Bài 1. Đỗ Ngọc Thành dấu hiệu bị quỷ thủ tiêu.

Chương 3. Hồ giết thủ lĩnh phong trào học sinh sinh viên Miền Nam. (6 liệt sĩ thành đoàn – Ai giết?).

Bài 1. Đỗ Ngọc Thành dấu hiệu bị quỷ thủ tiêu.

A. Bằng chứng và phân tích.

  1. Liệt sĩ Thành đoàn.

“6 tấm gương liệt sĩ Thành đoàn TP.HCM: Đỗ Ngọc Thành, Lê Minh Quới, Trần Quang Cơ, Bùi Minh Trực, Nguyễn Điền và Hồ Hảo Hớn.”

  1. Đỗ Ngọc Thành dấu hiệu bị người của Hồ thủ tiêu.

Ngày 29-11-1951, đồng chí bị bắt, bị địch tra tấn dã man đến chết, xác bị địch vứt xuống Cầu Kinh – Thanh Đa.”

Nhận xét: Người có chính quyền chỉ đạo không làm việc này!

B. Nghiên cứu.

Xem trực tuyến phim tư liệu

23 Tháng tư 2006

http://vietbao.vn/Giai-tri/Xem-truc-tuyen-phim-tu-lieu/40134162/234/

Bạn có thể vào đây xem trực tuyến VCD Họ chiến đấu vì tổ quốc, một bộ phim lịch sử Thành đoàn TP.HCM do Hãng phim Trẻ thực hiện chào mừng Đại hội Đảng lần X và 31 năm giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam.

Trong bộ phim 2 tập này, đạo diễn Văn Lê đã tái dựng không khí phong trào đấu tranh trước ngày giải phóng của thanh niên, sinh viên, học sinh Sài Gòn- Gia Định, qua 6 tấm gương liệt sĩ Thành đoàn TP.HCM: Đỗ Ngọc Thành, Lê Minh Quới, Trần Quang Cơ, Bùi Minh Trực, Nguyễn Điền và Hồ Hảo Hớn.

+Bạn cũng có thể xem bộ phim tư liệu Gia Định – Sài Gòn, điệu hát câu hò ngày ấy cũng được thực hiện trong dịp này. Phim do nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng viết kịch bản, tái hiện những cảnh đời thường trong phong tục tập quán cổ xưa; sự giao lưu văn hóa của các hình thức diễn xướng dân gian sinh động, dí dỏm và hòa quyện trong các giai điệu trữ tình…

Phim có sự tham gia của các nghệ sĩ Nhất Sinh, Bích Phượng, Tô Thanh Phương, Cao Minh…

H.P.

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

ĐỖ NGỌC THẠNH

“Anh Ba học sinh”

http://nvhtn.org.vn/WebNVH_TT/index.php?option=com_content&view=article&id=103:-ngc-thnh&catid=37&Itemid=59

Sinh năm 1930, quê ở miền Bắc, theo gia đình vào Sài Gòn từ trước 1945. Học sinh trường Chasseloup Laubat (PTTH ). Tháng 2-1947 vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

9-1947 được giao phụ trách Hội Học sinh Việt Nam Nam bộ (thực chất là Đoàn Học sinh Cứu quốc trong nội thành Sài Gòn – Chợ Lớn). Từ đó đến 1951, đồng chí là người chỉ đạo phong trào đấu tranh ở các trường, là người Bí thư đầu tiên của Đảng Đoàn học sinh đầu tiên của khu Sài Gòn – Chợ Lớn.

Ngày 29-11-1951, đồng chí bị bắt, bị địch tra tấn dã man đến chết, xác bị địch vứt xuống Cầu Kinh – Thanh Đa.

Thời ấy, ít có ai biết được anh tên gì, khi gặp gỡ hay khi nói về anh, anh chị em chỉ gọi anh là anh Ba học sinh.

Đó là một thanh niên có dáng người hơi thấp, hơi mập, có nước da sạm nắng ngăm ngăm, nói năng khiêm tốn mà rất chững chạc, dễ thu hút. Trên chiếc xe đạo cũ kỹ, anh đạp lọc cọc trên các ngã đường của thành phố của nhiều điểm, nhiều nơi để liên lạc, để truyền đạt những chỉ thị của cấp trên, để hội họp sinh hoạt với các cơ sở…

Từ một gia đình công chức ở Long Xuyên (bây giờ là An Giang) năm 1945 anh lên Sài Gòn để đi học, ở nhà người chú lúc ấy đang làm thư ký thủ quĩ tại trường Chasseloup Laubat, trên góc đường Verdun và đường Chasseloup Laubat (nay là Cách mạng Tháng Tám và Nguyễn Thị Minh Khai). Nhờ những mối quan hệ quen biết qua gia đình từ trước, anh được giới thiệu tham gia cách mạng từ năm 1945 khi vừa 15 tuổi. Đến 1946, anh thi và được vào học lớp quatrième (năm thứ ba trung học) trường Chasseloup Laubat (nay là trường PHTH ). Đầu năm 1947, anh được kết nạp vào Đảng và tích cực xây dựng cơ cở hoạt động bí mật tại trường.

Anh Đỗ Ngọc Thạnh lúc bấy giờ nhận sự chỉ đạo trực tiếp của anh Phùng Lượng, thành ủy viên phụ trách học sinh nội thành, đã liên hệ được nhiều học sinh tại trường tham gia vào các hoạt động yêu nước như anh Tạ Trung Quốc, Nguyễn Ngọc Hà, các chị như Nguyễn Bình Minh, Nguyễn Bình Thanh, Nguyễn Bình Trang, v.v…

Học tại trường “Tây”, anh và các bạn Việt Nam càng cảm nhận rõ thân phận của người “bản xứ” bị con Tây khinh miệt và phân biệt đối xử. Trong năm 1947, anh và các bạn chứng kiến cảnh một học sinh Tây to con, con trai của viên chánh án Tòa án Sài Gòn, lấy khăn lau bảng ném vào đầu một học sinh Việt Nam, làm cho mặt mũi bệt đầy bụi phấn trắng. Một người bạn là anh Nguyễn Ngọc Hà hội ý với anh là phải xử trị thằng Tây con này. Anh và anh Hà cùng mười bạn trai nữa sau giờ tan học sáng, đón tên Pháp con trên đường Richaud (nay là Võ Văn Tần) buộc nó phải xin lỗi người bạn Việt. Tên này ngoan cố không chịu xin lỗi, bị anh Hà đánh gục trên lề đường. Một số Tây con đến bênh thằng bị đánh, nhưng anh em ta đông hơn nên chúng đành lủi thủi rút lui.

Mùa hè năm 1947, trong những tháng bãi trường, Thành ủy tổ chức một lớp học chính trị cho học sinh nội thành tại chiến khu Láng Le – Bàu Cò. Số học sinh tham gia lớp học này khá đông, gồm nhiều nhất là học sinh các trường Pétrus Trương Vĩnh Ký, Gia Long, Chasseloup Laubat, Marie Cuire và một số ở các trường Lê Bá Cang, Huỳnh Khương Ninh… Anh Ba học sinh được anh chị em biết từ lớp học này.

Sau khoá huấn luyện này, khi trở về thành, Thành ủy giao cho đồng chí Phùng Lượngtập hợp số học sinh cốt cán lại, tổ chức thành lập Hội học sinh Việt Nam – Nam bộ vào tháng 7-1947, và từ đó đến cuối năm, từ trong Hội, một số học sinh được kết nạp vào Đảng như anh Nguyễn Ngọc Hà ở trường Chasseloup Laubat, chị Đỗ Thị ở trường Gia Long, v.v… Đây có thể coi như đợt Đảng viên học sinh được kết nạp đầu tiên từ sau ngày toàn quốc kháng chiến.

Phong trào ở trường Chasseloup Laubat như được tăng thêm sức mạnh. Số quần chúng tốt tham gia vào Hội học sinh phát triển thêm đông đảo và các hoạt động bí mật cũng sôi nổi hơn. Ngày 19-5-1948 kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chủ tịch, tại nhiều trường học sinh có những hình thức tổ chức kỷ niệm đồng loạt. Trường Chasseloup Laubat cũng tổ chức như những trường , nhưng có khí thế hơn và táo bạo hơn. Đề phòng mật thám và giám thị có thể sẽ chặn cửa xét cặp học sinh lúc nào vào trường, các bạn học sinh Chasseloup Laubat tối hôm trước đã leo tường vào, chuyển truyền đơn đem giấu trước trong trường. Sáng hôm sau các bạn có nhiệm vụ rải phải vào sớm nhận truyền đơn rồi chờ nghe tiếng nổ làm hiệu lệnh mới đồng loạt tung ra. Và đúng vào lúc giờ ra chơi đầu tiên, các bạn tung ra một quả lựu đạn ở khu để xe đạp cho nổ tại khoảng sân trống, thế là truyền đơn được tung ra rải đều ở các dải lớp học. Tình hình này làm cho Ban Giám hiệu và cả mật thám Pháp tức tối và sợ hãi. Có nhiều truyền đơn rải đầy trường – một trường ưu đãi của người Pháp – đã là một việc không ổn rồi, lại còn có cả lựu đạn nổ như chỗ không người nữa! Thế là chúng cho truy lùng, tra xét và bắt bớ. Một số học sinh yếu tinh thần bị bắt đã khai báo. Thế là một số bạn bị bắt, một số bị đuổi học, một số phải chuyển trường.

Anh Đỗ Ngọc Thạnh biết mình đã bị lộ nên quyết định bỏ học, nhưng vẫn tiếp tục công tác.

Trong kỳ bãi trường nghỉ hè năm 1948, anh lại cùng một số học sinh ra bưng Láng Le – Bàu Cò về Vườn Thơm học tập chính trị và công tác. Từ mùa hè đến cuối năm, số Đảng viên được phát triển thêm, và số Hội viên Hội học sinh Việt Nam trong thành phố đã tăng lên nhiều và có mặt gần như ở khắp các trường.

Để lãnh đạo các cơ sở đã được hình thành tại các trường trong thành phố, trong năm 1949 Thành ủy cho thành lập một Ban chấp hành Hội Học sinh nội thành gồm có anh Đỗ Ngọc Thạnh và 4 đồng chí Đảng viên phụ trách các trường Chasseloup Laubat, Gia Long, Lê Bá Cang và Marie Curie.

Trong năm 1949, các trường học lại xảy ra nhiều sự kiện dồn dập. Trong tháng 5, đội dân quân nội thành vào trường Pétrus Trương Vĩnh Ký (nay là trường PHTH chuyên Lê Hồng Phong), diệt một tên chỉ điểm của Phòng nhì Pháp (cơ quan an ninh mật thám), những Đảng viên phụ trách trường bị lộ phải rút về chiến khu. Rồi đến ngày 1-11-1949, bốn học sinh của trường Pétrus Ký và một nữ học sinh trường Huỳnh Khương Ninh bị bắt (sau khi ra khu về). Số cán bộ phụ trách chung phong trào chung học sinh bị hao hụt. Anh Ba học sinh đáng lẽ cũng phải rút về chiến khu, tình nguyện ở lại để cáng đáng công việc. Nhiệm vụ giao cho anh là tập hợp lực lượng học sinh các trường đẩy mạnh phong trào hưởng ứng cuộc đấu tranh của nhân dân thành phố chống “giải pháp Bảo Đại”, chống độc lập giả hiệu, đòi Pháp phải thương lượng với chính phủ do tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, rồi sau vụ Pháp bắt 5 học sinh, đòi bảo đảm an ninh cho học sinh, phải thả các học sinh bị bắt. Nhiệm vụ đó chính là nhiệm vụ của một Bí thư Đảng Đoàn học sinh, có trách nhiệm phải giữ vững và phát triển lực lượng, giữ vững và đưa phong trào đấu tranh từng bước lên cao hơn.

Trong trách nhiệm đó, anh đã cùng các đồng chí phụ trách hai trường Pétrus Ký và Gia Long quyết định đồng loạt bãi khóa ở cả hai trường với khẩu hiệu đòi thả các học sinh bị bắt, kết hợp với đòi bảo đảm an toàn cho học sinh đi học, chống độc lập giả hiệu trong ngày kỷ niệm Nam Kỳ khởi nghĩa 23-11-1949.

Ngày 24-11-1949, Nha Học chánh Nam Việt ra lệnh đóng cửa hai trường vô thời hạn. Sự kiện này mở màn cho cuộc đấu tranh dai dẳng suốt tháng 12 của học sinh và phụ huynh học sinh đòi mở lại của trường và đòi thả các học sinh bị bắt, dẫn đễn cuộc biểu tình của hai ngàn học sinh vào ngày 9-1-1950.

Trong năm này, anh gặp người bạn thân từ thuở nhỏ là anh Phạm Xuân Ẩn. Cha của anh Ẩn là một ông họa đồ cùng học chung và tốt nghiệp một khóa với cha anh, vì thế mà hai gia đình rất thân nhau. Anh Ẩn học ở trường Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho, cũng là một cán bộ học sinh hoạt động rất tích cực. Cũng nên biết rằng trường Le Myre de Vilers (nay là trường PTTH Nguyễn Đình Chiểu – Mỹ Tho) có liên hệ mật thiết với phong trào học sinh của Sài Gòn, cũng bãi khóa, rải truyền đơn cùng một nhịp với Sài Gòn. Trường ở Mỹ Tho cũng bị đóng cửa sau nhiều đợt bãi khóa. Anh Ẩn bị lộ, chuyển chổ ở về Sài Gòn và cùng tham gia công tác với anh Đỗ Ngọc Thạnh. Các anh thường gặp nhau tại lò bánh mì Vita đường Lê Tùng Châu (nay là Lê Thị Riêng), nhà của anh Đỗ Ngọc Hà (lúc này đã đi học ở Pháp). Về sau, để tránh bị theo dõi, cả hai anh cùng vào ở trong nhà của ông bà Để (là một cơ sở của cách mạng) rong vòng thành Xã Tây – Chợ Lớn, được cảnh sát ngụy gác cổng bên ngoài. Ở đấy các anh được tự do nghe các đài Tiếng nói Việt Nam của kháng chiến, đài Bắc Kinh, đài Mạc Tư Khoa, và cùng bàn bạc với nhau về những kế hoạch đấu tranh. Trong đám tang anh Ơn ngày 12-1-1950, anh Ẩn là người đứng ở hàng đầu cầm biểu ngữ có dòng chữ “toàn thể học sinh Nam Việt”. Về sau, sau một khóa học chính trị ở chiến khu, anh được giao một nhiệm vụ đặc biệt lặn sâu vào hàng ngũ địch và sau ngày giải phóng anh được phong là Anh hung lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, hiện nay mang hàm thiếu tướng.

Anh Ba học sinh cũng là người liên hệ trực tiếp với các anh chị Bình Minh, Bình Thanh lúc đó là Đảng viên phụ trách trường Marie Curie, cũng như các anh chị Huỳnh Ngọc Thanh, Huỳnh Ngọc Thu lúc đó đang phụ trách trường Gia Long.

Trong cuộc biểu tình ngày 9-1-1950, anh là một trong số các đồng chí chỉ đạo trực tiếp có mặt tại hiện trường cũng như trong đám tang anh Ơn. Trong suốt năm 1950, qua các phong trào cứu tế đồng bào bị đốt nhà ở khu Bàu Sen – đình Tân Kiểng và cuộc mit tinh tuần hành chống Mỹ ngày 19-3-1950 và những cuộc đấu tranh đó, anh vẫn là người dìu dắt, người hướng dẫn tận tâm tận tình luôn ở bên cạnh các đồng chí, đồng đội trong mọi tình huống khó khăn. Chị Huỳnh Ngọc Thanh kể kại rằng: “Ngày đó (9-1-1911), sang sớm anh Ba dù bị lộ vẫn đến. Như con thoi, anh chạy từ nơi này đến nơi chỉ đạo: lúc nào tiến, khi nào Ban đại diện công khái tiếp xúc, rồi lại mua sơn, các thứ vẽ trương khẩu hiệu ngang dọc trước dinh Thủ hiến…

… “Anh Ba dìu dắt tôi từng bước, phải làm gì, vận động thế nào, bàn bạc rất chi tiết nhưng không mệnh lệnh”.

“… Anh hỏi han tôi thích đọc sách gì. Tôi nói tên tác giả: Delly và Max du Veuzit. Thời đó thư viện trường chỉ có loại sách đó thôi. Anh cười và khuyên: “Chị đừng đọc những loại sách đó nữa, đó chỉ là tình cảm lãng mạn.”

“Thế là lần lượt anh cho tôi mượn những cuốn Người mẹ cầm súng của Maxime Gorki, Thép đã tôi thư thế đấy, Chùm thơ phẫn nộ (các bản dịch tiếng Pháp), v.v…”

Anh chấp nhận đối mặt với nguy cơ ở trong lòng địch, để góp sức giữ vững phong trào.

Ngày 29-11-1951, một tên phản động đã nhận dạng được anh và bọn mật thám đã bắt cóc anh tại chợ Thái Bình trước trụ sở của Hội Dục Anh ở góc đường Frère Louis và Arras (nay là Nguyễn Tãi và Cống Quỳnh). Anh bị địch tra tấn dã man nhưng khẳng khái không khai một lời nào. Anh Phạm Xuân Ẩn kể lại rằng:

“Nột hôm một học sinh bạn của anh Ba học sinh đến tìm tôi và cho hay là anh Ba học sinh vừa bị bắt ở chọ Thái Bình… Tôi đến báo tin cho chị Đõ Thị Kim, chị ruột của Ba học sinh, ở nhà ông giáo ở ngã tư Verdun – Chasseloup Laubat.”

“Ba của Ba học sinh là ông Đỗ Như Khương tức tốc đến nhà ông tòa Trí lúc đó là Procureur général (biện lý) Tòa thượng thẩm Sài Gòn nhờ can thiệpdùm. Ít hôm sau, ông tòa Trí cho biết: Đỗ Ngọc Thạnh sau khi bị bắt thì đêm đó đã bị đem đi thủ tiêu ở Cầu Kinh và xác đã bỏ xuống sông Sài Gòn. Ông tòa Trí là bạn của Ba học sinh yêu cầu ông giữ bí mật và đừng gõ cửa những nơi cho mất công. Cả gia đình và bạn đấu tranh của Ba học sinh đã đi tìm xác anh trên bờ sông Sài Gòn nhưng vô hiệu quả”.

Về sau, các bạn của anh biết được rằng anh đã quyết tâm không khai bất cứ điều gìkhi bọn lính đem anh lên hỏi cung với dụng cụ để tra tấn, Không đợi chúng nhứ điện vào người để tra tấn anh phải nói, anh thọt tay ngay vào nguồn điện giật đến ngất luôn. Không khai thác được gì chúng đem anh ra Cầu Kinh xóm Dừa (Thanh Đa), xốc anh lên và nện đầu anh xuống thành đến vỡ sọ rồi ném xác anh xuống sông… Anh Ba học sinh đã cống hiến trọn cuộc đời 21 tuổi cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nêu cao hào khí kiên cường của người cộng sản trẻ tuổi!

Anh đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 28-5-2000.

NGUYỄN VĂN THIỆN

Theo lời kể của các bạn cùng công tác với anh Ba

(Trích Theo nhịp khúc lên đàng)

http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Tim-mo-liet-si-Do-Ngoc-Thanh/40090038/478/

Đỗ Ngọc Thạnh (1930 – 1951)

http://vinhanonline.com/index.php/nhan-vat/lich-su/962-do-ngoc-thanh-1930-1951

Liệt sĩ Đỗ Ngọc Thạnh (1930 – 1951), tên thường gọi là Ba học sinh, sinh năm 1930, quê ở miền Bắc, theo gia đình vào Sài Gòn từ trước năm 1945. Cha là ông Đỗ Như Khương, tốt nghiệp trường Cao đẳng Công Chánh – Hà Nội. Sinh thời làm chuyên viên đồ họa.

Năm 1946 vào học trường Chasseloup Laubat, Đỗ Ngọc Thạnh đã xây dựng được cơ sở hoạt động bí mật tại trường này và đã đưa phong trào đấu tranh tại đây lên rất cao.

Tháng 2 năm 1947, được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tháng 7 năm 1947, đưa một học sinh nội thành vào dự lớp chính trị của Thành uỷ tổ chức tại chiến khu Láng Le – Bàu Cò về Đồng Xoài, Vườn Thơm, Bình Hòa.

Tháng 9 năm 1947, được giao nhiệm vụ phụ trách Hội học sinh Việt Nam – Nam Bộ tại nội thành, thực chất đây là đoàn học sinh cứu quốc trong nội thành Sài Gòn – Chợ Lớn.

Từ đấy cho đến năm 1951, là người chỉ đạo đấu tranh tại các trường, tổ chức các vụ rải truyền đơn kỷ niệm ngày lễ cách mạng và các cuộc đấu tranh chống độc lập giả hiệu của nguỵ quyền Bảo Đại.

Năm 1948, sau vụ rải truyền đơn kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chủ tịch, cơ sở tại trường Chasseloup Laubat bị bể bạc, Đỗ Ngọc Thạnh thôi học và thoát ly hẳn để phục vụ kháng chiến.

Đỗ Ngọc Thạnh là người Bí thư Đảng Đoàn học sinh đầu tiên của Khu Sài Gòn – Chợ Lớn.

Trong năm 1950, là Bí thư chi bộ các trường trung học, Đỗ Ngọc Thạnh đã hoàn thành xuất sắc vai trò là người lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp những phong trào đấu tranh của học sinh trong việc đề ra chủ trương, khẩu hiệu đấu tranh, các bước phát động quần chúng và phối hợp các lực lượng để bảo đảm thắng lợi các cuộc đấu tranh có quy mô lớn như:

– Cuộc biểu tình ngày 09-01.

– Đám tang học sinh Ơn ngày 12-01.

– Phong trào cứu trợ các nạn nhân bị hỏa hoạn ở khu Bàu Sen, đình Tân Kiểng ngày 12-03.

– Điều động lực lượng học sinh tham gia tuần hành phải đối tàu Mỹ vào cảng Sài Gòn ngày 19-03-1950. góp phần làm nên thắng lợi của “Ngày toàn quốc chống Mỹ”.

Đỗ Ngọc Thạnh luôn có mặt tại các điểm nóng của cuộc đấu tranh, kịp thời chỉ đạo bổ sung hoặc uốn nắn những động tác không phù hợp với tình hình thực tế.

Ngày 29-11-1951, Đỗ Ngọc Thạnh bị một tên phản bội nhận dạng, mật thám giặc bắt cóc đồng chí tại chợ Thái Bình trước trụ sở hội Dục Anh (ở góc đường – Cống Quỳnh bây giờ), bị địch tra tấn, đập vỡ đầu đồng chí, vứt xác xuống cầu Kinh – Thanh Đa.

Cái chết của Đỗ Ngọc Thạnh được ông Trí, Chưởng lý tòa Thượng thẩm Sài Gòn báo riêng cho cha của Đỗ Ngọc Thạnh là ông Đỗ Như Khương biết, cả đến những chi tiết về cái chết anh dũng của Đỗ Ngọc Thạnh trong tay giặc.

Tìm mộ liệt sĩ Đỗ Ngọc Thạnh

ĐỖ THỊ KIM OANH (em gái của liệt sĩ Đỗ Ngọc Thạnh) | 22/07/2005 20:31 (GMT + 7)

http://tuoitre.vn/Ban-doc/Ban-doc-gui-bai-viet/90038/Tim-mo-liet-si-Do-Ngoc-Thanh.html

TTO – Gia đình chúng tôi là thân nhân liệt sĩ Đỗ Ngọc Thạnh. Anh bị Tây bắt, tra tấn dã man rồi bỏ vào bao bố, liệng xuống sông Sài Gòn. Chúng tôi rất đau thương trước cái chết thê thảm của người thân và mấy chục năm qua vẫn hy vọng có một ngày tìm được xác anh.

Có một nguồn tin rằng cách đây vài năm, báo Công an TP.HCM đăng một mẩu tin cho biết “đồng đội của liệt sĩ Đỗ Ngọc Thạnh đã tìm thấy hài cốt anh và đem về nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM”. Chúng tôi đã không đọc báo Công an trong thời gian đăng mẩu tin đó và cũng không biết nhờ cơ quan nào xác định việc này.

Kính mong các đồng đội của liệt sĩ Đỗ Ngọc Thạnh nếu có thông tin gì thì thông báo giúp chúng tôi (Địa chỉ liên lạc: 42 Nguyễn Huy Lượng, P.14, Q. Bình Thạnh, TP.HCM; điện thoại: 08.8412193).

Xin nhận nơi đây lòng cảm ơn thành thật nhất của gia đình chúng tôi.

Thành đoàn – Một thời hoa lửa: Những đóa hoa bất tử

Thứ Hai 7:14 27/03/2006

http://hanoimoi.com.vn/Ban-in/Phong-su-Ky-su/80899/thanh-273;oan—m7897;t-th7901;i-hoa-l7917;a-nh7919;ng-273;oa-hoa-b7845;t-t7917;

221 là con số thống kê chưa đầy đủ về các liệt sĩ của Thành đoàn đã hi sinh trong một phần tư thế kỷ (1950-1975). Sự hi sinh anh dũng của họ ở tuổi để lại cho bao thế hệ thanh niên hình ảnh của những đóa hoa bất tử. Họ ngã xuống để người được sống, để động viên những người đi tới vững bước hơn…

Ươm mầm sự sống

Ông Phạm Đắc Lộc cho chúng tôi xem những tấm ảnh hiếm hoi còn lại của con gái – liệt sĩ Phạm Thị Thu Vân. Ông Lộc kể rằng khi mới 7-8 tuổi, Vân đã theo mẹ đi mittinh, biểu tình, cứu trợ lũ lụt… Năm 1954, khi ông Lộc ra tù, Vân tròn 5 tuổi. Lúc đầu, cô bé không chịu nhận cha vì “ba của con ở Côn Đảo”.

Đến năm 1959, bố mẹ lại bị bắt khi Vân mới 10 tuổi. Sự kiện đó đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong suy nghĩ của Vân. Mãi sau này ông Lộc mới biết con gái của ông đã trở thành một trong những nhân vật tổ chức đấu tranh của HS Trường Lê Văn Duyệt (nay là Trường THPT Võ Thị Sáu, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) với bí danh Bảy Thủy.

Năm 1967, ở Côn Đảo, ông nhận được thư con gái kể chuyện đi thăm mẹ ở nhà lao Phú Lợi, còn lá thư cuối cùng Thu Vân hứa với ông rằng “con sẽ trở thành người có ích”.

Sự hi sinh của liệt sĩ Thu Vân gắn liền với sự sống của Khao Kiến Quốc (bí danh Bé Đào). Cậu bé người gốc Hoa ấy là giao liên nhỏ tuổi nhất Thành đoàn lúc bấy giờ. Đợt hai năm Mậu Thân 1968, Quốc và hai chị Vân, Bua được giao nhiệm vụ dẫn đường cho một cánh quân tiến vào nội thành Sài Gòn.

Do giao tranh ác liệt trên đường hành quân, họ bị rớt lại giữa vòng vây địch, phải nấp dưới hầm một ngôi nhà bị cháy trơ nền. Đêm xuống, từng người rón rén chui lên tìm chút nước uống cầm hơi. Chị Vân dặn Quốc: “Chết thì chết, không đầu hàng nghe em!”.

Ngày thứ ba, kẻ thù ném một trái lựu đạn xuống hầm. Khi thấy một đốm lửa lóe sáng, Quốc bình thản nhắm mắt chờ chết, chị Vân bất ngờ choàng người lên cậu bé. Tỉnh dậy, Quốc thấy mình nằm trên mặt đất, máu ra nhiều ở hai chân, còn xác hai chị Vân, Bua nằm trên một đống rơm.

Địch đưa Quốc lên trực thăng chở đi. Từ trên cao, Quốc thấy hai chị nằm trơ trọi giữa cánh đồng mênh mông. Về Sài Gòn, Quốc bị đem vứt vô bệnh viện. Nhờ một người đạp xích lô tốt bụng, anh nối được liên lạc với gia đình.

Gần 40 năm trôi qua, Bé Đào ngày ấy bây giờ đã là một người đàn ông ngoài 50 tuổi, trong nhà ông thờ một người con gái mặc áo trắng học trò. Nhiều năm qua, Quốc thay chị Vân chăm sóc song thân chị đang tuổi xế chiều. Nhiều lần anh tìm trở lại chiến trường xưa, thắp nén nhang cho hai người con gái đã dành cho mình sự sống

Mãi mãi

Nữ liệt sĩ Trần Bội Cơ còn một người em gái tên Trần Bội Anh hiện đang sống tại Q.5, TP.HCM. Theo lời bà Anh, bố mẹ bà gốc người Phúc Kiến (Trung Quốc), nhưng chị em bà sinh ra và lớn lên ở Vĩnh Long, sau đó được gửi lên Sài Gòn ăn học.

Vào ngày 4-5 hằng năm, các trường của người Hoa ở Sài Gòn lúc bấy giờ bị đóng cửa vì trước đó đã từng có bạo động của học sinh vào ngày này. Bội Cơ và các bạn học quyết tâm đấu tranh đòi bãi bỏ qui định ấy. Ngày 6-5-1950, trong lúc đang diễn thuyết trước đám đông học sinh, Bội Cơ bị cảnh sát ập vào lôi về bót tra tấn dã man. Chị hi sinh ngày 12-5-1950 khi mới 18 tuổi.

Bội Cơ bị sát hại lúc cô em gái Bội Anh đã về Vĩnh Long. Biết tình hình Sài Gòn bất ổn nên bố của chị, ông Trần Thủy Nam, tức tốc lên Sài Gòn định đón con gái về nhưng không kịp. Tại nhà xác Bệnh viện Chợ Rẫy, ông Nam đã ngất xỉu khi thấy thân xác không toàn vẹn của Bội Cơ.

Lo sợ xảy ra một “sự kiện trò Ơn” thứ hai, chính quyền cho phép ông Nam làm đám tang nhưng phải chôn ngay và không được tụ tập đông người. Ông Nam mua nguyên cây vải quấn xác Bội Cơ, nhưng những giọt máu tươi của người con gái vẫn nhỏ xuống trên suốt dọc đường về nơi yên nghỉ. Mặc cho cảnh sát ngăn cản, nhiều người vẫn cứ đi theo tiễn biệt người con gái kiên trung.

Sau cái chết của chị, có hơn 300 lá khắp nơi gửi về, nhiều người tìm đến nhà . Ngày 2-9-1950, Trần Bội Cơ được Nhà nước VN dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 2, và đến năm 2000 được truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau ngày 30-4-1975, mộ chị được di dời từ Q.11 về nghĩa trang Lạc Cảnh, sau đó về yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM. Bà Trần Bội Anh, 73 tuổi, nói: “Nhà chỉ có chị Cơ là trẻ mãi”.

Thêm vững tin bước tới

Đến tận bây giờ bà Huỳnh Ngọc Thu – cựu nữ sinh Trường Gia Long (nay là THPT Nguyễn Thị Minh Khai, TP.HCM) – vẫn còn nhớ như in hình ảnh “anh Ba học sinh” Đỗ Ngọc Thạnh – một thanh niên đậm người, da ngăm, nói năng khiêm tốn, hằng ngày lọc cọc đạp xe đến các điểm hẹn tổ chức phong trào đấu tranh của SVHS.

Còn với bà Huỳnh Ngọc Thanh (chị bà Thu), anh Thạnh là một lãnh đạo phong trào đáng nể: “Anh hướng dẫn tôi phương pháp vận động quần chúng đấu tranh”. Trong cuộc biểu tình ngày 9-1-1950 dẫn đến sự kiện “đám tang trò Ơn”, mặc dù đã bị lộ nhưng anh Thạnh vẫn chạy như con thoi trực tiếp chỉ đạo đấu tranh. Để kéo bà Thanh ra khỏi những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, anh Thạnh còn cho mượn những cuốn sách “tiến bộ” như Chùm nho phẫn nộ, Thép đã tôi thế đấy, Người mẹ…

Theo lời bà Đỗ Thị Kim Oanh, anh trai Đỗ Ngọc Thạnh của bà ngày trước là đứa con “cứng đầu” nhất trong gia đình. Ông Đỗ Như Khương, bố anh Thạnh, khi đó là một quan chức cao cấp ngành địa chính, từng cảnh cáo “đứa nào làm chính trị tao từ luôn”. Và ông đã làm như thế khi biết con trai thoát ly theo cách mạng.

Đầu năm 1947, Đỗ Ngọc Thạnh vào Đảng ở tuổi 17, sau đó được giao phụ trách Hội HS VN Nam bộ, rồi bí thư Đảng đoàn đầu tiên của khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Tháng 11-1951, một tên phản động chỉ điểm và mật thám Pháp đã bắt anh Thạnh tại góc đường Frère Louis-Arras (nay là góc – Cống Quỳnh).

Đối phương tra tấn anh dã man nhưng không khai thác được gì nên đem thủ tiêu, ném xác xuống cầu Kinh (Thanh Đa). Đến năm 2000, Đỗ Ngọc Thạnh được truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhớ về “anh Ba” Đỗ Ngọc Thạnh, bà Huỳnh Ngọc Thanh nói trong xúc động: “Những lúc bị tra tấn khốc liệt, tôi lại nghĩ tới tấm gương hi sinh anh dũng của anh Ba để tự động viên mình thêm vững tin bước tới”.

Theo TT

ANHTHU

Khắc họa hình ảnh những sĩ phu cộng sản

http://www.tienphong.vn/Page/PrintView.aspx?ArticleID=46286

TP – Thành công về đề tài phim lịch sử với “Thành Đoàn thời bí mật” (năm 1997-1998, 2 tập), đạo diễn, biên kịch Văn Lê bắt tay vào thực hiện tiếp 2 tập phim “Họ hy sinh vì Tổ quốc”.

Từ tháng 9/2005 anh bắt tay viết kịch bản, tháng 12/2005 khởi quay, đến ngày 20/3/2006 tập 1 bộ phim (dài  90 phút) hoàn thành.

Phim đưa khán giả quay về Sài Gòn năm 1945, tại Trường Trung học Chasseloup Laubat (nay là trường ) với hình ảnh anh thanh niên Đỗ Ngọc Thạnh- Bí thư Đảng- Đoàn đầu tiên của khu Sài Gòn- Chợ Lớn.

Sinh năm 1930 ở Bố Trạch (Quảng Bình)- Đỗ Ngọc Thạnh là cháu nội quan Thượng thư Đỗ Phú Túc- Hiệp tá đại thần Nam triều. Anh sớm giác ngộ, năm 17 tuổi, được kết nạp vào Đảng, được Thành ủy bố trí hoạt động gây dựng phong trào đấu tranh trong HSSV.

Trong phim,  người xem gặp lại hình ảnh những chiến sĩ cách mạng Nguyễn Kiệm, Huỳnh Khương Ninh, Lê Bá Cang, Lê Minh Quới, Nguyễn Điền, Bùi Minh Trực, Trần Quang Cơ, Lê Minh Châu, Nguyễn Thị Châu, Lê Hồng Tư, Phạm Trọng Danh, Hồ Hảo Hớn, Lê Quang Vịnh…qua lời kể của chính nhân vật còn sống, những người thân, trong đó có nhà tình báo Phạm Xuân ẩn.

Họ là những thanh niên trí thức trẻ theo cách mạng tiếp bước Đỗ Ngọc Thạnh (anh hy sinh ngày 29/11/1951).

Không thể kể hết những thành tích, sự dũng cảm của 215 gương liệt sỹ, anh hùng của Thành Đoàn có tên trong hai cuộc kháng chiến, nhưng với 90 phút của phim , đạo diễn Văn Lê đã mang đến cho người xem bức tranh rất đậm nét về những tấm gương, phong trào đấu tranh rất tiêu biểu với rất nhiều chi tiết, hình ảnh, tư liệu độc đáo, quý hiếm về đám tang Ơn lần đầu tiên công bố và rất xúc động.

Đạo diễn Văn Lê hé mở: ít người biết  anh Đỗ Ngọc Thạnh hoạt động bí mật tại nhà chú của tướng Nguyễn Cao Kỳ, lại có người quen biết rất thân với  chú ruột bà Trần Lệ Xuân vợ Ngô Đình Nhu làm ở Tối cao Pháp viện.

Tâm sự về các nhân vật trong phim, Văn Lê xúc động: Họ là những “sĩ phu cộng sản” .

Đã xem 11 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments