Bài 3. Lý Tự Trọng được bọn quỷ kể lại rất mâu thuẫn.

Những mâu thuẫn khi kể về Lý Tự Trọng.

  1. Những vô lý khi Hồ Chí Minh viết về Lý Tự Trọng. (Thanh niên anh hùng Lý Tự Trọng (26-3-1964)
    Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11 (1963 – 1965) )

1.1 Chỉ có 8 người mà Hồ lại kể là 10, và chẳng nêu tên một ai nữa cả: “Hội bèn chọn lấy 10 em gái và trai, con Việt kiều ở Xiêm đưa đến Quảng Châu, trong số đó có em Trọng 11 tuổi.”

1.2 Không nói ai đưa Trọng về Sài gòn, sau này mới thêm là Châu Văn Liêm đưa trọng về Sài Gòn: “Ít lâu sau, Trọng được phái về Sài Gòn, vẫn làm việc liên lạc bí mật. Lúc đó đoàn thể nghèo túng, thường thường Trọng phải làm công ở bến tàu để tự nuôi mình.”

1.3 Không nói Trọng bảo vệ cho ai diễn thuyết, sau này mới nói là Phan Bôi.

“Nǎm 1931, nhân ngày kỷ niệm Yên Bái khởi nghĩa, Đảng cử một số cán bộ đi tuyên truyền chớp nhoáng. Một đồng chí cán bộ đến diễn thuyết ở sân đá bóng Sài Gòn. Đồng chí Trọng thì phụ trách bảo vệ đồng chí cán bộ ấy. Khi đồng chí cán bộ bắt đầu nói chuyện với quần chúng thì bọn ma tà ập đến, dẫn đầu chúng là một tên mật thám Tây. Để cho người cán bộ chạy thoát, đồng chí Trọng bắn chết tên chó sǎn Tây. Nhưng đồng chí Trọng lại bị bắt. Hôm đó là mồng 8 tháng 2 nǎm 1931.”

1.4 Vô lý.

Hồ viết bài báo này dựa vào cuốn: Đông Dương kêu cứu  “Trong quyển Đông Dương kêu cứu nêu những tội ác của thực dân Pháp, bà Viôlít (một ký giả Pháp nổi tiếng) đã viết chuyện về đồng chí Trọng đại ý như sau:

Khi dẫn bà đến thǎm đồng chí Trọng ở xà lim những người bị án tử hình, người Pháp gác ngục ngậm ngùi nói với bà rằng: y không khỏi kính trọng dân tộc Việt Nam…”

Nhưng trong cuốn Đông Dương kêu cứu lại không có ai là Trọng cả. Chắc chắn phần thêm (tức là Trọng) là do Trầm Hương – người viết bài báo Tấm gương lớn của “Ông nhỏ” Lý Tự Trọng đăng trên báo Công an nhân dân ngày 06/04/2010 đã thêm vào.

Bà André Violis lúc bấy giờ đến Sài Gòn, vào khám thăm Lý Tự Trọng, đã vô cùng kính phục người chiến sĩ Cộng sản nhỏ tuổi. Khi về Pháp, bà đã viết một loạt bài và cuốn sách “Indochine S.O.S” (Đông Dương cấp cứu!) trong đó vạch trần chính sách tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương và phản đối án tử hình đối với Lý Tự Trọng.

Nhờ sự dấn thân của bà mà hậu thế biết được phút cuối cùng của Lý Tự Trọng: “Ngày 21/11/1931 thì Huy (tức là Trọng) bị đem xử tử. Sài Gòn hết sức xúc động. Hôm ấy phải ra lệnh thiết quân luật. Từ khám lớn vang ra ngoài đường phố, tiếng la hét của tù chính trị. Tiếng thét từ lồng ngực và từ trái tim của họ đã đi theo Huy ra trường chém…

  1. Những vô lý khi Phạm Hùng kể (TRONG XÀ LIM ÁN CHÉM – HỒI KÝ CÁCH MẠNG NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC Hà-nội-1976)

2.1 Không thể có chuyện: “Anh Trọng đã ở đây ư? Góc xà-lim có mấy tờ sách in khổ nhỏ, đã ngả màu vàng: mấy trang Kiều của Nguyễn Du mà anh Trọng để lại. Nhà thơ lớn của dân tộc theo con người cộng sản vào tận xà-lim án chém” (Hồi ký này ghi ở dưới là (Đồng chí Phạm Hùng kể, T.Đ ghi) Nhưng theo Trần Đĩnh mới tiết lộ trong cuốn Đèn Cù là do Trần Đĩnh viết hộ Phạm Hùng và mấy người khác.)

2.2 Theo Phạm Hùng thì: “Tôi bị bắt ở Mỹ-tho. Về cái “tội biểu tình có giết người, đốt phá và quấy rối trị an”. Cuộc biểu tình ấy là cuộc biểu tình 1-5 đầu tiên ban ngày ở Mỹ-tho năm 1931. Lần ấy, quần chúng bắt và xử bắn một tên hương quản rất gian ác.” Tức là Phạm Hùng bị tội tử hình là do: “, quần chúng bắt và xử bắn một tên hương quản rất gian ác”, ấy vậy nhưng ở vụ Lý Tự Trọng thì sao?

Trọng là một người chưa thành niên thì bị tử hình, trong khi mấy người kỳ cựu Cộng sản, bí thư Tỉnh ủy chỉ bị tội vài năm rồi tha?

  1. Phan Bôi, Hà Huy Giáp người chủ mưu diễn thuyết chỉ tù vài năm còn Lý Tự Trọng – người chưa thành niên thì bị tử hình?

Phan Bôi, Hà Huy Giáp người chủ mưu diễn thuyết (kỳ cựu Cộng sản, bí thư Tỉnh ủy) chỉ bị tù vài năm theo một vụ án khác: “Năm 1931, trong một cuộc mít tinh vào chiều ngày 8 tháng 2, Phan Bôi được Thành ủy Sài Gòn cử phụ trách tổ chức diễn thuyết trước quần chúng trên đường … Cảnh sát Pháp ập đến bao vây. Tên thanh tra mật thám Pháp Le Grand nhảy tới định bắt Phan Bôi liền bị Lý Tự Trọng bắn chết. Địch vây bắt Lý Tự Trọng, Phan Bôi, Hà Huy Giáp và nhiều đồng chí khác đưa về giam ở bót Catinat. Ba anh em ruột là Phan Nhụy, Phan Bôi và Phan Tháo đều bị bắt cùng lúc. Lý Tự Trọng bị Pháp đưa vào biệt giam ở khám lớn và đưa ra chém ngày 20/11/1931. Một tháng sau địch chuyển Phan Bôi từ bót Catinat qua khám lớn trong suốt 2 năm mới đưa ra tòa xử trong vụ án gọi là “Vụ án Đảng Cộng sản Đông Dương’. Phan Bôi bị kết án 20 năm tù khổ sai đày ra Côn Đảo. Trong thời gian ở Côn Đảo, Phan Bôi cùng nhiều đồng chí khác, trong đó có đồng chí Lê Duẩn lập ra Chi bộ Đảng.

Năm 1936, Mặt trận Bình Dân lên cầm quyền ở Pháp, tù chính trị được trả tự do. Từ Côn Đảo trở về, Phan Bôi tham gia hoạt động Mặt trận Dân chủ Đông Dương ở Quảng Nam Đà Nẵng”

  1. Nên nhớ, nếu chỉ diễn thuyết công khai thì không làm gì có chuyện: “Cảnh sát Pháp ập đến bao vây. Tên thanh tra mật thám Pháp Le Grand nhảy tới định bắt Phan Bôi liền bị Lý Tự Trọng bắn chết. ”!
  2. Nên nhớ, nếu diễn thuyết công khai mà bị bắt tới mức người bảo vệ phải bắn chết người Pháp thì Đảng CS Đông dương đã không làm!
  3. Nên nhớ, Pháp đã xử bắn thì thường không mất mộ, nhưng ở đây có chuyện: Phàm là những người Cộng Sản Việt Nam mà nói bị Pháp bắn thì rất hay mất mộ! Đây là một bí ẩn, tôi sẽ trở lại đề tài này sau: “Tìm thấy mộ Lý Tự Trọng: Theo thông tin của hội đồng hương Hà Tĩnhtại Thành phố Hồ Chí Minh, mộ của liệt sỹ Lý Tự Trọng “được tìm thấy tại công viên Lê Thị Riêng”. Còn theo một số thông tin địa phương thì được tìm thấy dưới một ngôi nhà 3 tầng ở Thành phố Hồ Chí Minh, gần khu vực tìm thấy mộ cố tổng bí thư Trần Phú.” (vi.wikipedia.org)
  4. Nên nhớ, cách kể chuyện tổ chức diễn thuyết ở một sân đá bóng là một phiên bản thường thấy khi Hồ kể chuyện phét: “Một đồng chí cán bộ đến diễn thuyết ở sân đá bóng Sài Gòn.”, ta thấy khi Hồ kể chuyện thành lập đảng CS Đông Dương cũng ở một sân đá bóng. “Để giữ bí mật, hôm thì mấy anh em giả đánh “mạt chược” ở khách sạn, hôm thì đến sân vận động xem đá bóng. Sau mấy buổi bàn cãi sôi nổi, đến ngày 3 tháng Hai năm 1930 (vào dịp Tết âm lịch), ba phái đều đồng ý thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam.” (Vừa đi đường vừa kể chuyện – T.Lan, Nxb Chính trị quốc gia – 2008)
  5. Nên nhớ, cách kể về nhà giam của Phạm Hùng “Xà-lim án chém là một gian buồng hẹp, chiều ngang độ ba thước, chiều dài năm sáu thước. Ba bức tường kín và một tấm cửa sắt đóng bịt bùng. Trên một phía tường có “cửa sổ”: một miếng sắt đục lỗ li ti không đút lọt điếu thuốc lá. ” giống như cách kể chuyện của Hồ Chí Minh “Nhà giam Bác có ba tầng, mỗi tầng hai dãy xà lim. Cách xây dựng xà lim không xứng kích thước phổ thông chút nào! Bề cao 3 thước tây, mà bề ngang chỉ hơn 1 thước, bề dọc không đầy hai thước, bề rộng chỉ vừa một người nằm xiên xiên. Cao chót vót trên đầu tường chỉ có một cái cửa sổ nhỏ hình nửa mặt trăng lờ mờ, bị song sắt và lưới sắt bưng bít. ” (Vừa đi đường vừa kể chuyện – T.Lan, Nxb Chính trị quốc gia – 2008)

Thanh niên anh hùng Lý Tự Trọng (26-3-1964)
Hồ Chí Minh toàn tập
tập 11 (1963 – 1965)

06/03/2003

Nǎm 1925, “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí” thành lập ở Quảng Châu. Mục đích của Hội là chuẩn bị điều kiện để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản.

Hội đã quyết định bồi dưỡng một nhóm trẻ em làm hạt nhân cho phong trào nhi đồng cách mạng sau này. Lúc đó không thể đưa trẻ em trong nước ra. Hội bèn chọn lấy 10 em gái và trai, con Việt kiều ở Xiêm đưa đến Quảng Châu, trong số đó có em Trọng 11 tuổi.

Em tên thật là Lê Vǎn Trọng. Để giới thiệu các em vào trường tiểu học (thuộc Trường đại học Tôn Trung Sơn), đồng chí Lý Thuỵ nhận các em là họ hàng thân thích. Vì vậy em Trọng cũng như các em khác đều đổi thành họ Lý.

Để nuôi các em ǎn học, một phần do đồng chí Lý Thuỵ phụ trách, một phần do các đồng chí Trung Quốc giúp đỡ. Các em không phải đi bán báo để lấy tiền nuôi mình, như có người đã nói sai.

Em Trọng thông minh, vui tính, siêng học, siêng làm; vóc người thấp nhỏ nhưng cứng cáp. Cho nên anh em quen gọi là “Trọng con”.

Nǎm 1927, bọn Quốc dân đảng phản lại cách mạng, khủng bố những người cộng sản một cách rất dã man. Trường Tôn Trung Sơn bị đóng cửa. Nhiều sinh viên gái và trai bị bắt, bị giết. Các đồng chí Việt Nam người thì phải trốn khỏi Quảng Châu, người thì rút vào bí mật, người thì bị bắt bỏ tù. Kỷ luật trại giam rất ngặt. Chúng cấm không cho bà con các chính trị phạm vào thǎm.

“Trọng con” lân la làm quen với những người gác ngục, rồi tìm cách vào thǎm các đồng chí Việt Nam và đặt được mối liên lạc bí mật. Thế là em Trọng bắt đầu hoạt động cách mạng.

Em không hề bị bắt ở Quảng Châu1*

Ba nǎm sau, “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí” bí mật rời đến Hương Cảng, Lý Tự Trọng làm việc liên lạc bí mật với anh em thuỷ thủ trên các tàu từ Hương Cảng đi Thượng Hải, Sài Gòn và đi Pháp. Ít lâu sau, Trọng được phái về Sài Gòn, vẫn làm việc liên lạc bí mật. Lúc đó đoàn thể nghèo túng, thường thường Trọng phải làm công ở bến tàu để tự nuôi mình.

Nǎm 1930, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất của Đảng ta quyết định tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản. Lúc đó đồng chí Trọng 16 tuổi là người vào Đoàn đầu tiên mà cũng là người đầu tiên được giao nhiệm vụ tuyên truyền và tổ chức cho Đoàn.

Trong hoàn cảnh bí mật mà vừa phụ trách việc giao thông liên lạc của Đảng, vừa tuyên truyền tổ chức cho Đoàn, vừa lao động để tự nuôi mình – thật là gian nan! Nhưng đồng chí Trọng luôn luôn vui vẻ và làm tốt mọi việc.

Nǎm 1931, nhân ngày kỷ niệm Yên Bái khởi nghĩa, Đảng cử một số cán bộ đi tuyên truyền chớp nhoáng. Một đồng chí cán bộ đến diễn thuyết ở sân đá bóng Sài Gòn. Đồng chí Trọng thì phụ trách bảo vệ đồng chí cán bộ ấy. Khi đồng chí cán bộ bắt đầu nói chuyện với quần chúng thì bọn ma tà ập đến, dẫn đầu chúng là một tên mật thám Tây. Để cho người cán bộ chạy thoát, đồng chí Trọng bắn chết tên chó sǎn Tây. Nhưng đồng chí Trọng lại bị bắt. Hôm đó là mồng 8 tháng 2 nǎm 1931.

Sau mấy trận bị bọn Pháp tra tấn cực kỳ dã man, đồng chí Trọng chết đi sống lại nhưng không khai một lời mà chỉ hô những khẩu hiệu cách mạng.

Để chúng khỏi tra tấn mãi, đồng chí Trọng cắn cho lưỡi sưng phù lên.

Trong quyển Đông Dương kêu cứu nêu những tội ác của thực dân Pháp, bà Viôlít (một ký giả Pháp nổi tiếng) đã viết chuyện về đồng chí Trọng đại ý như sau:

Khi dẫn bà đến thǎm đồng chí Trọng ở xà lim những người bị án tử hình, người Pháp gác ngục ngậm ngùi nói với bà rằng: y không khỏi kính trọng dân tộc Việt Nam vì đã có những người con oanh liệt như Trọng. Y không khỏi xấu hổ cho người Pháp tự xưng là vǎn minh mà đã tra tấn dã man một thanh niên như Trọng. Làm một người cha, y không nén nổi lòng thương xót một người bằng lứa con mình như Trọng…

Sau gần 10 tháng vô cùng đau khổ, ngày 21 tháng 11 nǎm 1931, Lý Tự Trọng, người thanh niên anh hùng 17 tuổi, bị lũ thực dân Pháp đưa lên máy chém! Để tỏ lòng thương tiếc đồng chí Trọng, luôn mấy hôm, anh em trong ngục đã tuyệt thực và hô vang khẩu hiệu chống thực dân Pháp.

Đồng chí Lý Tự Trọng đã nêu gương chân chính cách mạng cho chúng ta noi theo. Ngày nay, được Đảng giáo dục, có Đoàn dắt dìu, thanh niên chúng ta phải xung phong gương mẫu trong đạo đức, trong sinh hoạt, trong học tập, trong lao động; phải thực hiện khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Như thế, chúng ta mới xứng đáng là thế hệ thanh niên xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa vẻ vang.

Chiến sĩ

 ——————

Báo Nhân dân,số 3649, ngày 26-3-1964.

HỒI KÝ CÁCH MẠNG NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

Hà-nội-1976
I. PHẠM HÙNG kể:

DesantnhikVDV:
(PHẠM HÙNG)

TRONG XÀ LIM ÁN CHÉM
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,15867.0/wap2.html

CÒN SỐNG CÒN LÀM VIỆC

Khi tôi đến xà-lim án chém khám lớn Sài-gòn, xà-lim đã có ba người thường phạm cũng án xử tử. Thanh, Rỗ bị án lưu ngoài Côn-đảo, sau giết người bị lên án xử tử. Một Dậm thì can tội giết người ở Gia-định.

Tôi vào, họ biết tôi là tù chính trị. Ngay từ phút đầu đã cảm tình với tôi. Họ bảo tôi: “Ngày trước ông Nhỏ ở đây. Còn quyển Kiều của ông Nhỏ đó”. Trong xà-lim án chém, tù thường và cả ma tà, gác-điêng đều kính phục gọi Lý Tự Trọng là ông Nhỏ.

Anh Trọng đã ở đây ư? Góc xà-lim có mấy tờ sách in khổ nhỏ, đã ngả màu vàng: mấy trang Kiều của Nguyễn Du mà anh Trọng để lại. Nhà thơ lớn của dân tộc theo con người cộng sản vào tận xà-lim án chém, đến tận giờ lên máy chém. Anh Trọng đi, còn quyển Kiều đã rách trong xà-lim án chém và tên ông Nhỏ trong lòng mấy người tù thường bị tội tử hình.

Tôi xếp mấy trang Kiều lại, thương nhớ anh Trọng không để đâu cho hết.

Hôm chúng đem anh Trọng đi hành hình, tôi còn dưới khám Mỹ-tho. Trước hôm ấy, cả khám chúng tôi đấu tranh, bỏ ăn phản đối.

LB: Văn nhỉ! “Góc xà-lim có mấy tờ sách in khổ nhỏ, đã ngả màu vàng: mấy trang Kiều của Nguyễn Du mà anh Trọng để lại. Nhà thơ lớn của dân tộc theo con người cộng sản vào tận xà-lim án chém” Tù của CS có được vậy không?

Tôi bị bắt ở Mỹ-tho. Về cái “tội biểu tình có giết người, đốt phá và quấy rối trị an”. Cuộc biểu tình ấy là cuộc biểu tình 1-5 đầu tiên ban ngày ở Mỹ-tho năm 1931. Lần ấy, quần chúng bắt và xử bắn một tên hương quản rất gian ác.
LB: “quần chúng bắt và xử bắn một tên hương quản” Tên họ là gì?

Giống chuyện của Lê Văn Lương quá! Chuyện, cùng T.Đ ghi mà!
Đế quốc giải tôi đi đủ các khám. Sau tòa đại hình đặc biệt xử tôi tử hình, giải tôi về xà-lim án chém. Lúc ấy tôi mới hai mươi tuổi…

Xà-lim án chém là một gian buồng hẹp, chiều ngang độ ba thước, chiều dài năm sáu thước. Ba bức tường kín và một tấm cửa sắt đóng bịt bùng. Trên một phía tường có “cửa sổ”: một miếng sắt đục lỗ li ti không đút lọt điếu thuốc lá. Xà-lim tối như bưng, suốt ngày thắp một ngọn đèn nhỏ đòng đọc. Lại nóng vô chừng; phải ở trần chuồng mới chịu được. Nằm ngay sàn xi-măng, một chân đút vào cái cùm dài suốt chiều dài xà-lim. Vài ba tháng bọn ma tà mở cùm cho đổi chân một lần. Mỗi lần tôi đổi chân thì chúng phải đóng kín tất cả các khám khác, tập trung lính tráng, ma tà, gác-điêng rầm rập đến y như là tập trận rồi mới dám vào mở khóa còng.

Trong xà-lim, không có một tí gì bằng kim khí. Bát gáo dừa, thùng gỗ đai bằng mây. Chỉ có cái bô ỉa đái là bằng tôn.

LB: “chiều ngang độ ba thước, chiều dài năm sáu thước.” tả giống H quá! Chắc đọc nhiều lần tự truyện của H nên nhớ?

Đồng chí Phạm Hùng kể
T.Đ ghi

  1. Tấm gương lớn của “Ông nhỏ” Lý Tự Trọng

4:50, 06/04/2010

http://antg.cand.com.vn/vi-VN/tulieu/2010/4/71988.cand

Nếu còn sống, người Anh hùng Lý Tự Trọng đã ngoài 90 tuổi. Nhưng trong tâm thức người đang sống, anh vẫn trẻ trung ở tuổi 17 đẹp tươi. Và như mới hôm nào, trên đường phố Sài Gòn, trong cuộc mít tinh kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Yên Bái vào chiều ngày 8/2/1931, để bảo vệ cuộc diễn thuyết của chiến sĩ cách mạng Phan Bôi, Lý Tự Trọng lẫn trong dòng người, rút súng bắn chết tên mật thám Legrand.

Địch liên tục hỏi cung, đánh đập Lý Tự Trọng rất dã man, nhưng không hề khai thác được gì ở “Ông nhỏ”. Một ngày cuối xuân, thực dân Pháp đưa Lý Tự Trọng từ bót Catina đến tòa án để kết án anh tội tử hình. Trước vành móng ngựa, “Ông nhỏ” lên án bọn thống trị, kêu gọi nhân dân đứng dậy đấu tranh.

Khi luật sư bào chữa, cho anh còn tuổi vị thành niên, đã “hành động không suy nghĩ”, Lý Tự Trọng dõng dạc nói: “Tôi hành động không phải là không suy nghĩ. Tôi hiểu việc tôi làm. Tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng, con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác. Tôi tin rằng nếu các ông suy nghĩ kỹ thì các ông cũng cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi”. Bị tòa tuyên án tử hình, Lý Tự Trọng vẫn bình thản. Và khi tên thực dân cất tiếng hỏi “có ăn năn gì không”, anh nhìn thẳng về phía trước, kiên định trả lời: “Không ăn năn gì cả!”.

Trong xà lim án chém, anh đã sống những ngày lạc quan, vẫn tập thể dục, vẫn đọc Truyện Kiều… Những tên gác ngục, chủ khám khâm phục anh, gọi anh là “Ông nhỏ”. Còn đối với các đồng chí, anh được gọi là “Trọng con” đầy tin yêu, trìu mến. Thực dân Pháp nhiều lần lung lạc, dụ dỗ “Trọng con”, chỉ cần anh nói lời đầu hàng sẽ được thả, anh sẽ có được một cuộc sống giàu sang, êm ấm nhưng Lý Tự Trọng vẫn kiên quyết từ chối.

Bà André Violis lúc bấy giờ đến Sài Gòn, vào khám thăm Lý Tự Trọng, đã vô cùng kính phục người chiến sĩ Cộng sản nhỏ tuổi. Khi về Pháp, bà đã viết một loạt bài và cuốn sách “Indochine S.O.S” (Đông Dương cấp cứu!) trong đó vạch trần chính sách tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương và phản đối án tử hình đối với Lý Tự Trọng.

Nhờ sự dấn thân của bà mà hậu thế biết được phút cuối cùng của Lý Tự Trọng: “Ngày 21/11/1931 thì Huy (tức là Trọng) bị đem xử tử. Sài Gòn hết sức xúc động. Hôm ấy phải ra lệnh thiết quân luật. Từ khám lớn vang ra ngoài đường phố, tiếng la hét của tù chính trị. Tiếng thét từ lồng ngực và từ trái tim của họ đã đi theo Huy ra trường chém. Phải điều quân đội và lính cứu hỏa để phun nước đàn áp họ. Trong bức tường giam của Khám lớn đã xảy ra những chuyện như thế. Trước máy chém, Huy định diễn thuyết, song hai tên sen đầm nhảy xô đến không cho anh nói. Người ta chỉ nghe thấy tiếng anh kêu “Việt Nam! Việt Nam!”.

Bởi người cộng sản trẻ tuổi ấy quá đỗi anh hùng, đẹp hơn huyền thoại mà tôi tự hỏi mình: “Tại sao một thiếu niên mới 17 tuổi mà cứng cỏi, bản lĩnh đến vậy. Anh đã được hun đúc như thế nào để nhìn thẳng vào mặt kẻ thù, nói những lời gang thép, trí tuệ như thế?”.

Thật tình cờ, khi đến Quảng Châu tìm lại bóng dáng Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt – người phụ nữ Nam Bộ cải nam trang trốn xuống tàu, sang Quảng Châu học khóa huấn luyện chính trị năm 1926 do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức, người con gái tiền phong, đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng Hội Phụ nữ Giải phóng ở Nam Bộ, biết thêm những ngày Lý Tự Trọng ở Quảng Châu, tôi hoàn toàn hiểu được vì sao anh bản lĩnh, anh hùng đến vậy. 

Thật may mắn khi ở Quảng Châu, ngày nay vẫn còn ngôi nhà số 250 phố Văn Minh, (xưa là số 13) – trụ sở của Tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội (VNTNCMĐCH). Đó cũng là nơi tập trung rất nhiều nhà cách mạng tiền bối tài năng của Việt Nam, được Bác Hồ huấn luyện, đào tạo. Trên tường, tên những học trò đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc được ghi trang trọng. Tôi đứng lặng trước căn phòng Bác Hồ từng lưu lại.

Trong phòng chỉ có chiếc giường gỗ đơn sơ, bàn làm việc với máy đánh chữ rất cổ. Tôi đi qua từng căn phòng trong nhà lưu niệm. Phòng học của học viên lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên Việt Nam có lẽ là căn phòng đẹp nhất. Nơi đây, các nhà cách mạng Trung Quốc như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Trần Diên Niên… từng đến dạy cho học viên Việt Nam. Đời sống học viên năm ấy rất gian khổ. Mỗi người chỉ có một chiếc chiếu cói, một cái chăn mỏng trải qua mùa đông khắc nghiệt ở Quảng Châu. Nhưng những tài liệu về nông dân, phụ nữ, thiếu niên… mà những nhà cách mạng năm ấy đã nghiên cứu, học hỏi vẫn còn lưu lại trên giá sách bằng mây.

Thật xúc động khi đứng trước căn phòng nhỏ, hẹp, đồ vật được bài trí đơn sơ những nơi là nơi phát tích tờ báo Thanh Niên – đặc san của Tổ chức VNTNCMĐCH. Chính tại căn phòng này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì việc biên tập, ấn loát, phát hành số báo đầu tiên. Người huấn luyện cho các học viên làm báo. Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt – một phụ nữ được giao phụ trách mục Phụ nữ. Bà đã viết những bài báo kêu gọi phụ nữ thức tỉnh, vững lòng đấu tranh cho độc lập tự do của Tổ quốc…

Cuộc sống của những hội viên VNTNCMĐCH năm ấy vô cùng khó khăn. Trên sân thượng tầng 3 ngôi nhà lưu niệm còn những hiện vật ghi dấu những ngày gian khổ năm xưa. Năm 1926, Trung Quốc còn dùng chậu đồng giặt quần áo. Vài cái bếp giống như “cà ràng” đặt trên sàn nhà. Trời mưa, phải có người che dù mới nấu cơm được. Nhưng những người đồng chí trên đất khách yêu thương nhau như ruột thịt.

Năm ấy, Lý Tự Trọng từ Thái Lan được đưa sang  học tập, hoạt động trong tổ chức đã từng ở cùng với Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt, được đồng chí Lý Thụy (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) rất yêu thương. Tên Lý Tự Trọng là do Người đặt. Năm ấy, đồng chí Lý Thụy rất chú trọng công tác đào tạo khả năng diễn thuyết của các hội viên, tổ chức các lớp học. Hôm ấy có nhiều đồng chí lên diễn thuyết, mở đầu là Lâm Đức Thụ (Trương Béo), rồi Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lý Ứng Thuận, Quang – quân nhân trường Hoàng Phố… Tất cả đều diễn thuyết hay, mỗi người mỗi vẻ, rất thuyết phục. Tuy nhiên, với Bảo Lương, cách diễn thuyết của cậu bé Lý Tự Trọng vô cùng đặc biệt:

“Lúc Trọng lên diễn đàn, đối với các bạn mới ra chỉ là một việc “thêm thắt” cho vui, chớ chú bé 12 tuổi lùn tịt kia thì ăn thua gì với vấn đề trọng đại một cách hời hợt, nghĩa là do tổ chức điều khiển cho “có vị” để nói lên “đấy, thanh niên cũng có đủ các bộ quân nhơn, phụ nữ, thiếu nhi” thế thôi!”.

Nhưng Trọng quả là thần đồng trong tổ chức cách mạng thanh niên, xứng đáng là đại diện của thiếu nhi thời kháng Pháp vậy. Em cũng giống các bạn lớn, nghĩa là không có giấy, em hướng mặt cúi chào thính giả, cái bộ trịnh trọng chững chạc gây phần nào tin tưởng. Lý Tự Trọng nói: “Trách nhiệm thiếu nhi đối với cách mạng” đành rằng bài có nghiên cứu trước, chẳng khác ban hát tập tuồng, tuy thuộc làu, nhưng khi diễn phải có đặc tài riêng mới lột tả hết tinh thần ý nghĩa?”.

Trọng bảo: “Chúng em dù trong tuổi học hành, vẫn cố gắng làm các công tác theo sức mình, để bồi đắp, củng cố nền cách mạng. Xin các đồng chí tiến bước để chúng em theo, chúng em theo sát gót đàn anh dầu bé bỏng cũng nguyện hy sinh chống thực dân bảo toàn đất nước”. Lời nói đó sau này mới chứng tỏ cho hào khí thiếu niên thời nước loạn.

Hiện bây giờ bé Trọng còn chút xíu trên diễn đàn kia, với hai tay, hai chân, đôi mắt, cái miệng, bộ tịch hào hùng hoạt bát pha một chút trẻ thơ đầy cảm động, diễn viên tí hon đã đóng trọn vẹn vai tuồng.

Trầm Hương

  1. Lý Tự Trọng

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_T%E1%BB%B1_Tr%E1%BB%8Dng

Lý Tự Trọng (1914 – 1931), tên thật là Lê Văn Trọng, còn được gọi là Huy; là một trong những nhà cách mạng trẻ tuổi của Việt Nam.

Ông sinh ngày 20tháng 10 năm 1914 [1] tại làng Bản Mạy, tỉnh NaKhon – Thái Lan. Quê gốc ông ở xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Cha ông là Lê Hữu Đạt, mẹ là Nguyễn Thị Sờm, đều là những Việt kiều sống ở Nakhon; họ gốc của ông vốn là Lê Hữu song đến đời ông thì được đặt thành Lê Văn. Ông có đông anh chị em gồm: Lê Văn Đại, Lê Văn Tăng, Lê Văn Năng, Lê Thị Sáu, Lê Thị Bảy,…

Năm 1923, chỉ mới 10 tuổi, Lý Tự Trọng được sang Trung Quốc học tập, và hoạt động trong Hội Thanh niên Cách mạng đồng chí. Năm 1929, ông về nước hoạt động với nhiệm vụ thành lập đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương và làm liên lạc cho Xứ ủy Nam Kỳ với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày 9 tháng 2 năm 1931, trong buổi mít tinh kỷ niệm một năm cuộc khởi nghĩa Yên Bái tổ chức tại Sài Gòn, Lý Tự Trọng đã bắn chết viên mật thám Le Grand để bảo vệ diễn giả Phan Bôi đang diễn thuyết tại quảng trường Lareni. Tuy nhiên, sau đó ông đã bị bắt giam vào Khám Lớn và bị kết án tử hình ngày 20 tháng 11 năm 1931 khi mới 17 tuổi. Sự kiện này làm dấy lên một phong trào đấu tranh mạnh mẽ ở Khám Lớn khiến từ đó cai ngục tại đây luôn gọi Lý Tự Trọng là “Ông Nhỏ”.[2]

… Câu nói lưu danh: “Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác. Tôi tin rằng nếu các ông suy nghĩ kỹ thì các ông cũng thấy cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao động như tôi.

Tìm thấy mộ Lý Tự Trọng: Theo thông tin của hội đồng hương Hà Tĩnh tại Thành phố Hồ Chí Minh, mộ của liệt sỹ Lý Tự Trọng “được tìm thấy tại công viên Lê Thị Riêng”. Còn theo một số thông tin địa phương thì được tìm thấy dưới một ngôi nhà 3 tầng ở Thành phố Hồ Chí Minh, gần khu vực tìm thấy mộ cố tổng bí thư Trần Phú.

  1. Sáng mãi gương Anh hùng Lý Tự Trọng

Thứ hai, 31/10/2011

http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_tphcm/_mobile_chuyenxuachuyennay/item/18854902.html

Lý Tự Trọng, tên thật là Lê Văn Trọng, người  chiến sĩ thanh niên cộng sản trẻ tuổi sinh ngày 20-10-1914, trong một gia đình Việt kiều yêu nước tại Thái-lan. Quê chính của anh là làng Kỳ Việt, xã Việt Xuyên (nay là xã Thạch Việt, Thạch Hà, Hà Tĩnh). Khi gia đình mới sang Thái-lan, cảnh nghèo, anh chưa được học chữ quốc ngữ. Nhờ bà con Việt kiều ở Lạc Khon giúp, anh được đi học chữ và học rất chăm chỉ. Chỉ sau một tháng, anh đã đọc, viết thông thạo tiếng Việt, mà bà con Việt kiều dạy cho.

Nhận thấy Lý Tự Trọng  mới 10 tuổi nhưng thông minh, ham học hỏi, cho nên bà con Việt kiều ở bản Lạc Khon bàn với cha, mẹ cho anh vào lớp đào tạo cán bộ cách mạng để chuẩn bị cho lực lượng về nước hoạt động. Tại lớp học này, các đồng chí cán bộ chủ chốt Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội như: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái…  giảng  về những vấn đề chủ chốt của cách mạng. Lớp học chọn lựa những thanh, thiếu niên ưu tú đưa sang Quảng Châu, Trung Quốc học tập, rèn luyện theo chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tại đây chính Người đã trực tiếp đặt tên anh là Lý Tự Trọng, để sau này bí mật  đưa về nước. Lúc đó Lý Tự Trọng mới 15 tuổi. Ðầu năm 1929, dù chưa học xong Trường Tôn Trung Sơn do Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội gửi học, song do bọn phản động trong Quốc dân Ðảng Tưởng Giới Thạch bắt đầu trở mặt, phản bội lại tư tưởng Tôn Trung Sơn, cho nên bọn mật vụ Pháp bắt đầu lùng bắt những người yêu nước Việt Nam ở tại Quảng Châu.

Một số chiến sĩ cán bộ của Hội tạm lánh về nước, trong đó có Lý Tự Trọng. Qua quá trình học tập và sau nhiều thử thách trong công tác liên lạc bí mật và bảo vệ của tổ chức, anh được Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội cử về nước chuẩn bị cho vận động để thành lập Ðoàn Thanh niên Cộng sản yêu nước tại Sài Gòn. Ngày 9-2-1931, tại Nhà thi đấu Sài Gòn có cuộc mít-tinh kỷ niệm Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái với sự tham gia đông đảo các tầng lớp nhân dân. Tổ chức Ðảng dự tính trước, đã cử một số cán bộ đi tuyên truyền chớp nhoáng và  là để bảo vệ an toàn cho nhân dân tại cuộc mít-tinh, diễn thuyết nói trên. Ðúng 8 giờ 15 phút,  lúc sau trận bóng đá đã tan trên sân vận động Trường Mayer (nay là Trường THPT Võ Thị Sáu), cuộc diễn thuyết chớp nhoáng của cán bộ Ðảng cử ra vừa kết thúc, thì bọn mật thám thực dân Pháp tràn tới. Tên cò Pháp Lơ Grăng nhảy vào bắt đồng chí Phan Bôi, là người tổ chức Ðảng ta cử ra vừa diễn thuyết xong. Ngay lập tức người thanh niên trẻ tuổi Lý Tự Trọng – được tổ chức ta cử làm bảo vệ cho buổi diễn thuyết – rút súng ngắn bắn gục ngay tại chỗ tên mật thám thực dân Pháp Lơ Grăng.  Lý Tự Trọng bị thực dân Pháp bắt  ngay sau đó. Chúng thay nhau tra tấn, hòng tìm ra tên tuổi những người chỉ huy cuộc diễn thuyết. Song càng tra hỏi, thì anh càng im lặng, cho tới khi chúng đánh anh ngất xỉu. Chúng nhốt anh vào hầm riêng, chờ ngày xét xử và cuối cùng kết án tử hình anh. Cuối năm đó, ngày 21-11-1931 tại Khám lớn Sài Gòn, đứng trước bàn máy chém, anh vẫn bình thản, hiên ngang như đã làm xong nhiệm vụ vinh quang mà Tổ quốc giao cho mình.

Trước khi lên máy chém, mấy lần anh gọi tên: Tổ quốc Việt Nam thân yêu và hát vang bài Quốc tế ca: “Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian!”. Lời hát ấy vang mãi nơi anh bị giam giữ. Người anh hùng trẻ tuổi Lý Tự Trọng đã ra đi khi mới bước sang tuổi 17, song lý tưởng của anh còn sống mãi trong câu nói nổi tiếng trước khi bị xử tử: “Con đường của thanh niên, chỉ có thể là con đường cách mạng”.

Tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội), hiện còn lưu giữ bốn bài viết của Bác Hồ khi còn sống về anh Lý Tự Trọng, như một tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa và tinh thần yêu nước, bất khuất của tuổi trẻ Việt Nam.

  1.      Lý Tự Trọng sống mãi tên anh 

Cập nhật lúc 16:30, Thứ Sáu, 22/07/2011

http://doanthanhnien.vn/newsdetail/DoanTNCSHCM/9577/ly-tu-trong-song-mai-ten-anh.htm

 Lý Tự Trọng tên thật là Lê Văn Trọng. Quê gốc ở xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh nhưng lại sinh ra tại làng Bản Mạy, tỉnh NaKhon – Thái Lan trong một gia đình Việt kiều yêu nước có đông anh chị em. Cha ông là Lê Hữu Đạt, mẹ là Nguyễn Thị Sờm. Năm 1923, chỉ mới 10 tuổi, Lý Tự Trọng được sang Trung Quốc học tập, học giỏi, nói thạo tiếng Hán và tiếng Anh. Ông hoạt động trong Hội Thanh niên Cách mạng đồng chí.

          Năm 1929, Lý Tự Trọng về nước hoạt động với nhiệm vụ thành lập đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và làm liên lạc cho xứ uỷ Nam Kì với Đảng Cộng sản Việt Nam. Anh làm liên lạc cho các đồng chí cộng sản ở nước ngoài qua các chuyến tàu đến cảng Sài Gòn. Ngày 09/02/1931, trong buổi kỷ niệm một năm cuộc bạo động Yên Bái, tên thanh tra mật thám Lơ Gơrăng chực nhảy tới bắt người đang giương cờ và diễn thuyết, Lý Tự Trọng đã nhảy ra bắn chết Lơ Gơrang. Lý Tự Trọng bị địch bắt, bị tra tấn hết sức dã man.

          Năm 1931, một ngày cuối xuân, thực dân Pháp đưa Lý Tự Trọng từ bót Catina đến tòa án để kết án anh tội tử hình. Người thanh niên cộng sản mới 17 tuổi ấy đã lấy vành móng ngựa để làm diễn đàn lên án bọn thống trị, kêu gọi nhân dân đứng dậy đấu tranh. Luật sư bào chữa cho anh xin tòa mở lượng khoan hồng vì anh chưa đến tuổi thành niên, đã hành động không có suy nghĩ.

           Lý Tự Trọng dõng dạc nói:

          – Tôi hành động không phải là không suy nghĩ. Tôi hiểu việc tôi làm. Tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác. Tôi tin rằng nếu các ông suy nghĩ kĩ thì các ông cũng cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi.

          Chánh án, một tên quan cai trị thực dân tuyên án xử tử anh Trọng. Lý Tự Trọng vẫn bình tĩnh. Tên thực dân Pháp hỏi anh có ăn năn gì không; Lý Tự Trọng đứng trước vành móng ngựa, mặt thẳng phía trước chỉ nói một câu: “Không ăn năn gì cả!”

          Ở trong xà lim án chém khám lớn Sài Gòn, Lý Tự Trọng oanh liệt sống những ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Mọi chi tiết về người tù án chém “Trọng con” được những tên gác ngục, tên chủ khám truyền ra ngoài với một lòng cung kính, khâm phục: “Ông nhỏ ngày nào cũng tập thể dục! Nhìn ông nhỏ sống không ai tưởng tượng được là người đợi đến ngày lên máy chém”.

           Gương mặt Lý Tự Trọng rắn rỏi và kiên nghị. Anh nhớ lại những ngày thơ ấu trên đất Xiêm, nơi cha mẹ anh vì trốn tránh sự khủng bố của đế quốc sang ẩn nấu ở bên kia bờ sông Cửu Long và sinh ra anh. Lý Tự Trọng tưởng như thấy lại các chiến sĩ Cộng Sản Trung Quốc bị Quốc dân đảng phản bội bắn chết hàng loạt bên bờ sông Châu Giang trên đất Quảng Châu sau ngày Công Xã Quảng Châu thất bại. Anh nhớ lại có lần cùng với các đồng chí lớn tuổi đi viếng mồ liệt sĩ Phạm Hồng Thái ở Hoàng Hoa Cương. Người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái năm 1926 đã ôm bom vào giết tên toàn quyền Pháp MecLanh ở Tô Giới Pháp sau nhảy xuống sông Châu Giang để khỏi sa vào tay giặc.

Lý Tự Trọng bồi hồi nhớ lại lần đầu được đặt chân lên Ô Cấp, được về hoạt động trên đất nước thân yêu, những lúc vùi đầu vào các trang sách đầy hào hứng những lúc trò chuyện ngắn ngủi với các đồng chí ở cơ sở nhớ cả lúc bị sa vào tay giặc… Những đòn tra tấn của quân giặc không làm lay chuyển được ý chí của anh. Trong xà lim án chém, Lý Tự Trọng làm bạn với “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Cuốn này do vợ tên chủ khám biếu. Những câu thơ lục bát trong sáng, tài hoa của thi hào Nguyễn Du đã quyện lòng anh với tâm hồn hồn dân tộc.

          Lý Tự Trọng yêu đất nước, yêu đồng bào, yêu đồng chí của mình, anh càng yêu cuộc sống, sống trọn vẹn những năm tháng ngắn ngủi của đời mình không hề lãng phí, không để mầm bi quan len lỏi vào tâm hồn mình mặc dù biết mình sắp bị giặc đem hành hình. Bọn thực dân tìm cách lung lạc ý chí gang thép của anh, nhưng tất cả những lời dụ dỗ của chúng đều bị anh đánh bại.

        Bà Angđơrê Viôlít đã viết về giờ phút cuối cùng của Lý Tự Trọng: “Ngày 21/11/1931 thì Huy (tức là Trọng) bị đem xử tử. Sài Gòn hết sức xúc động. Hôm ấy phải ra lệnh thiết quân luật. Từ khám lớn vang ra ngoài đuờng phố, tiếng la hét của tù chính trị. Tiếng thét từ lồng ngực và từ trái tim của họ đã đi theo Huy ra trường chém. Phải điều quân đội và lính cứu hỏa để phun nước đàn áp họ. Trong những tường giam của khám lớn đã xảy ra những chuyện như thế. Trước máy chém, Huy định diễn thuyết, song hai tên sen đầm nhảy xô đến không cho anh nói. Người ta chỉ nghe thấy tiếng anh kêu “Việt Nam! Việt Nam!”

Lý Tự Trọng trước khi lên máy chém mấy lần gọi “Việt Nam” thân yêu và đã hát nhiều lần bài “Quốc tế ca”: “Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian!” và anh đã giữ vững ý chí chiến đấu đến phút chót của đời mình. Hơn 30 năm sau, ngày 15/10/1964, tại khám Chí Hòa, Nguyễn Văn Trỗi trước lúc hy sinh lại hô: “Việt Nam muôn năm!” – “Hồ Chí Minh muôn năm!”.

          Trên thành phố Sài Gòn anh hùng, những câu nói giản dị và sâu sắc của những chiến sĩ tiêu biểu ở nhiều thế hệ ấy đã ngân vang từ những tâm hồn yêu nước nồng nhiệt và ý chí cách mạng kiên cường. Ngày nay, giữa thành phố Hồ chí Minh, con đường mang tên Lý Tự Trọng, chạy qua nơi anh từng bắn chết tên mật tám Lơ Gơrăng, anh vẫn như còn đó ở tuổi 17 hiên ngang, với tâm hồn trong sáng tràn ngập lòng yêu đời…

ĐH Sưu tầm

  1. PHAN BÔI – Tức Hoàng Hữu Nam (1911 – 1947)

Thứ ba, 15 Tháng 4 2014

http://www.hophan.net/index.php?option=com_content&view=article&id=1026:phan-boi-tuc-hoang-huu-nam-1911-1947&catid=118:ho-phan-xua-nay-&Itemid=216

Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) là người phái Nhì đời thứ 13, sinh năm 1911 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng nam. Ông là con thứ bảy của cụ Phan Định và bà Lê Thị Tiếu, em ruột ông Phan Thanh, vợ là bà Trịnh Thị Tuyến.

Năm 1926, lúc 15 tuổi học năm thứ 3 trường Quốc Học Huế, Ông là một trong những người cầm đầu cuộc bãi khóa rầm rộ của học sinh Huế, tổ chức truy điệu Phan Chu Trinh, đòi Pháp thả Phan Bội Châu, chống quyết định cuả tên trùm mật vụ Pháp đuổi học Võ Nguyên Giáp. Nhóm cầm đầu bãi khóa gồm các thanh niên Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều), Phan Bôi, Đào Văn Vỹ, Tôn Thất Hoạt, Đống Quế và một số đồng chí bị đuổi học. Ông về quê rồi ra Hà Nội làm ở nhà in Ngô Tử Hạ, tiếp tục hoạt động phong trào thanh niên, học sinh chống Pháp.

Năm 1928, ông gia nhập An Nam Cộng Sản đảng.  Năm 1929 ông được Đảng phân công vào hoạt động ở Sàigòn. Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương, sinh hoạt cùng Chi bộ với các ông Hải Triều, Trần Văn Giàu.

Năm 1931, trong một cuộc mít tinh vào chiều ngày 8 tháng 2, Phan Bôi được Thành ủy Sài Gòn cử phụ trách tổ chức diễn thuyết trước quần chúng trên đường ra sau trận bống đá tại sân Lagrandière Sàigòn, cùng với các ông Ung văn Khiêm, Hà Huy Giáp. Cuộc mít tinh nhằm tuyên truyền cho khởi nghĩa Yên Bái, vận động thợ thuyền và nông dân đòi tăng tiền lương, giảm giờ làm việc, gỉam tô, giảm xâu thuế. Khi trận đá bóng vừa tan, diễn giả chưa đến được, đội bảo vệ khiêng bàn chồng lên nhau, Phan Bôi đứng lên nói. Cảnh sát Pháp ập đến bao vây. Tên thanh tra mật thám Pháp Le Grand nhảy tới định bắt Phan Bôi liền bị Lý Tự Trọng bắn chết. Địch vây bắt Lý Tự Trọng, Phan Bôi, Hà Huy Giáp và nhiều đồng chí khác đưa về giam ở bót Catinat. Ba anh em ruột là Phan Nhụy, Phan Bôi và Phan Tháo đều bị bắt cùng lúc. Lý Tự Trọng bị Pháp đưa vào biệt giam ở khám lớn và đưa ra chém ngày 20/11/1931. Một tháng sau địch chuyển Phan Bôi từ bót Catinat qua khám lớn trong suốt 2 năm mới đưa ra tòa xử trong vụ án gọi là “Vụ án Đảng Cộng sản Đông Dương’. Phan Bôi bị kết án 20 năm tù khổ sai đày ra Côn Đảo. Trong thời gian ở Côn Đảo, Phan Bôi cùng nhiều đồng chí khác, trong đó có đồng chí Lê Duẩn lập ra Chi bộ Đảng.

Năm 1936, Mặt trận Bình Dân lên cầm quyền ở Pháp, tù chính trị được trả tự do. Từ Côn Đảo trở về, Phan Bôi tham gia hoạt động Mặt trận Dân chủ Đông Dương ở Quảng Nam Đà Nẵng, vận động phong trào Ái Hữu, phong trào Thanh niên Dân chủ. Ông tham gia lãnh đạo cuộc biểu tình lớn biểu dương lực lương cách mang tại Đà Nẵng, và trực tiếp trao yêu sách cho Goda, dẫn đầu đoàn Mặt trận Bình Dân Pháp sang Đông Dương. Sau đó, ông ra Hà Nội ở nhà anh ruột là Phan Thanh, 165A Henri d’ Orléans. Ông được Đảng phân công làm “chánh văn phòng” phụ trách hoạt động báo chí công khai của Đảng và Mặt trận Dân Chủ (chủ nhiệm là ông Trường Chinh, “tổng biên tập” là ông Trần Huy Liệu): Le Travail (Lao Động), Demain (Ngày Mai), Notre Voix (Tiếng Nói Của Chúng Ta, Rassemblement (Tập Hợp Lại), Dân Chúng, Tin Tức .v.v …

Sau khi Mặt trận Bình Dân Pháp thất cử Pháp đàn áp cách mạng ở Đông Dương. Tháng 5/1940, Phan Bôi bị Pháp bắt cùng nhiều đồng chí khác, đưa đi an trí tại trại Bắc Mê (huyện Vị Xuyên, Hà Giang). Tháng 11/1940, một số đồng chí bị phát vãng đến Sơn La như các đồng chí Lê Thanh Nghị, Lê Đức Thọ, Lê Giản, Xuân Thủy, Nguyễn văn Trân … Phan Bôi và một số đồng chí khác bị đưa đến giam tại nhà tù Hà Giang. Tháng 11/1941, Phan Bôi cùng nhiều đồng chí khác bị Pháp đày sang Madagasca ở Châu Phi. Tháng 6/1943, Phan Bôi, Lê Giản, Trần văn Minh được Vương Quốc Anh, là đồng minh chống phát xít, đưa về Calcuta, Ấn độ huấn luyện, rồi được thả dù về Việt Bắc cùng 6 đồng chí khác để đánh Nhật. Cả bảy người đã liên lạc ngay được với Đảng.

Ông đã cùng nhiều đồng chí khác tham gia công tác ở cơ quan Trung Ương để chuẩn bị khởi nghĩa. Tháng 8/I945 Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, Tuyên Quang đã lập ra Ủy Ban Khởi Nghĩa toàn quốc và ra lệnh Tổng Khởi Nghĩa. Ngày 16/8/1945 Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào qui định Quốc ca, Quốc kỳ và bầu ra Chính phủ Lâm thời do Bác Hồ làm Chủ Tịch. Trong cả một quá trình diễn biến Cách Mạng cực kỳ khẩn trương đó, Phan Bôi đã đóng góp một phần lớn với các đồng chí lãnh đạo Trung Ương Đảng.

Sau Cách Mạng tháng 8, Phan Bôi được giao nhiệm vụ Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ (lúc đầu, trong chính phủ liên hiệp,  Bộ Trưởng là Võ Nguyên Giáp; khi Quốc Dân Đảng phá hoại Chính phủ liên hiệp, Chính phủ kháng chiến được thành lâp thì cụ Huỳnh Thúc Kháng là Phó Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Nội vụ) và làm Chánh Văn Phòng Phủ Chủ Tịch, Đại Biểu Quốc Hội Khóa I. Năm 1946, Ông lại được giao thêm nhiệm vụ Trưởng ban Liên kiểm Việt – Pháp. Trong thời gian này ông đã tham gia nhiều quyết định quan trọng của Trung Ương để bảo vệ chính quyền ta còn non trẻ trước tình hình phức tạp lúc bấy giờ.

Khi mặt trận Hà Nội vỡ, ông cùng Chính phủ rút lên Chiến khu Việt Bắc và tiếp tục công tác trong Hội đồng Chính Phủ. Ông là người lãnh đạo ưu tú của ngành Công An và là người cộng tác đắc lực cho Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Ông mất ngày 24/4/1947 trên đường công tác tại Tuyên Quang, an táng tại Tuyên Quang, sau cải táng về Nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được truy tặng Huân Chương Kháng Chiến Hạng Nhất. Sau giải phóng thống nhất đất nước, ông được truy tặng thêm Huân Chương Độc Lập Hạng Nhất.

Nguồn:

– Phan tộc kỷ yếu – Tộc Phan Bảo An. Nhà xuất bản Đà Nẵng 2002;

– Một gia đình yêu nước và cách mạng – Hoàng Trình. 1997;

– Tham khảo ý kiến gia đình ông Phan Quốc Khán

  1. Đâu phải chỉ là một chi tiết nhỏ?

Thứ Sáu, 13/9/2013 23:7′(GMT+7)

http://www.tuyengiao.vn/Home/giaoduc/56569/Dau-phai-chi-la-mot-chi-tiet-nho

(TG) – Dù là sách gì đi nữa thì sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử cũng cần được xây dựng đúng nguyên mẫu, từ những chi tiết nhỏ nhất.

“Mẹ ơi! Anh hùng Lý Tự Trọng bị xử bắn hay bị đưa lên máy chém mẹ nhỉ?”. Đang bận việc, nghe con gái hỏi tôi cũng giật mình. Trả lời con vội cho qua “Con cứ xem sách giáo khoa nói thế nào thì là vậy con ạ. Anh Lý Tự Trọng đã bị giặc xử tử hình khi còn rất trẻ đấy ”. Con gái chạy đến ôm cổ  bảo tôi, có vẻ băn khoăn lắm: Nhưng con có hai quyển sách, mỗi cái viết một cách thì con theo cách nào ạ?

Vấn đề có vẻ nghiêm trọng rồi, tôi cầm hai quyển sách con đưa thì quả đúng vậy. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 (trang 9) có vẽ hình anh Lý Tự Trọng đang đứng ở trường bắn. Nhìn sang quyển sách kia Những  nhân vật tên còn trẻ mãi, do Nhà xuất bản Kim Đồng biên soạn, ở trang 121 có kể về những ngày cuối của anh Lý Tự Trọng trong xà lim án chém và bức ảnh anh hiên ngang trước máy chém của quân thù.

Đến lúc này, tôi cũng không hiểu nên giải thích cho con như thế  nào, đành tìm cớ hoãn binh, rằng: Cho dù anh hy sinh thế nào thì cũng rất anh dũng và vẻ vang, là tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo…

  1. Hà Huy Giáp

http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Huy_Gi%C3%A1p

Hà Huy Giáp (19081995) là nhà hoạt động cách mạng Việt Nam

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Hà Huy Giáp được cử làm Bí thư Đặc ủy miền Hậu Giang, Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ.

Tháng 5 năm 1933, ông bị tòa án Đại hình Sài Gòn của thực dân Pháp tuyên án khổ sai chung thân, đày ra Côn Đảo. Khi bị kết án và đày ra Côn Ðảo, Hà Huy Giáp đã cùng các đồng chí của mình biến nhà tù thực dân – đế quốc thành trường học cộng sản…

  1. Phan Bôi

http://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_B%C3%B4i

Phan Bôi tức Hoàng Hữu Nam (1911 -1947) nhà hoạt động cách mạng

…Chiều ngày 08.02.1931, cuộc mítting kỷ niệm khởi nghĩa Yên Bái được tổ chức với nội dung kêu gọi liên minh công nông, yêu cầu tăng lương, giảm giờ làm. Ban tổ chức cuộc mít ting có 3 người, đồng chí Phan Bôi lúc này phụ trách tuyên truyền của Xứ ủy, có bí danh là Quảng, được phân công làm trưởng ban; Lý Tự Trọng (tức Hai) làm nhiệm vụ bảo vệ.

Đã xem 8 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments