Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 19) Trại Đá

1Khi anh em tù chúng tôi bị đưa từ trại Suối Máu về Z30-A, thường gọi là Trại Xuân Lộc, qua khỏi Trại “Đồi Phượng Vĩ” - còn gọi là “Trại A” - khoảng ba cây số, đi sâu vô rừng thì tới “Trại Cây” - Còn gọi là “Trại B” -. Bên cạnh nó là một trại mới đang xây, chúng tôi gọi là “Trại Đá”.

            Việt Cộng mở nhiều “trường” quá, gọi lung tung, tạm thời cứ cho là như thế.

            Trại Cây là trại làm bằng cây rừng, do tù nhân làm để giam tù nhân. Hàng rào bằng cây, vuông vức bốn phía, mỗi phía dài khoảng ba hay bốn trăm mét. Hàng rào dày lắm. Những “quái kiệt” trốn trại, như ông Trịnh Xuân Chính, phải leo qua trên đầu hàng rào, không thể phá hàng rào chui qua được.

            Cổng trại là một gian nhà có tầng lầu cao để canh gác. Ban ngày, cổng ít khi đóng kín, còn ban đêm, bị chúng nó nhốt vào nhà, “đâu có thấy gì đâu?”

            Vô khỏi cổng, bên phải là Trạm Y Tế, bác sĩ Trần Đình Đôn, cũng là tù cải tạo, bị bắt vì tội vượt biên, làm “xếp xòng” ở đây. Bác sĩ được ăn ở tại chỗ. Kế đó là 5 cái longhouse, nhà nhốt tù.

            Trạm Y Tế của bác sĩ Đôn khá nổi tiếng vì trạm chỉ có một thứ thuốc: “Xuyên Tâm Liên”. Đau đầu, nhức răng, cảm sốt, thương hàn, thậm chí trặc tay, gãy chân… cũng chỉ có một thứ “Xuyên Tâm Liên” mà thôi. Nó là thứ thuốc “bá bệnh tiêu trừ”, như câu quảng cáo “Mãi Võ Sơn Đông”, là biểu tượng của ngành Y Tế xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa đấy!

            “Mãi Võ Sơn Đông” thuộc loại đồ cổ. Mấy chục năm nay, ở miền Nam VN, chẳng ai còn thấy người ta diễn trò “Mãi Võ Sơn Đông” ở cái sân đầu chợ nữa. Nó là thứ bọn trẻ rất mê vì ông chủ Mãi Võ có con khỉ biết đi chạy đạp, những con búp bê gỗ biết nói tiếng người. Thậm chí cả thứ “Cao Đơn Hoàn Tán” của nhà thuốc Võ Văn Vân trên đường Nguyễn Thái Học ở Saigon cũng mất dấu luôn vì bị thuốc Tây tràn ngập. Các thứ nầy, ở xứ Mỹ, nếu còn lại, ai muốn mua thì phải vô mấy tiệm bán đồ antique mà tìm.

            Vậy mà bây giờ Việt Cộng cho sống lại cái “hồn ma cũ” bằng thứ thuốc Xuyên Tâm Liên, đen như… “cứt chó” (xin lỗi độc giả, bởi vì tôi phải viết như thế cho đúng với lời bình phẩm của anh em tù cải tạo khi họ được bác sĩ Đôn cấp cho thứ thuốc nầy).

            Nói thật tình, mấy năm đầu khi bọn tù chúng tôi mới về Trại Cây, khi lên Trạm Y Tế của bác sĩ Đôn để khám bệnh xin thuốc, thì trạm cũng phát cho vài ba tứ thuốc cũ, chế độ cũ còn lại, có khi “quá đát”, nhưng cũng còn hiệu nghiệm chán, uống vô hết bịnh, vì tâm lý hay sinh lý, đâu ai biết được!

Được vài năm, sau khi miền Nam VN, dưới chế độ mới, “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên xã hội XHCN thì thuốc cũ không còn. Nhà nước bây giờ, ở ngoài dân chúng hay trong trại tù Cải Tạo cũng “thống nhất” một thứ thuốc “Xuyên Tâm Liên” mà thôi.

            Tới Trạm Y Tế không phải để xin thuốc, mục đích chính là để xin “nghỉ một ngày” lao động hôm đó, nằm khểnh nhà cho khỏe thân, lấy đồ ăn do gia đình tiếp tế cho “nấu nướng linh tinh”, – câu cán bộ thường phê bình bọn tù chúng tôi..

“Mánh” nầy rồi cũng bể. Sau đó thì bác sĩ Đôn hạn chế phê vào giấy khám bệnh mấy chữ “đề nghị nghỉ lao động…” Chỉ mới đề nghị nghỉ thôi, chớ không quyết định. Việc nầy thuộc quyền “quản giáo”.

            Vì vậy nên Trạm Y Tế của bác sĩ Đôn vắng dần. Không được nghỉ lao động thì thôi, còn mang ba cái thứ “Xuyên Tâm Liên” về chỉ mất công bỏ thùng rác.

            Thành ra, ai bệnh, cứ xin thẳng “cán bộ quản giáo”, khỏi làm phiền bác sĩ Đôn. Quản giáo, kiêm luôn bác sĩ, xét từng người cho nghỉ hay không.

            Một hôm Trần Phú Trắc nói với tôi:

            -“Tui xin thằng Chinh – quản giáo đội tôi – “Tui muốn bệnh, quản giáo cho tui nghỉ một bữa.”

            “Chinh hỏi:

            -“Anh nói anh “muốn bệnh” phải không?

            -“Vâng”. Trắc trả lời.

            -“Muốn bệnh là chưa bệnh. Đi làm đi!”

            Dĩ nhiên, khi Trắc kể lại câu chuyện cho tôi nghe, anh không thể không kèm thêm một tiếng chưởi thề.

            Bên trái cổng trại là “hồ nước”. Việt Cộng cho đào sâu một cái hồ, hình tròn, đường kính khoảng năm hay sáu mét. Mỗi ngày, “nhà đèn” cho bơm nước vô đấy, để tù đi lao động về có nước tắm giặt. Hồ nầy không xây, nên nước hòa với bùn đỏ, nước đục ngầu. Tuy nhiên, tắm vô cũng mát, cũng sạch. Thế là “sướng đời tù” rồi, còn mong chi nữa! Để tiết kiệm vải, phần đông chúng tôi tắm ở đây đều tắm truồng.

            Kế hồ nước là “Nhà bếp”. Nhà bếp có bốn cái lò, trên có chão to. Hằng ngày, chão thường dùng để nấu bắp, có khi nấu cả vỏ, về sau có đải vỏ, bắp mềm, dễ ăn hơn, hoặc khoai mì không lột vỏ, chặt khúc.

Sáng thì tổ trực xống bếp lấy khoai mì và chia cho tù, mỗi người một khúc, dài khoảng ngón tay trỏ. Trưa thì một chén bắp, chiều cũng “bổn cũ soạn lại”, y chang như vậy.

            Mỗi tuần một lần, trưa chủ nhật, thay vì một chén bắp thì được lưng chén cơm. Thế là “huy hoàng Xã Hội Chủ Nghĩa” lắm đấy. Muốn thêm ít cơm nữa cũng không được.

            Dĩ nhiên, bắp hay cơm, phải có “đồ ăn”. Đồ ăn là rau muống luộc, món khoái khẩu của “Dân Bắc Kỳ rau muống”, nhưng không khoái khẩu cho dân Nam Bộ, nhất là tù. Và “như mọi người đều biết”: Nước Mắm Đại Dương.

            Việt Cộng là “bậc sư” trong những cái trò lừa phỉnh. Nước Mắm Đại Dương, cũng là một trò lừa phỉnh đấy.

            Cơm hay bắp, khi nấu cũng bị cháy nhiều ít ở đáy chão.  Miếng cháy được giữ lại, cho thêm nước giếng và muối vào, nấu sôi quậy đều, có màu đen đen như nước mắm. Gọi đó là “Nước Mắm Đại Dương” hay “Nước Mắm Xã Hội Chủ Nghĩa” đều được cả, không ai phản đối loại nước mắm giả đó. Nước muối mà ai cũng gọi là Nước Mắm. Người ta chấp nhận đó là “Hiện thực XHCN” hay người ta nói mỉa?

            Kế bếp cũng là 5 longhouse, đối xứng với năm longhouse phía bên kia. Giữa các longhouse là Hội Trường. “Quí cụ văn nhân” trong ban “Thông Tin Văn Hóa” được ở riêng tại Hội Trường, khỏi phải điểm danh. Tôi không nhớ tên các vị “Thông Tin Văn Hóa” nầy.

            Trước Hội Trường có trồng hoa: Cúc vạn thọ vàng rực. Tóc tiên được cho leo theo hình những con công, con phượng, làm bằng giây kẽm gai đã lấy mắt nhọn.

            Anh Lã Trung Tâm nói mỉa: “Đ. m. Ăn khoai mì mà cũng trồng bông. Bọn nầy làm chuyện ruồi bu!”

            Trắc phụ họa vào: “Trồng vạn họ là tù còn lâu lắm!”

            -“Đừng nói xui!” Tôi cản ý Trắc.

            Khi chúng tôi tới Trại Cây, trại nầy mới dựng xong 4 hay 5 longhouse ngoài. Các nhà trong đang làm. Sẽ có thêm bạn tù đấy.

            Chẳng bao lâu thì “Trại Học Tập Cải Tạo” đầy “trại viên”.

            Mỗi longhouse dài khoảng bốn hay năm chục mét. Sạp ngủ hai tầng. Tầng trên dành cho người “ưa tuổi thân”, nghĩa là mỗi ngày phải lên lên trụt xuống những mấy lần. Ai không ưa leo trèo thì nằm tầng dưới. Chỗ nằm chật ních, vì mỗi longhouse chứa 3 đội, trên dưới 120 “trại viên”. Phía trong cùng là cầu tiêu, cầu tiểu. Mỗi sáng, có toán “Vệ Sinh”, trường toán là ông Châu Tử, nguyên thiếu úy Cảnh Sát Công Lộ Saigon, chủ nhân hãng “Cà-ri Nị” ở Saigon, cùng với mấy anh trong toán vào dọn vệ sinh. Phân người thì đổ vào một cái hố phía sau trại, ngoài hàng rào. Khi nào hố đầy thì lấp đất, ủ cho hoai. Có khi chưa đủ hoai cũng được moi lên, đem bón rau, “làm giàu xã hội XHCN.”

            Khi ấy Trại Đá – tên do “trại viên” đạt ra – bên cạnh Trại Cây đang xây.

            Như tôi đã nói, Trại Đá do Xí ghiệp Xây Dựng số 1 “thi công” (danh từ Việt Cộng đấy), chậm như rùa vì vật liệu không đủ hay sao đó. Chưa xong thì Xí Nghiệp nầy rút lui, giao lại cho Trại Cải Tạo Xuân Lộc tự xây lấy.

Tôi không biết nhiều về các “tù cải tạo” trong “Đội Xây Dựng” nầy, ngoại trừ vài người mới quen như “Thẩm Phán Đoàn Cảnh Thúy” do anh Lã Trung Tâm giới thiệu. Ông Thúy ở trong toán “kiến trúc”, tức là vẽ họa đồ; còn như cầm bay, cầm búa thì có anh Trịnh Quang Hà, em trai ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tên ông Hà thì tôi có nghe, nhưng gặp mặt thì chưa. Có thể ông ta biết tôi, vì các em gái của ông như Vĩnh Thúy, Vĩnh Tâm đều là học trò của tôi cả. Hồi ấy, ca sĩ Vĩnh Trinh còn nhỏ xíu, chưa thể làm học trò của tôi được.  Ngay cả vợ ông Hà, – tôi không nhớ tên -, cũng là học trò của tôi nữa. Có lần ông Hà được thăm nuôi; chiều lại, ông mời tôi ăn chung với ông. Đồ ăn ông được tiếp tế cũng ngon lắm, với tù, lại còn ngon hơn, nên tôi thầm cám ơn. Nay nhắc lại, cũng để cám ơn một lần nữa, ông đã cho ăn bữa ăn ngon hôm đó.

            Thỉnh thoảng, tôi có gặp ông Hà, “nói chuyện Huế” cho đỡ nhớ quê. Ông Hà bị động viên, mang loon đại úy hay trung úy gì đấy, phục vụ ở Tiểu Khu Thừa Thiên. Có lần, Hà kể, hôm Thiếu tướng Kỳ tổ chức văn nghệ ở Pleiku, mời Trịnh Công Sơn lên chơi. Hà phải lấy xe jeep của ông ta chở ông Sơn ra phi trường Phú Bài để tránh Quân Cảnh. Ông Sơn đang “trốn quân dịch”.

            Trại Đá lúc đó cũng đang xây dở chừng. Khi chúng tôi bị chuyển qua Trại Đá, nhà bếp, nhà ở cũng như bốn cái “cachot” (nhà ngục tối) phía sau cùng, hội trường chưa xong gì cả. Tới bữa, phải về lãnh đồ ăn bên nhà bếp cũ, ở Trại Cây. Chỉ có hàng rào là xây xong rồi. Hàng rào xây bằng gạch “lốc”, cao bằng rưởi đầu người, trên lại có giăng concertina khá kỹ, trốn trại cũng khó đấy!

            Tại sao xây chưa xong mà chuyển chúng tôi qua đó?

            Số người bị chuyển chỉ có hai đội. Đội 19 do Trương Đình Gòn làm đội trưởng. Và Đội 20, đội trưởng là “Thầy Đạo.”

            Về Trương Đình Gòn, nếu độc giả muốn biết thêm, xin đọc “Nụ Cười Sơn Cước” là truyện ngắn của tôi, viết vài chuyện vui về ông nầy. Còn “Thầy Đạo”, “theo chúng tôi biết” thì như sau:

            Khi còn bị giam ở Trảng Lớn – L3-T3, tôi làm tổ trưởng tổ 1, nguyên đại úy Nguyễn Đạo làm tổ trưởng tổ 2, thuộc đội 1, khối 1. Đội trưởng đội 1 là Nguyễn Văn Quí (quí mập, bụng thề lề, ở trần tay cầm cái quạt, quạt tối ngày). Trưởng khối 1 là Phan Hải. Tôi có nói về ông nầy rồi, ở bài trước.

            Hai ông bác sĩ Văn Tần, bác sĩ Trương Thìn, đều ở trại L3-T3 nầy. Khi tôi bị chuyển qua đây, hai ông bác sĩ nầy đã được tha.

            Trong thời gian bị giam ở đây, ông bác sĩ Trương Thìn (Ông nầy cũng “hà tiện”, tên không có chữ lót, chỉ Trương Thìn mà thôi) “phát triển” việc trị bệnh bằng châm cứu trong giới “học viên”.

            “Chính quyền Cách mạng” thông báo đem theo mười ngày lương thực, ai cũng tưởng là “học” chỉ có mười ngày, xong thì về, nên có đem theo thuốc men trị bệnh gì đâu!?

“Cách mạng nói “mười ngày lương thực, chớ có nói “học tập mười ngày đâu”. “Cách mạng” giải thích lẹo lưỡi như vậy, còn người miền Nam “thật dạ tin người” như cô Kiều nghe lời Sở Khanh vậy.

Nay “Cách mạng” đã giải thích rõ ràng như thế, người ta vẫn không chịu “hiểu” gì “Cách mạng” cả, cứ cho là người miền Nam bị lừa. Thật ra, “Cách mạng có lừa ai đâu!” Nói cho cùng, chính họ cũng lừa nhau đấy, nói chi tới người miền Nam. Cộng Sản mà, nói sao cho hết những trò “lừa đảo”. Ai dại thì “dính chấu” thôi!

            Không có thuốc men thì có bác sĩ Trương Thìn ra tay “phục vụ cách mạng”, dạy cho “cải tạo viên” trị bệnh bằng châm cứu, như người Tầu. Thiên hạ thấy vui, bèn ùn ùn kéo nhau đi học châm cứu. Học xong, về dạy lại người khác, “tam sao thất bổn”, châm đã không hết bệnh mà thành “châm kêu” (kêu người khác tới cứu), hay “châm khiêng” (châm xong khiêng lên trạm xá).

            Thầy Đạo không biết là học trò mấy đời của ông bác sĩ Trương Thìn, vì cứ một người dạy cho một người là “một đời”. Cứ thế mà kể dài xuống.

            Học xong, thầy Đạo cũng đi cứu đời, làm cái nghề tổ tiên gọi là “Cứu nhân độ thế”. Thầy có một hộp đựng “kim châm”, ngày ngày thầy ôm hộp đi quanh, cứu người nầy, châm người kia.

            Về tới Z30-A thì thầy bỏ nghề. Mỗi ngày phá rừng, cuốc đất, lên giồng trồng khoai lang “mệt bá thở”, lại còn phải ăn, tắm giặt, nên “hộp kim châm” nằm gọn đâu đó trong cái giỏ đựng áo quần của thầy, có lẽ thầy quên mất rồi. Lâu ngày không hành nghề, nghề thầy cũng lụt dần.

            Hai đội bị chuyển trại nói trên phần đông đều “can tội đại úy” – như ghi trong lệnh tha – Các đội còn lại bên Trại Cây loon lá thấp hơn. Vậy là rõ. Một tên đại úy trốn trại nguy hiểm hơn một anh trung sĩ trốn trại. “Cách mạng” tính kỹ lắm đấy!

            Chưa được mấy hôm thì “Đội Văn Nghệ” của bầu Trừ ở Trại A – trên đồi Phượng Vĩ – cũng bị đưa vào đây!

            Dĩ nhiên, “Đội Văn Nghệ” cũng có “vấn đề”! Không thì “Cách mạng” đưa “Đội Văn Nghệ” vô Trại Đá làm chi!

            Chẳng qua là hôm Tết vừa rồi, các tay trong “Đội Văn Nghệ” tổ chức “rước Mẹ Việt Nam đi thăm các con trong trại tù”. (Xin xem bài sau nói rõ hơn vụ mà Việt Cộng gọi là phản động nầy! “Rước mẹ Việt Nam mà gọi là “phản động”? Đúng đấy. Việt Cộng chỉ có Đảng và Bác, làm chi có cha, có mẹ mà rước!).

&

            QueenBee hay Đêm Mầu Hồng.

            Ở chung với “Đội Văn Nghệ”, có sẵn ca sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ… chúng tôi bèn tổ chức “QueenBee” hoặc “Đêm Mầu Hồng” ngay trong trại tù.

            Tối thứ Bảy, ngày mai Chủ Nhật, khỏi đi lao động, chúng tôi bèn tổ chức, tuần nầy thì QueenBee, tuần tới thì “Đêm Mầu Hồng”…

            Cắt một anh tù ngồi ngay cửa sổ, anh chừng cổng ngoài. Hễ thấy công an đi tuần vào thì hô lên: “Gió lớn” để báo động. “Gió lớn là “Đại Phong” là tên các chiến dịch tấn công Cộng Sản của QĐVNCH trước 1975. Chương trình văn nghệ tạm ngưng vì “sự cố kỷ thuật” (danh từ Việt Cộng đấy!). Tay cầm “điếu thuốc ba số” (thuốc lá thơm đầu lọc, hiệu 555), với hộp quẹt, anh bạn có nhiệm vụ “xã giao”chào anh công an một tiếng. “Quen như lệ thường”, anh công an sà vào, nhận điếu thuốc, phì phèo. Thế là “sự cố giải quyết xong”, chương trình văn nghệ lại tiếp tục.

            Có khi công an còn nói: “Các anh hát bài “Những Đồi Hoa Xim” đi. Bài ấy hay nắm.” Thế là Chương, “người đẹp đái đứng” (xin lỗi độc giả một lần nữa), mở giọng ca “con nhạn trắng Gò Công”.

            “Người đẹp đái đứng” có một bài ruột, khi nào có “chương trình văn nghệ” là anh ta thỏ thẻ: “Hoàng Hôn, lá rơi bên thềm…” (1) Nghe Chương hát những câu như “nhớ nhung vì đâu! thắm đôi dòng châu, tiếc thay tại sao đành lỡ làng…” anh em chúng tôi có người xúc động không ít và cảm cho thân phận tù tội của mình. “Cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương” làm cho chúng tôi cảm thương mình là kẻ lưu đày như Bạch Cư Dị, bồi hồi nhớ lại câu thơ nói về tiếng đàn Tỳ Bà của người kỹ nữ hôm ấy trên “bến sông vắng lạnh”.

            Có lần Cụ Trần Văn Niệm (anh ruột danh thủ bóng tròn Bắc Hà Trần Văn Ứng), bảo tôi cố nhớ chép lại cho hết 88 câu thơ dịch Tỳ Bà Hành để Cụ đọc chơi.

Nhờ dạy học lâu năm, mà năm nào cũng dạy tác phẩm nầy cho học sinh; với lại năm học lớp Đệ Tứ, tôi cũng mê tác phẩm nầy nên chép lại đủ:

            “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

            Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu…

 Tôi còn chép cho cụ Niệm một phần bài tựa của Bạch Cư Dị, tôi nhớ được:

            “Năm Nguyên Hòa thứ mười, ta bị biếm ra giữ chức Tư Mã ở đất Giang Châu. Mùa thu năm sau, tiễn khách ở bến sông Bồn, chợt nghe tiếng đàn tỳ bà trên bến sông vẳng lại. Nghe tiếng đàn thánh thót, ta bèn hỏi thăm mới biết người đàn bà cầm đàn gốc gác ở kinh đô Trường An. Vốn là con hát, vì nhan sắc tàn tạ mà lưu lạc đến nơi nầy… (2)

            Sở dĩ chúng tôi gọi Chương là “người đẹp đái đứng” vì anh thường ỏng ẹo như con gái, dù phải cầm cuốc cuốc đất hay cầm dao phá rừng như mọi người.

            Chương có cấp bậc “thiếu úy Cảnh Sát”, khi ra trường được đưa về làm Trưởng Cuộc Cảnh Sát xã Tân Hội, quận Kiên Tân, Tỉnh Kiên Giang. Xã nầy nằm kế cận “đồng Huệ Đức” là “đồng chó ngáp” của tỉnh Long Xuyên. Ở đây, có lần, tôi ỉ i, hành quân lạc qua vùng ranh ba quận Kiên Tân, Kiên Thành và Huệ Đức, bị Trung đội Thám Báo Kiên Thành, tưởng lầm là Việt Cộng nên tấn công một trận, khiến bọn tôi chạy trối chết. (Xin xem lại “Hương Tràm Trà Tiên, cùng tác giả). Tuy nhiên, khi Chương về Kiên Tân thì tôi đã đi xuống “chỗ tận cùng của đất nước”: Hà Tiên.

Cuối năm 1974, Việt Cộng chiếm xã, Chương ở trong “chính quyền lưu vong”, trước khi làm “người dân lưu vong” ngày 30 tháng Tư/1975.

            Chương trình văn nghệ thường có thêm nhiều ca sĩ tham gia, mãi tới hơn mười giờ tối mới chấm dứt. Tôi nhớ nhất là anh bạn Ngô Quang, bạn thời niên thiếu ở thị xã Quảng Trị. Quang hát hay nên được “thính giả yêu cầu” hát nhiều bài.

            Tôi cũng là “ca sĩ của chương trình văn nghệ” đấy. “Nụ Cười Sơn Cước” là bài tôi thích nhất vì mỗi lần hát “Ai về sau dãy núi Kim Bôi” là tôi nhớ tới rặng Trường Sơn ở quê tôi, nơi có đèo Lao Bảo, có “Động Ông Đô” và có: “Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc” như tôi đã kể trong “Một lần về thủ đô, thăm các vị La Hán”.

            Hát có nghĩa là gởi hồn mình về nơi cố quận, về “Saigon đẹp lắm, Saigon ơi!” hay “về thăm nơi yêu thương muôn đời” của Huế, của sông Hương núi Ngự, hay “có ai về miền Tây”, “sông sâu nước biếc”. Họ có thể giam hảm thân xác chúng tôi, nhưng không thể giam hảm tâm hồn chúng tôi được.

            Bọn tù chúng tôi cũng bướng lắm đấy, nhất là mấy “trự” trong “Đội Văn Nghệ”. Vì câu chuyện “Rước Mẹ Việt Nam” mà cả đám kéo nhau vô cachot nằm ngót một tháng, được tha ra thì chuyển trại vô đây, Việt Cộng tưởng họ “tởn” nhưng thật ra chẳng nhằm nhò gì cả. Cái gan lì, cũng như tinh thần của họ, có thua gì Hồ Chí Minh trong “Ngục Trung Nhật Ký”

“Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại.”

&

            Luật sư Trần Danh San và 12 con ma!

            “Chàng đi theo nước…”

            Mười hai con ma, cộng thêm luật sư Trần Danh San nữa là 13 con ma.

            Sau “Đội Văn Nghệ” chuyển vào Trại Đá không lâu thì tới “13 con ma” tiếng chúng tôi gọi đùa về 13 nhân vật đặc biệt nầy.

            Nửa đêm, đang ngủ thì chúng tôi nghe tiếng máy xe Molotova ầm ì vào sân, đậu ngay căn nhà phía sau. Mười ba bóng đen, lầm lủi đi vào nhà giam như những bóng ma, nên chúng tôi gọi những người tù ấy là “Mười ba con ma”.

            Sáng ra, qua “thông tin”, chúng tôi biết đấy là 13 “yếu nhân” từ Trại Đồi Phượng Vĩ chuyển vào. Người đầu tiên phải kể tên, là người nhiều người biết: Luật sư Trần Danh San.

            Không nhớ rõ năm nào, ông làm ra bản “tuyên ngôn của Hội Nhân Quyền Việt Nam”, do ông làm chủ tịch. Một bản ông giao cho Toại (?). Toại nào nhỉ? Ngô Vương Toại hay Đàm Văn Toại (3), vượt biên đem ra ngoại quốc, phổ biến trên đài BBC. Một bản ông tự tay cầm ra công trường trước Nhà Thờ Đức Bà Saigon đọc cho đồng bào nghe.

            Dĩ nhiên, công an cũng nghe, và nghe rõ nữa, nên túm ông cho vào Trại Cải Tạo như chúng tôi vậy, buộc phải “học tập cho thông suốt đường lối cách mạng”. Ông nầy học dở, chẳng thông suốt chút nào nên không còn được ở cái trại có cái tên thơ mộng “Đồi Phượng Vĩ” mà vào Trại Đá để thêm lạnh lùng đời tù.

            Luật sư Nguyễn Hữu Giao, (hay Dao), cũng là một trong số 13 con ma nầy. Trắc nói với tôi ông LS Giao là con (rơi) của vua Bảo Đại. Hồi ông còn nhỏ, khi ông Bảo Đại còn chức vị, ông Giao đi đâu cũng có một anh Tây mắt xanh mũi lõ tò tò đi theo để bảo vệ hoàng tử. Bây giờ, trong Trại Đá, dĩ nhiên, không có “anh Tây” nào theo tò tò bảo vệ hoàng tử nữa. Tướng ông Giao đẹp người, cao lớn vừa phải, tù cải tạo mà da còn trắng, tác phong nghiêm chỉnh.

            Vài ba bữa sau, chủ nhật, ông luật sư Trần Danh San qua phòng của đội tôi chơi. Ông được anh em đón tiếp tử tế, vui vẻ, và trọng vọng nữa. Người mời caphê, người mời bánh ngọt… Chúng tôi họp lại, ngồi quanh ông, để nghe ông nói chuyện về tình hình đất nước, về người Mỹ “bỏ của chạy làng”, và về chương trình ODP đang được bài cãi ở Thụy Sĩ, về một ngày về không xa lắm, v.v… và v.v… Nghe ông nói chuyện, anh em chúng tôi phấn chấn, hy vọng một ngày mai “dựng lại ngọn cờ chính nghĩa”, không chỉ cho miền Nam VN mà toàn cõi đất nước.

            Thấy tôi tham gia, không những một mà nhiều lần những buổi nói chuyện của Luật Sư Trần Danh San, anh Lã Trung Tâm, trong một bữa ăn, nói với tôi:

            -“Mày ưng chi mà theo cái “đám Nhân Quyền” đó!

            -“Ưng gì đâu! Nghe ông ta nói thì cũng như đọc sách vậy mà. Tôi ưa đọc sách, mấy năm nay không có sách đọc, nghe biết thêm.”

            -“Hay không?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

            -“Anh em tui nói thiệt. Không thể không nói họ là người gan lì, anh hùng. Nhưng đấu tranh kiểu nầy, giống như Nguyễn Thái Học vậy: “Thành nhân mà không thành công.”

            Trắc hỏi tôi:

            -“Sao anh nói vậy?”

            -“Muốn đấu tranh lật đổ chế độ, là phải có quần chúng. Quần chúng ông San là ai? Nói cho đầy đủ thì như thế nầy! Muốn lật đổ Cộng Sản, người Miền Nam chúng ta phải có chính nghĩa. Chính nghĩa đó là Tự Do, Dân Chủ. Chế độ VNCH, nhất là thời Đệ Nhị, rõ ràng là có Dân Chủ, Tự Do, nhưng nói sáng tỏ cho mọi người dân đều biết thì chưa có. Dân chúng, nhất là ở thôn quê, còn bị Cộng Sản tuyên truyền. Thứ đến là vũ lực. Vũ lực thì mình đã thua. Thứ ba là chính trị, tức nhân lực, là dân chúng, chính yếu là nông dân, công nhân. Chúng ta có dân chúng chưa? Dân chúng theo mình được bao nhiêu!”

            -“Nói vậy thì coi như mình xây dựng lại từ đầu!” Trắc nói.

            -“Không hẳn vậy. Thời cơ là quan trọng. Ví dụ cuộc Cách Mạng tháng Tám chẳng hạn. Cộng Sản lúc đó được mấy ngoe? Có sức mạnh gì đâu! Nhưng họ may mắn nắm thời cơ. Chính quyền lúc đó thì coi như… vô sự, không làm gì cả. Nhật thì vừa đầu hàng, không muốn dính dáng gì tới Đông Dương nữa. Những người vận động nông dân cướp chính quyền là thanh niên, sinh viên, học sinh, Thanh Niên Tiền Phong và cả Hướng Đạo. Thành phần nầy cũng như dân chúng không biết đảng phái gì cả, Quốc Gia, Cộng Sản gì cả, chống Pháp giành độc lập là được. “Thiên thời, địa lợi nhân hòa”: Cộng Sản may mắn có đủ cả.”

            -“Làm sao lật đổ tụi nó?” Anh Lã Trung Tâm nhăn nhó.

            -“So lại với cuộc khởi nghĩa Yên Báy của Nguyễn Thái Học. Họ có lý tưởng cao cả, có lực lượng nhưng còn yếu, có quần chúng nhưng không đông. Thời cơ chưa tới. Họ chỉ có cái hoài bảo của Thanh Niên tiểu tư sản, nên cuộc khởi nghĩa của họ rất tiểu tư sản. “Không thành công thì thành nhân”. Câu nầy rất là “trí thức tiểu tư sản”. Ngày ông Nguyễn Thái Học bị lên đoạn đầu đài, cô Bắc về làng Thổ Tang, mua tấm khăn sô quấn lên đầu để tang cho chồng, lạy cha mẹ chồng, rồi ra quán nước gần làng, uống bát nước chè xanh, xong đứng lên hướng về làng chồng, rút súng tự tử. Câu chuyện vừa bi thảm mà vừa lãng mạn. Khi tôi còn nhỏ, học lớp Nhì, tôi có đọc truyện nầy. “Chàng đi theo nước, thiếp theo chàng” của Tủ Sách Bạn Trẻ Tân Việt. Dù còn trẻ con, tôi chảy nước mắt khi đọc tới đoạn cuối như tôi kể ở trên.”

            -“Theo anh thì anh nghĩ ông San như thế nào?” Trắc hỏi.

            -“Tôi nghe tên ông San nầy từ lâu lắm. Tôi học luật 1 khi bà Trai làm Khoa Trưởng, ông Bùi Tường Huân dạy kinh tế. Ông San học sau tôi vài ba năm gì đó, khi tôi đã thôi học. Bây giờ thì biết rõ hơn. Ảnh hưởng anh hùng của “Khởi nghĩa Yên Báy” và Dũng của Nhất Linh, cũng như Nhất Linh đối với ông không nhẹ. Nguyễn Thái Học, Dũng hay ông Nhất Linh, làm cách mạng theo với cung cách của một trí thức tiểu tư sản, có kết quả giống nhau.”

            -“Căng nhỉ!” Trắc nói.

            -“Căng chớ sao không! Sau ngày 30 tháng Tư ít lâu, tôi gặp người anh cả của ông anh rể tôi, tập kết về. Ông ấy không ưa Cộng Sản vì ông là cháu Đại Tướng Khiêm. Khi ông Khiêm làm lớn trong Nam, ông bị tụi nó đì dữ lắm. Ông nói thẳng với anh em chúng tôi:

            -“Không hy vọng gì lật được họ đâu. Ba mươi năm chiến đấu, hy sinh xương máu hàng triệu người mới có được quyền lợi như bây giờ. Họ không nhả ra đâu! Không bao giờ nhả.”

            -“Hình như ông già vợ ông San cũng không đồng ý với cách đấu tranh của ông ta.” Trắc nói.

            -“Trắc nói ông Luật Sư Vũ Đăng Dung?” Tôi nói tiếp. “Ông nầy “cãi vui lắm”. Tui có đi coi ông cãi một lần ở tòa Thượng Thẩm Huế, rất hùng hồn, giống như bạn ông là Luật Sư Nguyễn Toại, dạy Pháp Chế Sử cho chúng tôi vậy! Cha con ông San cùng ở tù với nhau trại nầy.”

            -“Mày coi vụ gì?” Anh Lã Trung Tâm hỏi tôi.

            -“Vụ ông Trần Điền. Khi làm Tỉnh Trưởng Quảng Trị, ông Trần Điền dính vô “Vụ Ba Lòng”, bị ông Diệm đưa ra tòa, tội phản quốc. Hai người cãi cho ông Trần Điền là ông Luật Sư Lê Trọng Quát và ông Luật Sư Vũ Đăng Dung. Ông Quát có dạy thêm ở Quốc Học, nhiều đứa thích ông lắm. Tui thì không. Xạo không! Khi ông cãi cho ông Trần Điền, ông đem cái tượng Chúa Giê Su ra trước tòa. Ông nói: “Thân chủ tôi là một người theo đạo Thiên Chúa” – Ông Quát cầm tượng lên, chỉ vào tượng. – “Một người theo đạo Thiên Chúa như thân chủ tôi là một người tin Chúa, tin Chúa thì không thể là người phản quốc được.” Nói vậy là lẹo lưỡi đó. Mấy người có Đạo mà theo Tây, như Huyện Sĩ thì yêu nước cái gì! Ông Quát muốn lợi dụng cái tâm lý ông Diệm là người có Đạo nhưng yêu nước để chạy tôi cho ông Trần Điền. Ông Vũ Đăng Dung cãi “vui hơn”.

            -“Vui là sao?” Anh Lã Trung Tâm hỏi tôi.

            -“Hôm đó Cụ Lê Khắc Hy ngồi Chánh Án. Khi ông Vũ Đăng Dung nói câu của Đặng Trần Thường “Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dễ biết ai…” thì ông Chánh Án rung chuông biểu ông Dung im, không được nói câu đó.” (4)

            -“Sợ đụng chạm Tổng Thống Ngô Đình Diệm chớ gì!” Trắc nói.

            -“Được làm vua, thua làm giặc ông ơi!” Tôi cười phụ họa với Trắc. “Bây giờ mình thua Việt Cộng thì mình là giặc, tụi nó là vua. Đời mà!”

            Khoảng nửa tháng sau, tôi thấy vài anh em được ông San “phong chức”: Võ Phước Thọ, trung úy Cảnh Sát, được làm “Trưởng Ban An Ninh.” Trắc nói với tôi: “Tôi có đề nghị với ông San để anh làm Trưởng Ban Tuyên Huấn.”

Tôi hỏi Trắc:

            -“Đây là ý của ông San hay đề nghị của ông?”

            -“Tui đề nghị!” Trắc nói. “Ông San không biết gì về anh đâu!”

            -“Cái nầy là kẹt… tui. Nếu ông San biểu, tui từ chối liền. Dễ thôi. Nhưng nếu ông đề nghị, lỡ ông San “ừ” thì tui khó từ chối. Không lý mấy ông tham gia, tui lại đứng ngoài. Tui sợ mấy ông cho tui hèn nhát. Anh em với nhau cả mà, khó xử lắm.”

            Mấy ngày sau, cũng nửa đêm, xe Molotova lại vào. Mười ba con ma lầm lũi ra xe. Sáng ra thì biết chắc họ đã bị chuyển đi hồi đêm rồi. Hình như ra Phú Yên, Trại A-30.

            Năm 1977, Trắc được tha, ông San cũng được tha, Võ Phước Thọ cũng được tha luôn, nhưng chưa được bao lâu thì Thọ mang bệnh, qua đời, có lẽ do “hậu bệnh” những lần bị Công An đánh đập quá tay khi Thọ bị giam mấy lần ở Cachot.

Tôi được tha trước đó 5 năm.

            Gặp tôi, Trắc nhắc lại Hội Nhân Quyền của ông San. Tôi nói: “Ở trong tù, một thân một mình, dễ hơn. Bây giờ, về với vợ con, không dễ gì hoạt động đâu.”

            Trắc vừa bán được căn nhà, lo mở tiệm bán càphê kiếm sống qua ngày, cũng không thấy nói gì thêm.

            Nam 1989, tôi vượt biên tới Bidong, lại nghe tin ông San, ông cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cũng vượt biên, được tàu biển cứu. Ở Mỹ, tôi vẫn thường liên lạc với Trắc ở Nam Cali, nhưng không nghe Trắc nói gì tới Luật Sư Trần Danh San và Hội Nhân Quyền nữa cả.

            Già rồi, ai cũng đuối sức cả rồi!

            hoànglonghải

(1)-“Tiếng Xưa” Dương Thiệu Tước.

(2)-“Tỳ Bà Hành” nguyên tác của Bạch Cư Dị, người Tầu. Bản dịch chữ Nôm của Phan Huy Vịnh. Có người nói bản chữ Nôm hay hơn bản chữ Hán.

(3)-Ngô Vương Toại, sinh viên Văn Khoa, bị Việt Cộng bắn vào bụng tại sân khấu đem tổ chức Tết năm Mậu Thân, thoát chết. Đoàn Văn Toại, cũng là sinh viên Đại học Saigon. Khi tôi còn ở trại tỵ nạn (1989, 90….) thì nghe tin ông Toại bị người Việt hải ngoại đánh khiến ông bị thương. Vài người tưởng lầm ông Toại nầy với Ngô Vương Toại. Tôi không tin ông Ngô Vương Toại bị đánh, vì tôi biết ông Ngô Vương Toại khi ông còn trẻ, học trò của tôi.

Trước đó mấy năm, khi còn trong tù cải tạo, tôi nghe tin ông Nguyễn Công Hoan, dân biểu chế độ cũ, mà cũng là dân biểu của Dziệt Cộng, vượt biên.

Mới đây, tôi biết ông Hoan vượt biên cùng ông Trần Văn Sơn, tức Trần Bình Nam, dân biểu thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đối lập, “khối Ấn Quang”. Chuyến vượt biên chỉ có 2 người, một ghe. Tôi không rõ họ đến đảo hay được tàu nào vớt.

Khi tôi mới tới định cư ở Mỹ, nghe nói Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi Houston và Cali để vận động nhưng bị phản đối dữ dội. Nhiều lý do, nhưng không nói ở đây làm chi cho dông dài.

Sau đó, có “một người Mỹ” (CIA?), khuyên các ông như Nguyễn Văn Ng. đến gặp một nhân vật bí mật, ở LA, để có thể giúp cho.

Đám ông Ng. đến LA, tới một khách sạn hạng sang, gặp hai người đang ở chung một phòng: Ông Đoàn Văn Tọai và ông Hoan.

Nhìn chung, đây là đám gì? Giống hay khác với Đỗ Ngọc Yến chụp hình có Nguyễn Tấn Dũng.

(4)-Ngô Thời Nhiệm (Nhậm) và Đặng Trần Thường là bạn học. Ngô Thời Nhiệm theo Nhà Tây Sơn. Đặng Trần Thường trốn vào nam theo Nguyễn Ánh. Sau khi Nguyễn Ánh toàn thắng lên ngôi vua, giao cho Đặng Trần Thường xử tội các sĩ phu Bắc Hà theo Nhà Tây Sơn.

Trước mặt Ngô Thời Nhiệm là kẻ bại trận, Đặng Trần Thường nói, vẻ tự cao:

-“Ta ra cho người một câu đối. Đối được ta tha.”

Ngô Thời Nhiệm trả lời “vâng”.

Đặng Trần Thường ra câu:

-“Ai công hầu, ai khanh tướng, giữa trần ai, ai dễ biết ai!”

Ngô Thời Nhiệm đối lại:

“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!”

Mặc dù Ngô Thời Nhiệm đối được, nhưng vì mối thù cũ, Ngô Thời Nhiệm từng chê Đặng Trần Thường học dốt, nên Thường sai đánh chết Nhiệm trước Văn Miếu Hà Nội.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

4 Comments on hoànglonghải – Vết Nám (Bài 19) Trại Đá

  1. Kính Thầy Hải,già Anh Cam vùng/TX đây,cám ơn thầy cho đọc tiếp ‘Vết Nám 19″,có lẽ do lỗi đánh máy ,”năm 1977 ông LS San được tha mà thầy Hải đã được tha trước đó 5 năm”,là 1987 thay vì 1977(?),nếu sai xin lỗi thầy hỉ,chúc thầy luôn được an vui và có sức khoẻ tốt để tiếp tục nhả tơ cho bọn bọn “óc bã đậu” như già tôi được sáng dạ mở lòng,bye Thầy.

    Số lượt thích

  2. THAI TRAN
    Trai tu cs viet hoai viet mai khong bao gio het. Nhung viet ma de cho nguoi doc thich nhu cua O.Hoang Long Hai la dieu kho. Moi lan nho lai qua khiep dam cho su tra thu da man cua giac Ho.

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: