỷ và hoa tiêu Sài Gòn.

Bản tự thuật của Lý Văn Chương (bản gốc còn ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội) kể (nguyên văn):

Việc thi hành nhiệm vụ mà Uỷ ban Ủng hộ Chính trị phạm (chủ tịch Đào Duy Kỳ; uỷ viên: Nguyễn Công Trung và Tưởng Dân Bảo) giao cho tôi tổ chức đoàn ghe biển (ghe đánh cá) đi rước những nhà chính trị bị đế quốc Pháp cầm tù ở Côn Đảo.

(Tôi được mời đến để tự thuật, ngày 23 tháng 9 năm 1965, tại Viện Bảo tàng Cách mạng).

Vào lúc 14 giờ ngày 3 tháng 9 năm 1945, anh Ngô Văn Chương (Sài Gòn), vóc người to lớn, chạy vô tiệm tôi, hơ hãi nói: “Anh Năm, chính phủ mình lấy chiếc tàu De Lanessan giao cho anh em công nhân và các anh Hoá, Trúc (hoa tiêu) lo sửa chữa để ra Côn Đảo rước chính trị phạm nhưng bọn Việt gian cho bọn Pháp hay, Pháp mách (cho Anh, Anh lệnh cho) Nhật Bổn tịch thu chiếc tàu ấy; lấy đâu mà đi rước các nhà chính trị ngoài đó?

Do không có phương tiện đi Côn Đảo liền trong ngày chiếc tàu De Lanessan bị tịch thu, nên Uỷ ban Ủng hộ Chính trị phạm phân công anh Ngô Văn Chương tức tốc xuống tỉnh Rạch Giá tìm mướn tàu Hải Nam, loại tàu chạy buồm của người Trung Quốc thường tới buôn bán ở nơi đó.

Phần tôi cố theo dõi tình hình cũng biết một số tin tức ngoài Côn Đảo từ năm 1940/1941 tới nay là 1945, bọn Pháp giết chóc hơn phân nửa số người chính trị nó đưa ra ngoài đó. Tôi xét thấy anh Tư Ngô Văn Chương xuống Rạch Giá khó tìm loại tàu Hải Nam được (thỉnh thoảng mới có một, hai chiếc ghé đó để bán và mua hàng). Tôi biết là vì tôi là người mua bán khắp các tỉnh, nắm được tình hình buôn bán khắp nơi.

Để giải quyết vấn đề này, tôi nhận thấy chỉ có những loại ghe biển mũi đỏ nhọn, đánh cá, như loại ghe ở ấp Vàm Láng, xã Kiến Phước, tỉnh Gò Công mới có khả năng đảm bảo; ghe mũi nhọn, nhỏng cao lên, đít thì bầu, sóng lớn đánh vào mũi, nó cứ lách mình chạy tới, nó đã được nhiều lần thử thách; gặp gió lớn hay bị bão trôi đi có khi tận đến Phi Luật Tân, Nam Dương, Xiêm La, mà còn trở về được. Từ đất liền đến Côn Lôn đường xa có hơn 120 km đường chim bay, vả lại lúc ấy có chút ít gió nồm nam vào buổi chiều, khi trở về thì xuôi buồm, như thế sử dụng loại ghe biển đó rất thuận lợi.

Đến 19 giờ ngày 3 tháng 9 năm 1945, tôi kêu dây nói báo cho anh Đào Duy Kỳ, nói những ý kiến của tôi, anh Kỳ lúc ấy là chủ bút tờ báo Dân Chúng ở tại đường Lagrandière 1lại là Chủ tịch Uỷ ban Ủng hộ Chính trị phạm.

Trong hai ngày 4 và 5 anh Đào Duy Kỳ giao cho anh Tưởng Dân Bảo tìm hiểu tôi và thăm dò những ý kiến của tôi đề ra, xem tôi có tích cực, thành thật trong công tác này hay không… Đến ngày 6 tháng 9, các anh Kỳ, Trung, Bảo nói cho tôi biết là Đảng đã chấp thuận ý kiến chương trình của tôi đề ra và tôi được phân công đi Gò Công bằng một chiếc xe hơi gazogène.

Đi vào lúc 9 giờ 30 sáng 6 tháng 9, xe chạy một hơi tới Gò Công; rồi đi luôn xuống nhà quen ở xã Kiến Phước, nhờ anh Nguyễn Văn Kiết xã trưởng đi cùng anh Huỳnh Văn Lúa, với chúng tôi đến Vàm Láng, triệu tập các chủ ghe biển với một số thuỷ thủ tại ấp Vàm Láng – ngày ấy nhằm ngày trời gió nam, biển động, ghe biển đậu tại bến.

Anh Tưởng Dân Bảo trình bày lý do, chúng tôi động viên khuyến khích các chủ ghe và anh em thuỷ thủ đóng góp sức lực cho sự giải thoát chính trị phạm. Lúc đầu các chủ phương tiện dùng dằng viện lý do này lý do khác; nhưng anh em thủy thủ và những tài công (coi lái ghe) đồng tình cương quyết ra đi, cho nên các chủ ghe cũng thuận theo. Kết quả, tổ chức được 50 chiếc ghe biển loại lớn, mỗi chiếc chở được ít nữa 100 người. Phải cho mỗi chiếc ghe mượn từ một trăm đồng trở lên để mua thêm dây neo, buồm và dụng cụ đi biển…

Cách đi ra Côn Đảo trong mùa gió này (là) đi trong sông, ra cửa Cồn Lợi tỉnh Trà Vinh hay ra cửa Định An tỉnh Sóc Trăng, từ đó bắt đầu chạy buồm thì mau hơn, còn nếu bắt đầu từ Vàm Láng thì sẽ bị gió thổi tắp và khó chạy, chạy chậm mất thêm ngày giờ.

Tổ chức, bố trí xong xuôi; anh Lúa, anh Kiết chịu trách nhiệm theo dõi tình hình đoàn ghe biển trong lúc chuẩn bị, sửa chữa neo buồm. Nên chúng tôi trở về Sài Gòn vào lúc 15 giờ ngày 6 tháng 9. Lúc xe chạy ngang nhà, con tôi tên là Toàn mới bốn tuổi chơi trước cửa ngõ, tôi thấy con mà cũng đành để xe chạy luôn, vì đường vô nhà ba mươi thước, không để mất thì giờ ghé thăm cha mẹ và con tôi được. Lo việc cho xong sẽ về thăm, muộn gì. Nhưng, từ đó tới nay tôi đi luôn, hơn hai mươi năm, cha mẹ tôi chết hết, tôi không gặp mặt.

Chúng tôi ghé thị xã Gò Công, ghé Uỷ ban Nhân dân Tỉnh, yêu cầu Chủ tịch Nguyễn Côn cho mượn 6.000 đồng để phân phát cho các chủ ghe mượn.

Trở về báo cáo với anh Kỳ, Trung, tôi yêu cầu có tàu dắt đoàn ghe biển theo sông Cồn Lợi cho mau. Tìm được chiếc tàu Rodier, nhưng máy nó yếu, nó kéo không hết đoàn ghe, cần thêm một chiếc nữa. Tôi đến văn phòng cảng Sài Gòn, xin lấy cho một chiếc tàu kéo. Lúc ấy, anh Lý Văn Sâm giám đốc cảng Sài Gòn – Chợ Lớn, anh Sâm là anh ruột tôi, ảnh nói: “Phải có ý kiến và xin giấy phép chính phủ, không nên cảm tình cá nhân anh em”. Tôi báo cáo với anh Đào Duy Kỳ xin lấy chiếc tàu kéo của cảng. Anh Kỳ đến Uỷ ban Nam Bộ, anh Trần Văn Giàu ký giấy cho phép và tôi đến cảng nhận chiếc tàu kéo Remorqueur R.4.

Lúc ấy, gặp những anh em công nhân lo sửa chữa chiếc tàu Phú Quốc để chạy ra Côn Đảo. Vì chiều ngày 5 hay là sáng ngày 6 tháng 9 năm 1945, anh Trần Văn Giàu (đã) ký giấy lấy chiếc Phú Quốc. Tôi động viên anh em sửa chữa nhanh để đi một đoàn cho có bạn.

Ngày 11 tháng 9, vào lúc 19 giờ, anh Đào Duy Kỳ triệu tập tại nhà báo Dân Chúng một cuộc họp để phân công. Tôi chịu trách nhiệm chỉ huy đoàn ghe đi Côn Đảo với danh nghĩa là một uỷ viên Uỷ ban Ủng hộ Chính trị phạm, có giấy giới thiệu và giấy chứng nhận của Ủy ban. Trong cuộc họp này, có tên Tỵ ra ngăn cản với lý do là đoàn ghe biển này đi rước các nhà chính trị phạm không bảo đảm an toàn; nếu có chìm ghe chết người thì vợ con họ kiện chính phủ; cần phải có đủ tàu đi rước mới được. Tôi cam đoan, bảo đảm giữa hội nghị và xin hoàn toàn chịu trách nhiệm: hội nghị tán thành. Tên Tỵ nó biết chính phủ mới thành lập, không có tàu. Tên Tỵ theo tàu Phú Quốc đi với một số người và một phụ nữ ra Côn Đảo. Ra Côn Đảo nó lên diễn đàn, nói chưa chắc độc lập. Sau nó trở về Sóc Trăng, gạt anh chủ tịch Dương Kỳ Hiệp, lấy 50.000 đồng để mua súng… (sau tôi báo cáo cho anh Nguyễn Văn Tây cái tên Tỵ khả nghi này. Quả nó là gián điệp theo phá hoại cuộc đi Côn Đảo rước chính trị phạm. Tỵ bị bắt).

12-9-1945, Nguyễn Công Trung giao cho tôi 2.000 đồng. Tôi lấy thêm tiền nhà 5.000 đồng. Chỉ một mình anh Lý Văn Sâm biết tôi đi làm gì. Vợ tôi về Gò Công. Cửa tiệm của tôi đã nghỉ buôn bán năm tháng nay để tôi lo công tác. Đến cảng Sài Gòn, tại cột cờ Thủ Ngữ, trình giấy tờ, anh Đức giao cho tôi chiếc R.4 đã có chuẩn bị chu đáo theo lệnh anh Sâm.

14 giờ ngày 12-9, thì R.4 bắt đầu mở máy chạy một mạch đến Kinh Nước Mặn vào lúc 22 giờ ngày ấy. Chiếc Rodier cũng tập trung với đoàn ghe biển. R.4 kéo một đoàn 20 chiếc ghe biển; Rodier kéo 12 chiếc… Chạy đến thị xã Mỹ Tho lúc 18 giờ; đậu lại mua thêm củi cho R.4 chụm lò; đậu cách chợ một cây số sợ anh em thuỷ thủ lên chơi, tập trung lại chậm trễ… Đến quận Trà Ôn vào lúc 4 giờ sáng ngày 15 tháng 9, mua hột vịt, muối, cá khô, gạo, nước ngọt cho mỗi ghe; mua củi cho R.4 trở về Sài Gòn. Còn Rodier chạy đến Đại Ngãi (Sóc Trăng) đậu lại đó chờ đoàn ghe trở về…

Khi đó hàng trăm Thanh niên Tiền phong cầm tầm vông đến tra xét, vì vừa qua Hoà Hảo dậy muốn giành chính quyền ở Hậu Giang; họ bị ta bắt cũng nhiều; anh em Thanh niên Tiền phong có nhiệm vụ tuần tiễu, canh gác nghiêm ngặt, họ sợ đoàn ghe lạ đến giải thoát dân phiến loạn, còn Hoà Hảo nghe tin có đoàn ghe lạ tới, ngỡ là ghe đến chở họ đi, la ó om. Rốt cuộc Thanh niên Tiền phong và nhà chức trách địa phương biết là đoàn chúng tôi đi Côn Đảo đưa chính trị phạm về.

Bản thân tôi, cùng thuyền viên thuỷ thủ trong đoàn ghe hơn 200 người, không một ai biết Côn Đảo. Phải nhờ đồng bào giúp đỡ, ở đây ngư dân thường đánh cá về hướng Côn Đảo nên rõ đường đi; phải nhờ họ giúp.

Chương trình lúc ra đi, có bàn là, tình hình chính trị yên tĩnh thì rước chính trị phạm về thẳng Sài Gòn; không êm thì về Mỹ Tho.

5 giờ sáng ngày 6-9-1945, tôi cho đoàn ghe ra cửa Bảy Xào, theo hướng Côn Đảo mà chạy. Trên đầu cột buồm ghe tôi, có treo một cái khăn bông tắm để làm beo cho các ghe sau thấy, để khỏi lạc. Quá 10 giờ nổi lên một trận giông rất lớn. Các ghe phải lăn buồm thả trôi theo lượn sóng mà chịu. Chiếc ghe mà tôi ngồi là chiếc ghe số 3, chở 9 người thì 3 người nằm mê man, ba người chịu trách nhiệm trước mũi, khi lăn buồm xong cũng bị say sóng, chỉ còn ông lái ghe, ông tát nước và tôi ngồi gần lái mà chịu trận. Sóng đánh trước mũi ra tận sau lái, chiếc trước chạy cách chiếc sau 100 thước mà không thấy cột buồm nhau. Sóng to, gió lớn, mưa nhiều. Lúc ấy, ông lái ghe đòi quay ghe xuôi sóng trở lại sau sẽ trở ra; tôi không đồng ý, cương quyết tiếp tục đi tới, nên giữ gối đầu sóng không cho ghe trôi vào, để làm gương và dẫn đường cho các ghe sau (ghe tôi ngồi là ghe chỉ huy). Chịu đựng gió to, sóng lớn, mưa nhiều như thế suốt hai giờ rưỡi thì gió mới dịu bớt.

Trong trận giông lớn này, tôi nghĩ mười phần chỉ có một phần sống nhưng vì tôi nhận nhiệm vụ và vì tôi thương các nhà chính trị bị đày đoạ ngoài Côn Đảo, nên tôi thà chết, không nghe lời ông lái quay ghe trở lại. Trận giông này làm xiêu bạt hết 9 chiếc ghe và một thuỷ thủ tên là Thủ, còn tuổi thanh niên, làm nhiệm vụ lăn buồm, bị cánh buồm gạt anh sút tay rơi xuống biển mất tích. Trong số ghe trở lại, có một chiếc xiêu bạt đến cù lao Nam Sa, sau sửa chữa trở về được, trong tàu có một thanh niên người Trung Quốc tên là Thang Bửu Minh ở Chợ Lớn, cũng theo ra đón chính trị phạm người Trung Quốc. Một số ghe trở lại Cồn Nóc núp gió trong ba ngày sau mới ra được; tất cả trước sau 25 chiếc, chỉ lạc 7 chiếc.

Khi gió êm, lại bắt đầu chạy… đến 15 giờ thấy trước mặt hình dáng Côn Đảo. 19 giờ ngày 16-9-1945, mới đến bãi Cỏ Ong.

Sáng ngày 17, nhờ anh em trên Côn Đảo đưa chúng tôi leo qua ba hòn núi mới tới trung tâm của đảo, thì lúc đó cũng vừa xong lễ tiếp rước phái đoàn chính phủ – chiếc tàu Phú Quốc của anh Tưởng Dân Bảo đã tới trước

Đến nửa đêm ngày 22, rạng 23 tháng 9, các nhà cựu chính trị phạm xuống tàu, ghe để về đất liền. Kéo buồm vào lúc 3 giờ sáng. Chiếc ghe tôi, ghe số 3, có nhiệm vụ đi hậu vệ, nó chạy nhanh; nếu có chiếc này chạy chậm tôi cho ghe số 3 quay lại đôn đốc, chiếc nào chạy rời rạc thì làm dấu hiệu cho nó đi theo, không cho đi xa đoàn (vì lúc đó còn nghe nói có hai tàu lặn của Pháp quanh quẩn ở Côn Đảo, nên tôi đề phòng sợ có điều xảy ra không hay).

Khi đến Cồn Nóc vào 20 giờ thì nghe tin Pháp đã chiếm Sài Gòn. Nên đoàn ghe chạy về Đại Ngãi, Sóc Trăng. Năm giờ sáng ngày 24 tháng 9 năm 1945, vào bến đậu lại. Các nhà chính trị lên xe hơi về tỉnh. Chiếc Phú Quốc chạy ra thêm một chuyến nữa, có anh Văn Cừ (Cần Thơ) đi theo để chở anh em còn lại

Đoàn ghe biển Vàm Láng làm xong nhiệm vụ trở về nơi xuất phát.

Khi ấy Nam Bộ kháng chiến vừa bắt đầu”.

Cuộc tường thuật ghi âm của Lý Văn Chương ở Viện Bảo tàng Cách mạng Hà Nội có phóng viên các báo, có các uỷ viên hội đồng khoa học của viện, có nhiều học viên các tỉnh học trường Nguyễn Ái Quốc, có một số đồng chí Nam Bộ như chị Mười Thập, chị Sáu Ngãi… chứng kiến.

Vai trò của các đồng chí ở Côn Đảo về rất quan trọng, hết sức lớn lao trong kháng chiến chống Pháp thì người chép sử sẽ càng đánh giá cao sáng kiến và công trạng của đồng chí Lý Văn Chương trong việc đi rước chính trị phạm tháng 9 năm 1945.

Ấy, tình đời như thế ấy. Đề nghị đi rước anh em Côn Đảo là tôi, tôi là người đầu tiên đưa ra (với lý do lịch sử cụ thể); lẽ cố nhiên là nếu tôi không đề ra trước thì cũng có người đề ra sau, ký liên tiếp bốn cái giấy trưng dụng tàu Lanessan, tàu Phú Quốc, tàu Rodier và R.4, là tôi. Vậy mà xậm xì, xậm xịt rằng tôi, Trần Văn Giàu, không chịu rước anh em Côn Đảo “sợ họ giành quyền”! Anh Trọng (Đẹt) nguyên tỉnh uỷ viên Mỹ Tho, nguyên Xứ uỷ viên năm 1940, có lần nói với tôi là ở Côn Lôn về anh đã nghe tụi Sáu Vi (Biện Vi) nói như vậy, anh Trọng hoài nghi có sai trái, vì ở Côn Đảo đồng chí Tưởng Dân Bảo thay mặt chính quyền cách mạng ra rước anh em về, và về tới Mỹ Tho thì Dương Khuy – bí thư tỉnh uỷ, một người của chúng tôi vượt ngục Tà Lài 1941 – rước Trọng, Khuy lúc đó ở cơ quan gần cầu Quây, còn Sáu Vi thì ở mút trong làng Long Hưng. Nhóm Giải Phóng của tụi Sáu Vi, Ba Dự vu cáo thô bỉ quá, ác quá. Vậy mà cũng lắm người lớn nghe! Mãi đến 1965, sau vụ “nổ” ở trường Nguyễn Ái Quốc mới gọi là tạm “hết”, nói cho đúng là “tạm êm”, thì nạn nhân như tôi đã mềm xương rồi, còn gì? Tôi tự an ủi: Vẫn còn may hơn bị vu cáo mà đã chết rồi; chết là thua! Còn tôi thì chưa chết. Chưa chết thì có ngày cải chánh. Nên nói thêm chăng là anh Lý Văn Chương, già, chết ở Chợ Lớn, linh cữu đưa về Gò Công, hôm đó tôi có đi đưa mà không có mấy ai ở Côn Lôn đã được Chương rước về đất liền. Buồn thay! Khi ấy hội cựu tù nhân chưa được tổ chức. Hôm đưa linh cữu Lý Văn Chương về chôn ở quê nhà Gò Công, tôi sống lại câu chuyện tình cảm anh đã ghi khi nhắc lại việc tổ chức đoàn ghe đi rước tù Côn Đảo. Xe hơi anh đi Vàm Láng mướn được ghe biển rồi, anh tức tốc về Sài Gòn, xe hơi chạy qua trước cửa nhà cách lộ vài chục thước, anh thấy đứa con nhỏ chạy ra đón anh, anh chỉ xuống xe vò đầu con mà không vô nhà sợ đi về Sài Gòn trễ việc lấy tàu kéo ghe đi làm nhiệm vụ rước tù chính trị. Người có trách nhiệm quá!

Nguyễn Công Trung

Trên Google không thấy!

Tưởng Dân Bảo

Lý Văn Chương

Trên Google không thấy!

Tưởng Huấn Hải,

Trên Google không thấy!

Ngô Văn Chương

Trên Google không thấy!

Sáu Vi, Ba Dự

Trên Google không thấy!

Dương Khuy (1910 – 1945)

http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=217&Itemid=56

Sinh năm 1910 trong một gia đình nông dân ở làng Mỹ Long, quận Ba Tri, thuộc xã Lương Quới, tỉnh Bến Tre….Năm 1925, anh tham gia vào hội Thanh niên cao vọng do Nguyễn An Ninh đề xướng.

   Tháng 4-1932, Dương Khuy được kết nạp vào ĐCSĐD tại chi bộ Tân Xuân, quận Ba Tri, được phân công phụ trách các xã Lương Quới, Bình Hòa, Bình Thành. Năm 1933, bị bắt…   Năm 1936, sau khi mãn hạn tù giam, Dương Khuy không thể về lại quê Bến Tre, vì bản án 10 năm biệt xứ, nên đã cùng với người bạn tù là Đặng Văn Hiệp về xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho. Tại đây, ông đã bắt được liên lạc và tổ chức Đảng ở địa phương và tiếp tục hoạt động cách mạng ở vùng Châu Thành, Chợ Gạo.

  …Năm 1940, ông bị bắt trở lại trước khi cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (23-11-1940), bị đưa đi an trí ở Tà Lài. Đầu năm 1941, cùng với 4 đồng chí khác, Dương Khuy tổ chức vượt ngục, về làng Thới Thuận – một vùng tương đối hẻo lánh của huyện An Hóa, lúc bấy giờ thuộc tỉnh Mỹ Tho – tiếp tục hoạt động.

  Đầu năm 1943, khi Ban cán sự Tỉnh ủy Mỹ Tho được thành lập, Dương Khuy được cử làm Bí thư. Trong cuộc họp tại một địa điểm ở Mỹ Tho do Trần Văn Giàu chủ trì để thành lập Xứ ủy lâm thời Nam Kỳ, Dương Khuy được cử làm Xứ ủy viên cùng với Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Nguyễn, phụ trách các tỉnh Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Bến Tre.

   Cùng với Ban cán sự Tỉnh ủy Mỹ Tho, đồng chí đã lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền thắng lợi. Tháng 9-1946, trong lúc đang đi truyền đạt nghị quyết của Tỉnh ủy Mỹ Tho ở huyện Chợ Gạo thì bị địch bắt tại xã Tân Bình Thành. Do có tên chỉ điểm, giặc Pháp biết Dương Khuy là cán bộ lãnh đạo của tỉnh, nên dùng mọi thủ đoạn vừa dụ dỗ mua chuộc vừa tra tấn dã man, nhưng chúng không khuất phục được đồng chí, trước sau vẫn nhận mình là Trần Văn Khá như trong giấy tờ tùy thân. Tỉnh ủy Mỹ Tho đã tìm cách giải thoát đồng chí, nhưng không thành công.

   Biết không khuất phục được đồng chí, chúng đã đem bắn đồng chí tại xã Thanh Bình.

Nguyễn văn Nguyễn (1910 – 1953)

http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=240&Itemid=47

  Nguyễn Văn Nguyễn sinh ngày 15-3-1910 tại huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang).

  … Năm 20 tuổi, được kết nạp vào ĐCSĐD. Ngày 13-7-1930, Nguyễn bị bắt giam, nhưng vì không đủ chứng cứ để buộc tội, nên chỉ bị 3 tháng tù án treo.

…   Ngày 19-7-1937, bị bắt giam cùng Nguyễn An Ninh, bị kết án 2 năm tù giam và 5 năm biệt xứ. Cho đến đầu tháng 9-1939, cả hai được phóng thích. Nhưng ra khỏi tù chưa đầy một tháng thì bọn mật thám bắt lại và lần này, chúng đày ông ra Côn Lôn.

   Cuối năm 1944, địch có chủ trương đưa một số tù từ Côn Lôn về Bà Rá, trong số đó có ông. Sau cuộc đảo chính của phát xít Nhật (9-3-1945), tình thế cách mạng có nhiều biến chuyển sôi sục, ông cùng với một số đồng chí vượt ngục về Sài Gòn, tham gia việc chuẩn bị cướp chính quyền.

   Sau CMT8-1945, Nguyễn Văn Nguyễn là Ủy viên XUNK, được bầu làm đại biểu Quốc hội tỉnh Mỹ Tho, khóa đầu tiên của nước VNDCCH.

   …   Năm 1953, có quyết định của TƯĐCS điều động ông ra Bắc để nhận công tác mới, trong lúc cuộc kháng chiến đang hồi phát triển thắng lợi. Trên đường đi, khi ra đến Bình Định, thì bị sốt thương hàn. Căn bệnh hiểm nghèo đã cướp mất ông ngày 25-3-1953, giữa lúc cách mạng đang chuyển vào thời kỳ tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công.

   Hai mươi ngày sau, khi ông qua đời, báo Nhân dân miền Nam số ra ngày 20-4-1953, đã dành một trang báo đưa tin và tiểu sử, tỏ lòng thương tiếc một tài năng lớn đã mất, trong đó có nhận định: “Đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn là một chiến sĩ cốt cán, một nhà viết báo có tài, nhà văn nghệ nhân dân”.

   Để tưởng nhớ công lao suốt đời hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, ngày 30-4-1975, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh truy tặng ông Huân chương Độc lập hạng nhất.

Cựu tù nhân Mai Đắc Bân

http://tucondao3045.blogspot.com/2011/06/cuu-tu-nhan-mai-ac-ban.html

Mai Đắc Bân:  Sinh 1903 tại huyện Bình Lục ,tỉnh Hà Nam, mất 1991 tại Hà Nội.
Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, năm 1926 thamgia phong trào chống Pháp ,gia nhập Việt Nam quốc dân Đảng,tham gia vận chuyểnvủ khí chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Sau khởi nghĩa Yên Bái ,thực dân Pháp tiếnhành đàn áp  Quốc dân Đảng, ông bị bắt ,kết án khổ sai chung thânbị giam ở nhà tù Hoả Lò Hà Nội, Nhà tù Sơn La.Trong tù ông được tiếp xúc với cáctù chính trị công sản như Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng , Hoàng Đình Giong, ĐặngViệt châu,Văn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Trân…Ông tiếp nhận cương lĩng đấu tranh củaĐảng công sản,tự ly khai khỏi tổ chức Quốc dân Đảng. Năm 1939 tổ chức Đảng tạiNhà tù Sơn La kết nạp ông vào Đảng cộng sản Đông Dương.

Năm 1942 ông bị đưa ra giam tại Côn Đảo. Tại đây ônggắn bó với các tù chính trị như Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, NguyễnThọ Chân, Trần Xuân Độ, Phan TrọngTuệ, Mai Chí Thọ…Tháng 9-1945 ông cùng toànthể tù chính trị được  Xứ ủy,chính quyền cách mạng cử ông Tưởng Dân Bảo  đưa tàuthủy ra Côn Đảo  đón về đất liền ,tham gia kháng chiến chống Pháp.
Trong thời gian  đầu  kháng chiến ông phụ trách công táctiếp tế của Khu 9( tây Nam Bộ),côngbtác tiếp tế của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ.1950ông được điều động ra Bắc, làm Trưởng ban tiếp tế Khu III, Chính trị viên bệnhviện Khu III.  Năm 1954 Giám đốc khu điều dưỡng Khu III, 1955 Chính trị viên bệnhviện Việt Đức Hà Nôi.1957 Trưởng phòng y tê Nhà máy dệt Nam Định, 1961 Được điềuđộng về văn phòng Trung ương Đảng,  nhận nhiệm vụ Trưởng phòng sinh hoạt.Ông côngtác tại Văn phòng Trung ương  Đảng đến lúc nghỉ hưu vào 1971. Do những đóng gópcủa ông cho   sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,bào vệ,xây dựng đất nước,ông được Nhà Nước tặng thưởng huân chương Độ lập hạng II.
Cuộc đời ông  đấu tranh cách mạng của ông , phải chịu đựng15 năm  bị giam cầm trong nhà tù đế quốc,trong đó có 4 năm tại Côn Đảo,những nămtháng khốc liệt đó đã tôi luyện ông thành một con người gang thép, tuyệt đốitrung thành với lý tưởng mình đã chọn.
Con gái ông, dược sỹ  Mai thi Huấn hiện đang sống, công tác tại Hà Nôi, điện thoại liên hệ 0913347117

  1. Tưởng Dân Bảo[1] (19071947)

http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0%E1%BB%9Fng_D%C3%A2n_B%E1%BA%A3o

Ông sinh năm Đinh Mùi 1907, tại làng Tó, tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội).

…Năm 1945, ngay sau khi giành được chính quyền tại Sài Gòn, đích thân Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu ra lệnh thành lập một ban chuyên trách lấy tên là “Ủy ban Ủng hộ Chính trị phạm” do ông Đào Duy Kỳ[8] làm Chủ tịch và các ông Nguyễn Công Trung và Tưởng Dân Bảo, sau bổ sung thêm ông Lý Văn Chương, làm Ủy viên, với mục đích tổ chức đón các tù nhân chính trị từ Côn Đảo trở về đất liền. Ông đi theo tàu Phú Quốc, do ông Bảy Ngạnh làm thuyền trưởng đã cập bến Côn Đảo đầu tiên vào trưa ngày 20 tháng 9 năm 1945, dẫn đầu đoàn tàu gồm hơn 30 ghe tàu đón chính trị phạm, và 2 ngày sau, ngày 22 tháng 9 năm 1945, đã đưa được hơn 2.300 người (trong đó có 1.825 tù chính trị) về đến Đại Ngãi (nay thuộc huyện Long Phú, Sóc Trăng)[9]

…Tháng 6 năm 1946, ông bị quân Pháp bắt được cùng với em ruột là Tưởng Huấn Hải, và bị giải về Cần Thơ giao cho sở Mật thám lấy khẩu cung. Sau một tuần lễ bị tra tấn, hai anh em ông bị giải về giam tại Khám Lớn Sài Gòn giao cho Tòa án binh xét xử. Vì không có chứng cớ buộc tội, Tòa án buộc phải tha bổng ông Hải, nhưng vẫn giam giữ ông. Do sức khỏe suy giảm và có sự can thiệp của một luật sư người Pháp do vợ ông thuê nên được tạm tha về Bệnh viện Chợ Rẫy chữa trị.

Tháng 11 năm 1946, Khu trưởng Khu 7 Nguyễn Bình, người đồng chí và bạn tù cũ ở Côn Đảo, ra lệnh cho Ban công tác thành phố tổ chức giải cứu đưa ông ra chiến khu Đông Thành. Tuy nhiên, sức khỏe không chưa kịp hồi phục thì tháng 6 năm 1947, do trận càn của quân Pháp vào chiến khu Đông Thành (nay thuộc Đức Huệ, Long An), ông bị cảm lạnh đột ngột không kịp cứu chữa và đã qua đời, hưởng dương 40 tuổi.

Nguyễn Sơn Hà

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_S%C6%A1n_H%C3%A0

…Ngoài ra còn một việc cho đến nay ít ai biết được đó là : Sau Cách mạng tháng Tám thành công Ông đã cho phép người em rể là Ông Tưởng Dân Bảo (nguyên là Đảng viên Quốc Dân Đảng tham gia một số cuộc khởi nghĩa bị bị Pháp bắt tù rồi ly khai theo Đảng CSĐD làm ủy viên Xứ ủy Nam kỳ, Bí thư tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Châu Đốc (vợ là Em gái ông Hà, Bà Nguyễn Thị Thảo – Người đã từng hoạt động cùng với Ông Nguyễn Văn Linh nguyên TBT Đảng CSVN) sử dụng tiền của Ông Hà từ Đại lý Sơn tại Sài gòn – Trụ sở trên đường Charne, Đại lộ Nguyễn Huệ ngày nay, tổ chức một đoàn tàu vượt biển ra Côn đảo đón tù chính trị bị giam giữ trở về đất liền trước thời điểm Pháp nổ súng gây hấn và chiếm lại Nam bộ 23-9-1945. Trong số đó có rất nhiều người sau trở thành lãnh tụ cách mạng của Việt nam như : Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị …

  1. Nguyễn Công Trung

Google không có!

  1. Lý Văn Chương đi rước tù chính trị Côn Đảo

1.Tuong Dan Bao 2. Tuong Dan Bao

Đã xem 9 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments