Bài 1. Ủy viên quân sự tối cao của Chính phủ tại miền Nam Đàm Minh Viễn chết mất xác rồi bị quên.

Lời dẫn. Các thủ lĩnh Quân sự cầm đầu các đội quân từ Miền Bắc vào Nam, thực hiện rất nhiều việc “Tiễu trừ phản động”. “Tay sai”… Như Nguyễn Bình diệt Dương Văn Dương … thế rồi họ bị chết với những lý do rất là tắc ơ.

          4 người cầm đầu các đội quân đó thì: Đàm Minh Viễn chết 1946, Vũ Đức chết 1947, Nguyễn Sơn bị đầu độc từ 1950 – 1956 chết. Nguyễn Bình chết bí ẩn 1951. (Đào Văn Trường thì rất nhiều bí ẩn chưa chắc đã phải…)

          Đây chính là việc diệt khẩu những người đã được giao trọng trách: Diệt Cộng sản Nam bộ?

          Chương 1. Hồ giết các Thái thú được đưa vào để thanh trừng Cộng Sản Trí thức Miền Nam.

          Bài 1. Ủy viên quân sự tối cao của Chính phủ tại miền Nam Đàm Minh Viễn chết mất xác rồi bị quên.

A. Bằng chứng và phân tích.

  1. Ủy viên quân sự tối cao của Chính phủ tại miền Nam.

“Bộ trưởng Lê Văn Hiến với tư cách là Phái viên Chính phủ đã triệu tập “Hội nghị liên tịch Hành chánh – quân sự” ngày 23 tháng 1 năm 1946 với sự tham gia của Ủy viên quân sự tối cao của Chính phủ tại miền Nam Đàm Minh Viễn.” (Văn bản 1 – ảnh 1)

2.Ủy viên quân sự tối cao chết mất xác.

Chị Phương cho biết, liệt sĩ Đàm Minh Viễn mà bài báo nêu chính là người mà gia đình chị đang tìm mộ lâu nay, chưa xác định được ngày hy sinh do thiếu thông tin-bởi trong giấy báo tử chỉ vẻn vẹn ghi: Đồng chí Hữu Thành và Đàm Minh Viễn hy sinh tháng 6-1947, ở mặt trận phía Nam… ”  (Văn bản 2 – ảnh 2)

  1. Bị lãng quên.

“Tôi ngước nhìn lên bàn thờ. Hai tấm bằng tổ quốc ghi công của ông Đàm Văn Lý và ông Đàm Văn Lân treo cạnh nhau, ghi rõ năm cấp là năm 1980. Vậy là tới tận năm 1980 hai ông mới được công nhận là liệt sĩ. ” (Văn bản 4)

Nhận xét: Mất xác, bị quên – là 2 dấu hiệu bị quỷ thủ tiêu!

Vậy có phải em ruột là Thượng Tướng Đàm Quang Trung?

Không! Cũng gán ghép như 3 anh em nhà Lê Đức Thọ mà thôi!

 “…buổi chiều dân làng nghe tiếng súng, biết là có đánh nhau giữa bộ đội Việt Minh với quân Pháp. Chiều hôm sau, tôi cùng người bác ruột đi bẫy thú thì thấy 5 thi hài bộ đội bị địch bắn chết nằm bên một gốc cây.” Đây là một cuộc thủ tiêu! Nếu đánh nhau phải có cả 2 bên cùng chết!

Hữu Thành là ai?

“Trước tình hình đó, ngày 21-6-1946 Ban Chỉ huy Đại đoàn 23 do Đoàn trưởng Hữu Thành và Đàm Minh Viễn-Tham mưu trưởng, Nguyễn Văn Trí-Tham mưu phó cùng một cố vấn Nhật …Hôm ấy, xe về đến Mook Đen thì bị địch phục kích. tất cả có 6 người hy sinh (có một cố vấn người Nhật)”.”, (Văn bản 1)

“giấy báo tử chỉ vẻn vẹn ghi: Đồng chí Hữu Thành và Đàm Minh Viễn hy sinh tháng 6-1947, ở mặt trận phía Nam”

Vậy bao giờ mới báo tử? Và tại sao lại báo thời điểm chết sau một năm so với khi chết?

B. Tài liệu nghiên cứu.

(Văn bản 1)

Chương II

Ngày 6/12/2011. Cập nhật lúc 8h 39′

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=5&leader_topic=79&id=BT7121130297

Chương II

…Giữa tháng 1 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến được cử làm phái viên của Chính phủ ở Nam Trung bộ và Nam Bộ vào đến Bà Rịa. Sau khi nghe các cán bộ chủ chốt của tỉnh Bà Rịa báo cáo tình hình, Bộ trưởng Lê Văn Hiến với tư cách là Phái viên Chính phủ đã triệu tập “Hội nghị liên tịch Hành chánh – quân sự” ngày 23 tháng 1 năm 1946 với sự tham gia của Ủy viên quân sự tối cao của Chính phủ tại miền Nam Đàm Minh Viễn.

(Văn bản 2)

Đi tìm mộ liệt sĩ Đàm Minh Viễn

http://baogialai.com.vn/channel/1622/201207/di-tim-mo-liet-si-dam-Minh-Vien-2172884/

Chủ Nhật, 22/07/2012, 09:03 [GMT+7]

Tìm lại tên cho anh…

 (GLO)- Vào một ngày đầu tháng 5-2012, tôi nhận được một cuộc điện thoại lạ, đầu dây bên kia nói rằng chị tên là Nguyễn Thị Ngọc Phương là cháu của liệt sĩ Đàm Minh Viễn và nhờ tôi phối hợp tìm giúp mộ của ông! Thì ra, chị đọc được thông tin trong bài báo “Không có liệt sĩ vô danh”, bài tôi viết về chiến trường Mặt trận Tây Gia Lai năm 1946, một mặt trận ác liệt, bi tráng nhưng chưa được sử sách ghi chép lại một cách đầy đủ.

Trong đó có đoạn: “Nhưng thời gian ngừng bắn không lâu, đến tháng 6-1946 thì tiếng súng lại nổ trên chiến trường Tây Gia Lai. Trước tình hình đó, ngày 21-6-1946 Ban Chỉ huy Đại đoàn 23 do Đoàn trưởng Hữu Thành và Đàm Minh Viễn-Tham mưu trưởng, Nguyễn Văn Trí-Tham mưu phó cùng một cố vấn Nhật (sau năm 1945 tự nguyện ở lại giúp ta), và một phiên dịch đi trên một xe Jeep để khảo sát tình hình phòng tuyến Ia Dao-Chư Ty. Tôi cùng với một người tên là Hải ở đơn vị đóng quân ở Mook Đen được giao đi bảo vệ (ghi theo lời nhân chứng: ông Nguyễn Ngọc Thạnh-N.V). Hôm ấy, xe về đến Mook Đen thì bị địch phục kích. Đoàn trưởng Hữu Thành đã trực tiếp chỉ huy đánh trả nhưng địch quá đông, tất cả có 6 người hy sinh (có một cố vấn người Nhật)”.

Chị Phương cho biết, liệt sĩ Đàm Minh Viễn mà bài báo nêu chính là người mà gia đình chị đang tìm mộ lâu nay, chưa xác định được ngày hy sinh do thiếu thông tin-bởi trong giấy báo tử chỉ vẻn vẹn ghi: Đồng chí Hữu Thành và Đàm Minh Viễn hy sinh tháng 6-1947, ở mặt trận phía Nam… Chị Phương mừng nói với tôi “Nhờ bài báo mà gia đình biết được ngày bác hy sinh, địa danh hy sinh. Điều mong muốn của bố chồng chị là Thượng tướng Đàm Quang Trung (em trai liệt sĩ Đàm Minh Viễn) trước khi nhắm mắt thì phải tìm cho được mộ để hương khói cho ông”.

Đúng như lời hẹn, sáng 10-7-2012, tôi đón chị Phương cùng với thân nhân gia đình bay từ Hà Nội vào Gia Lai, bắt đầu cuộc hành trình đi tìm mộ liệt sĩ Đàm Minh Viễn. Do đã trao đổi trước và được sự giúp đỡ của lãnh đạo tỉnh, của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, chính quyền huyện Đức Cơ nên khi chúng tôi lên nơi chiến sự xảy ra năm 1946 và xác định vị trí  hy sinh của các liệt sĩ tương đối thuận lợi. Do trước đó, anh Võ Thanh Hùng-Chủ tịch UBND huyện đã liên hệ với xã Ia Dom và Ban Chỉ huy Quân sự huyện Đức Cơ, tìm được thêm một nhân chứng cực kỳ quan trọng, ông Siu Thô-người dân tộc Jrai, ở làng Mook Đen đã chứng kiến trận chiến ngày nào. Gặp ông, dù nay đã vào tuổi 80 nhưng trí nhớ còn rất minh mẫn.

Ông đưa chúng tôi đến sườn đồi Chư Ty (một bên thuộc làng Mook Đen, xã Ia Dom, một bên thuộc làng Bi, xã Ia Nan), nơi mà 66 năm trước xảy ra trận chiến. Ông kể: “Năm đó tôi mới 14 tuổi, buổi chiều dân làng nghe tiếng súng, biết là có đánh nhau giữa bộ đội Việt Minh với quân Pháp. Chiều hôm sau, tôi cùng người bác ruột đi bẫy thú thì thấy 5 thi hài bộ đội bị địch bắn chết nằm bên một gốc cây. Ngày hôm sau, tôi trở lại thì không còn nữa, ai đó đã chôn cất các anh mà ông không biết” (cụ Nguyễn Khoa khi ấy là Chủ tịch Ủy ban ủng hộ kháng chiến đã xác định sự kiện này). Cụ Siu Thô chỉ vào gốc cây bây giờ vẫn còn đó ở sườn đồi bên vệ đường 19: “Các bộ đội Việt Minh đã nằm đây…”.

Chúng tôi nhìn theo tay già làng Siu Thô chỉ, cánh rừng già xưa, bây giờ đã là vườn cây cao su tươi tốt. Trong không gian trầm mặc, trước mắt chúng tôi như hiện lên hình ảnh những chiến sĩ cộng sản năm nào. Chị Phương nấc lên: “Bác Viễn ơi, hài cốt của các bác nơi đâu?”. Mỗi chúng tôi đều cay cay nơi khóe mắt.

Những tia nắng hiếm hoi của mùa mưa Tây Nguyên xiên qua kẽ lá như cũng đang soi rọi cùng chúng tôi kiếm tìm hài cốt các bác, các anh. Như là linh ứng, với sự chỉ dẫn của già làng Siu Thô về địa điểm, chúng tôi khoanh vùng và tìm thấy một nấm mồ bên gốc cây ven suối. Sau hai ngày cùng với các cán bộ, chiến sĩ Ban Chỉ huy Quân sự huyện Đức Cơ khai quật, nhưng dưới nấm mồ chỉ còn lại đất đen… Thiếu tá Vương Châu Phi đã từng tham gia cất bốc hàng trăm ngôi mộ, anh thở dài chia sẻ rằng đôi khi mộ có mà hài cốt đã tan vào trong đất. Chúng tôi khấn vong linh bác Viễn và những hương hồn liệt sĩ, xin nắm đất nơi này, nơi máu của liệt sĩ đã nhuộm đỏ, nơi  xương thịt các bác đã tan vào đất-với một nghi thức tâm linh để tìm lại tên và đặt bia mộ cho liệt sĩ.  Chiều muộn 11-7, cùng với di ảnh bác Đàm Minh Viễn, gia đình và Ban Chỉ huy Quân sự huyện Đức Cơ đưa liệt sĩ về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Đức Cơ.

Đàm Minh Viễn-người chiến sĩ cách mạng ưu tú

Bây giờ, ở Nghĩa trang Liệt sĩ Đức Cơ vừa có thêm một ngôi mộ mới, ngôi mộ của liệt sĩ Đàm Minh Viễn hy sinh ngày 21-6-1946 ở ngay làng Mook Đen. Mặc dù chỉ cách nghĩa trang khoảng 10 cây số, nhưng phải mất 66 năm liệt sĩ Đàm Minh Viễn mới được về đây yên nghỉ.

Vậy Đàm Minh Viễn là ai? Trong những ngày cùng tìm mộ, tôi đã chuyện trò với chị Nguyễn Thị Ngọc Phương, hiện công tác tại Văn phòng Quốc hội, là cháu dâu bác Viễn; Nguyễn Lâm Thành là người thân, hiện là đại biểu Quốc hội, Ủy viên Thường trực Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Anh nói: Đi tìm mộ bác Viễn là cả “hai vai”, vừa là thực hiện lời trăn trối của Thượng tướng Đàm Quang Trung em của liệt sĩ, vừa là trách nhiệm với cương vị của mình. Anh Thành kể cho tôi nghe về thân thế gia đình họ Đàm ở Nà Nghiềng, một gia đình cách mạng.

Đồng thời qua tìm hiểu các tài liệu, có thể tóm tắt thân thế sự nghiệp của liệt sĩ Đàm Minh Viễn như sau: Ông tên thật là Đàm Văn Lân, ngoài ra còn có bí danh là Đức Thanh (do Bác Hồ đặt cho), Minh Viễn và Kỹ Sư. Ông được sinh ra tại làng Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng trong một gia đình dân tộc Tày giàu truyền thống yêu nước. Gia đình ông có 7 anh em, trong đó người anh cả là Đàm Văn Lý (bí danh là Quý Quân) sinh năm 1915, tham gia cách mạng từ rất sớm, vào Đảng năm 1932, năm 1936 là Châu Ủy viên Hà Quảng, năm 1939 bị bắt và đày lên Sơn La, năm 1940 lãnh đạo tổ chức vượt ngục nhưng bị bắt lại rồi bị sát hại; người em út của ông là Đàm Ngọc Lưu, tức Thượng tướng Đàm Quang Trung, từng giữ các chức vụ Bí thư Trung ương Đảng, là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Phó Chủ tịch nước bây giờ).

Đàm Minh Viễn là một trong 40 học trò được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp rèn luyện, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ tiền khởi nghĩa. Ông được Bác Hồ giao nhiều trọng trách. Ông là người tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên, Đội Nhi đồng Cứu quốc đầu tiên do Nông Văn Dền (Kim Đồng) làm Đội trưởng, ông là Bí thư Tỉnh đoàn Thanh niên Cứu quốc Cao Bằng đầu tiên, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn.

Ngay từ ngày Nam bộ đứng lên kháng chiến chống Pháp, ông là một trong những người dẫn đầu đoàn quân Nam tiến, giữ chức vụ Chủ nhiệm Tham mưu, Ủy ban Kháng chiến miền Nam. Sau Hiệp định sơ bộ năm 1946, ông và Ban Chỉ huy Đoàn 23 tổ chức lập phòng tuyến Mặt trận Tây Gia Lai năm 1946 và hy sinh ở đây khi mới 27 tuổi. Tài liệu viết về ông không nhiều, dù chưa được phong quân hàm lần nào, nhưng ông được xếp vào hàng ngũ sĩ quan, tướng lĩnh lỗi lạc của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông được Đảng và Nhà nước truy tặng nhiều phần phần tưởng cao quý. Trong đó, đặc biệt nhất là: ngày 25-9-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký truy tặng Huân chương Chiến thắng hạng nhất cho 5 liệt sĩ trong đó có ghi: “Đàm Minh Viễn, Tư lệnh Phó Ủy ban Kháng chiến miền Nam Liên khu V” (theo Sắc lệnh số 38/SL, tặng thưởng Huân chương Chiến thắng hạng nhất cho 5 cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam và  cho 5 cán bộ đã hy sinh trong kháng chiến-Nguồn: Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh-Những sự kiện).

Thay lời kết

Ngược dòng lịch sử về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, có thể thấy Mặt trận Tây Gia Lai là một mặt trận đầy gian khổ và ác liệt… Ghi nhận trận đánh phản phục kích của ta tại  Mook Đen, Ia Dom năm 1946, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai có đoạn: “Ngày 21-6-1946, quân Pháp có không quân, pháo binh yểm trợ đồng loạt tiến công ồ ạt vào các mặt trận của ta… Trên hướng Plei Mokđen (tức Mook Đen-N.V), quân Pháp vừa tấn công chính diện, vừa luồn rừng tấn công phía sau quân ta. Bộ chỉ huy mặt trận khi đi thị sát Mặt trận phía Tây bị phục kích, bị tổn thất nặng. Các đồng chí Hữu Thành, Đàm Minh Viễn trong Ban Chỉ huy và một số đồng chí trong đoàn đã hy sinh”.

Tuy nhiên, qua những nhân chứng, tài liệu, chúng ta được biết thêm còn nhiều cán bộ, chiến sĩ của Chi đội Tây Sơn, Đại đoàn 23 đã hy sinh khi trấn giữ phòng tuyến. Máu và thân xác họ đã nhuộm đỏ mảnh  đất này, nhưng trong gần 70 năm qua sau trận chiến ở Mặt trận Tây Gia Lai năm 1946, hài cốt các anh vẫn nằm đây nhưng chưa có một dòng bia mộ. Cần lắm việc tiếp tục tìm kiếm cất bốc hài cốt các liệt sĩ để đưa các anh về nơi an nghỉ cuối cùng.  Hoặc hãy dựng ở đây một tấm bia để tưởng nhớ các anh.

Quốc Ninh

[links(left)

(Văn bản 3)

Các chiến sĩ Quốc tế trong kháng chiến chống Pháp

TƯỚNG THIÊN HOÀNG TÌNH NGUYỆN LÀM CHIẾN SĨ VIỆT MINH

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=457.25;wap2

MINH TUẤN

I-ka-oa (Ikawa), vị tướng của đạo quân Thiên hoàng Nhật Bản sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trở thành chiến sĩ của Việt Minh, nhiều nbơười đã biết. Nhưng vì sao một vị tướng của đạo quân phát xít lại tình nguyện theo cách mạng Việt Nam và ông hy sinh ở đâu?. . . đến nay vẫn còn ít ngllời được rõ…

…I-ka oa hy sinh anh dũng ở Tây Nguyên

Có thông tin nói, I-ka-oa hy sinh ở Quảng Ngãi. Nhưng theo lời kể của Mit-su-no-bu là người đi sát I-ka-oa, lúc đó đang  làm giáo viên ở Truồng Lục quân Quảng Ngãi dưới quyền tướng Nguyễn Sơn thì l-ka-oa hy sinh cùng ngày với Đàm Minh Viễn và một số cán bộ Việt Minh ở đèo Mang Giang. Mit-su-no-bu kể: Tình hình lúc này rất căng thẳng, nóng bỏng. Quân Pháp sau khi chiếm Sài Gòn đang tiến lên phía bắc theo 2 gọng kìm theo quốc lộ 1 ven biển đã đến Nha Trang và theo đường số 9 miền núi. . . Theo đề nghị của tướng Nguyễn Sơn, I-ka-oa cùng quan lính Nhật hợp tác với Việt Minh, thực hiện kế hoạch xây dựng tuyến phòng thủ khu vực Tuy Hoà để chặn quân Pháp. I-ka-oa được điều vào Quảng Ngãi từ tháng 3 năm 1946, sau đó được đặc trách phái viên tác chiến đi đôn đốc kiểm tra các khu vực bố phòng. Mùa thu, khi Trung ương cử đoàn cán bộ cao cấp do Đàm Minh Viễn – anh ruột Đàm Quang Trung – dẫn đầu vào đi thị sát mặt trận Tây Nguyên, thì I- ka-oa được tướng Nguyễn Sơn cử đi theo đoàn. Đoàn đi bằng 1 xe Jeep và 1 xe Camion, xuất phát từ Quy Nhơn theo đường 9 lên An Khê. Lúc này, các chi đội Nam tiến cũng đang hoạt động chặn địch, ngăn quân Pháp từ Tây Nguyên có thể thọc xuống Quy Nhơn. Khi xe của đoàn tiến lên định vượt đèo Mang Giang thì xe bị trúng mìn và địch phục kích bất ngờ nổ súng, nên cả đoàn hy sinh oanh liệt. . .

Theo những lời kể trên thì I-ka-oa hy sinh ở đèo Mang Giang – Tây Nguyên. I-ka-oa, một vị tướng Thiên hoàng đã tình nguyện đi với Việt Minh tuy mới có hai trăm ngày đêm, dù chưa có những “thành tích, chiến công nổi bật” và đã hy sinh ở Tây Nguyên, thì cũng là một “Chiến sĩ Việt Nam mới”, một chiến sĩ tình nguyện đã hy sinh oanh liệt vì nền độc lập của Việt Nam. Dân tộc Việt Nam mãi mãi tưởng nhớ đến liệt sĩ I-ka-oa….

(Văn bản 4)

BA ANH EM NHÀ HỌ ĐÀM

http://violet.vn/thpt-tinhtuc-caobang/entry/showprint/entry_id/8106464

http://www.caobang.gov.vn/wps/wcm/connect/Web+Content/caobang/vietvecaobang/bcb427804bf5360f8861afcc3cc8839b?presentationtemplate=PT+-+Print&presentationtemplateid=45183700422ff7f1a662be40f0083290

Thượng tướng Đàm Quang Trung là người con trai út trong nhà họ Đàm có 7 anh chị em. Người anh cả là Đàm Văn Lý (Bí danh là Quý Quân), sinh năm 1915 (Cùng tuổi với Đàm Văn Mông – Lê Quảng Ba). Đàm Văn Lý cũng tham  gia hoạt động cách mạng rất sớm, vào Đảng năm 1932 – Năm 1936 là Châu uỷ viên châu Hà Quảng. Năm 1939, bị bắt, bị đày lên nhà tù Sơn La. Năm 1940, lãnh đạo tổ chức vượt ngục bị bắt lại, bọn cai ngục đã sát hại đồng chí, chặt đầu bêu trước cổng nhà tù Sơn La. Hiện nay, tại di tích lịch sử này có tấm biển lớn ghi lại sự kiện này. Ở huyện Hà Quảng hiện nay có một xã được đặt tên là xã Quý Quân – lấy theo bí danh của liệt sĩ Đàm Văn Lý, người đảng viên trung kiên, bất khuất.

Vậy còn người con trai giữa, em trai Đàm Văn Lý, anh trai Đàm Ngọc Lưu (Quang Trung) là ai? lịch sử Hà Quảng, lịch sử Cao Bằng ghi chép quá khiêm tốn. Trong thời gian tôi đi khảo sát, lấy tư liệu ở làng Nà Mạ để viết cuốn KIM ĐỒNG, nhiều người cho biết, người tổ chức ra đội nhi đồng cứu quốc làng Nà Mạ do Kim Đồng (Nông Văn Dèn) làm đội trưởng là anh Đức Thanh, anh trai của Đàm Quang Trung, một người rất tài giỏi (đánh giá của những người cung cấp thông tin), sắc sảo hơn cả Quang Trung! (sự so sánh vô tư, vô cùng!). Tôi có đưa nhân vật Đức Thanh vào trong cuốn KIM ĐỒNG, nhưng biết rất ít về anh. Tháng 5/2011, tôi xuống nhà xuất bản Kim Đồng trao đổi về việc in cuốn Kim Đồng, tôi đưa ra nhận xét riêng của mình “Không có Đức Thanh, chưa thể có hoặc không có đội nhi đồng cứu quốc Nà mạ ngày 15/5/1941“. Giám đốc Phạm Quang Vinh tỏ ý tán đồng và đề nghị: “Vậy thì anh viết một cuốn về anh Đức Thanh đi!”. Máu bốc đồng trỗi lên, tôi bắt tay giám đốc Phạm Quang Vinh: “Đồng ý”. Khi buông tay, tôi giật mình: Có biết gì về Đức Thanh ngoài mẩu thông tin ngắn như trên mà dám viết cả một cuốn sách thì thật là liều! Nhưng đã bắt tay rồi thì phải làm thôi! Tôi bèn sục sạo tìm tài liệu thì được biết thêm, Đức Thanh có tên họ đầy đủ là Đàm Minh Viễn. Năm 1942 được Bác hồ cử phụ trách mở đường Đông tiến (từ Cao Bằng đánh thông đường xuống Lạng Sơn, Hà Nội) Đức Thanh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lãnh đạo cướp chính quyền ở Lạng Sơn, làm Bí thư tỉnh Lạng Sơn rồi được Bác Hồ gọi về Hà Nội giao chỉ huy một trung đoàn, mang chỉ thị kháng chiến kiến quốc của trung ương Đảng vào Sài Gòn – chợ lớn. Vào đến Sài Gòn Đức Thanh tham gia cuộc họp của xứ uỷ Nam Kỳ bàn thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng. Uỷ ban kháng chiến Nam bộ mới được thành lập do đồng chí Cao Hồng Lãnh làm chủ tịch, đồng chí Đàm Minh Viễn làm chủ nhiệm tham mưu (Hoàng Quảng Uyên nhấn mạnh), đồng chí Trần Đức Danh chủ nhiệm chính trị, đồng chí Tôn Đức Thắng: chủ nhiệm hậu cần. Với cương vị chỉ huy quân sự, Đàm Minh Viễn đã chỉ huy đánh thắng nhiều trận… rồi anh dũng hy sinh. Tôi nghĩ, với một vị trí lãnh đạo cao, có nhiều chiến công như thế chắc chắn lịch sử sẽ có nhiều đoạn ghi chép hay về những chiến công và cả sự hy sinh của Đàm Minh Viễn, tôi quyết định “Nam tiến” với sự trợ giúp của nhà xuất bản Kim Đồng. Nhà văn Cao Xuân Sơn, trưởng chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh đã rất nhiệt tình giúp đỡ tôi, dù vậy tôi vẫn không thể “kiếm thêm” được tư liệu nào. Xin gặp trưởng ban tuyên giáo thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh không được, cán bộ sử của ban tuyên giáo tặng tôi cuốn Lịch sử Nam bộ kháng chiến (cũ), cũng chỉ có một “mẩu” như tôi đã dẫn ở trên. Thật là một chuyến đi công toi.

Về Cao Bằng, tôi quyết định lần từ gốc tức là về bản Nà nghiềng tìm hiểu. Trước chuyến đi chừng nửa tháng, tôi gọi điện nhờ bí thư huyện Hà Quảng giúp đỡ. Bí thư bảo: “bận lắm, nhưng sẽ lưu ý”. Để chắc ăn, trước khi đi 2 ngày, tôi lại điện cho bí thư. Bí thư vẫn trả lời cùng một giọng: “bận lắm, sẽ giao việc cho huyện đoàn”. Tôi lên huyện đoàn Hà Quảng, thấy các bạn thanh niên đang có một cuộc rượu, tôi dè dặt hỏi bí thư đoàn. Bí thư rời cuộc rượu bắt tay tôi. Tôi vào đề bằng cách nhắc lại lời bí thư huyện uỷ, bí thư đoàn ngơ ngác: “không thấy bí thư nói gì. Bận lắm!”. Tôi ngán ngẩm quá, sang ban tuyên giáo rồi phòng Lao động – Thương binh – Xã hội… tất cả đều ngơ ngác nhìn tôi như nhìn một người có vấn đề về đầu óc vì “già rồi, đi khơi lại một việc nhỏ nhặt như thế, lợi lộc gì?”. Tôi thật sự khinh hãi về sự họp, sự bận bịu thời nay và cả sự trơ lỳ với lịch sử, với con người của những người gánh trên vai mình nhiều “Trọng trách”.

Tôi quyết định đi thẳng lên Nà Nghiềng (có cán bộ Phòng Lao động Thương binh – Xã hội đi cùng) tìm đến nhà ông Đàm Ngọc Uyển là người đang thờ cúng liệt sĩ Đàm Văn Lý. Ông Đàm Ngọc Uyển là người con trai thứ 2 của ông Đàm Văn Lý (Người con cả tên là Đàm Văn Thuyết hiện sống ở thành phố Lạng Sơn). Ông Đàm Ngọc Uyển cho biết, ba anh em nhà họ Đàm, 2 người đã nói rõ, còn người anh thứ hai của thượng tướng Đàm Quang Trung tên là Đàm Văn Lân, sinh năm 1919, bí danh hoạt động cách mạng là Đức Thanh, Đàm Minh Viễn, theo anh trai Đàm Văn Lý hoạt động cách mạng rất sớm. Cuối năm 1940 lánh sang Trịnh Tây, cùng Lê Quảng Ba về dự lớp huấn luyện ở Nặm Quang (một trong 40 con đại bàng cách mạng). Về nước, Đàm Minh Viễn lên Pác Bó, được Bác giao cho phụ trách thanh niên cứu quốc và nhi đồng cứu quốc. Ngày 20/4/1941 Đàm Minh Viễn thành lập chi đoàn thanh niên cứu quốc cứu quốc đầu tiên tại làng Nà Mạ. Ngày 15/5/1941 thành lập đội Nhi đồng cứu quốc, cử Kim Đồng làm đội trưởng. Ngày 22/12/1941 được bầu làm bí thư đoàn thanh niên cứu quốc tỉnh Cao Bằng. Tham gia đội du kích Pác bó do Lê Quảng Ba làm đội trưởng.

Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Đàm Minh Viễn đã lãnh đạo, tổ chức thành công mở đường Đông tiến, giành chính quyền tại tỉnh Lạng Sơn. Năm 1945 – 1946 lãnh đạo bộ đội Nam tiến rồi hy sinh ở chiến trường Miền Nam.

Tôi ngước nhìn lên bàn thờ. Hai tấm bằng tổ quốc ghi công của ông Đàm Văn Lý và ông Đàm Văn Lân treo cạnh nhau, ghi rõ năm cấp là năm 1980. Vậy là tới tận năm 1980 hai ông mới được công nhận là liệt sĩ. Tấm bằng của ông Đàm Văn Lân – Đàm Minh Viễn có ghi: Trung đoàn trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

PHỦI BỤI THỜI GIAN

Ông Đàm Văn Lân (Đàm Minh Viễn) người con của làng Nà Nghiềng đóng góp lớn cho cách mạng nhưng vì một lý do nào đó mà chưa được ghi nhận công lao một cách xứng đáng. Tôi nói như vậy bởi vì Đàm Minh Viễn – Đức Thanh cũng có thể xếp vào hàng những người học trò xuất sắc, cộng sự gần gũi, tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã hiến dâng tuổi trẻ của mình cho đất nước với những hoạt động sôi nổi, cống hiến quan trọng: năm 22 tuổi tổ chức chi đoàn thanh niên cứu quốc đầu tiên, tổ chức đội nhi đồng cứu quốc đầu tiên; 23 tuổi là bí thư tỉnh đoàn thanh niên cứu quốc; 24, 25 tuổi tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng và cướp chính quyền ở tỉnh Lạng Sơn; 26, 27 tuổi là Trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng, phụ trách quân sự trong uỷ ban kháng chiến Nam bộ… nếu không hy sinh sớm, có nhiều khả năng sau này ông sẽ được phong tướng. Lịch sử không có NẾU….

LB: Chắc gì Đàm Quang Trung là em trai út của Đàm Văn Lý và Đàm Minh Viễn đây? Nhà có 7 anh em, anh Trưởng sinh 1915 thì em út không thể sinh 1921 được! Mà Đàm Quang Trung thì không thể sinh muộn hơn vì: “Cuối năm 1945 tham gia bội đội Nam Tiến, làm chỉ huy trưởng Mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng.”!

(Văn bản 5)

Người bí thư Tỉnh đoàn đầu tiên của Cao Bằng (21/04/2011)

http://www.caobang.gov.vn/wps/wcm/connect/Web+Content/caobang/vietvecaobang/62d0378046929d209908bbe91b39c2c7?presentationtemplate=PT+-+Print&presentationtemplateid=45183700422ff7f1a662be40f0083290

Đồng chí Đàm Minh viễn (tức Đức Thanh,  Minh Viễn) tên thật là Đàm Văn Lân (1919 –  1946), quê xóm Nà Nghiềng, xã Sóc Hà (Hà Quảng), là Bí thư Tỉnh đoàn đầu tiên của Cao Bằng.

Vùng Hà Quảng nói chung và Sóc Hà (lúc đó là Sóc Giang, nay là 3 xà Sóc Hà, Nà Sác, Quý Quân) nói riêng có phong trào chống Pháp từ rất sớm. … Do thực dân pháp khủng bố ác liệt nên cuối năm 1940, Đức Thanh cùng một số cán bộ cốt cán tạm thời lánh sang Trung Quốc hoạt động, đồng chí được dự lớp huấn luyện cán bộ ở Tĩnh Tây, Trung Quốc do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… giảng dạy.

Khi lãnh tụ Nguyễn ái Quốc về nước, ở Pác Bó, Đức Thanh được già Thu (bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái  Quốc) cho vào làm việc trong hang Cốc Bó. …Đức Thanh còn được giao nhiệm với tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho thiếu niên nhi đồng để thành lập Đội Nhi đồng Cứu quốc. Ngày 15/5/1941, Đức Thanh đã tổ chức Đội Nhi đồng Cứu quốc, do Nông Văn Dền (tức Kim Đồng) làm Đội trưởng.

…Đến tháng 8/1942, Đại hội đại biểu Việt Minh châu Hà Quảng đã tín nhiệm bầu Đức Thanh và các đồng chí Hoàng Tô, Nông Thị Trưng, Dương Đại Lâm, Tư Bào vào Ban Việt Minh châu Hà Quảng; Đức Thanh được phân công phụ trách Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Nhi đồng Cứu quốc. Tháng 11/1942, tại Đại hội đại biểu Việt Minh toàn tỉnh lần thứ I đã bầu Ban Việt Minh tỉnh và bầu Ban Chấp hành các hội Cứu quốc, Đức Thanh được bầu vào Ban Việt Minh, giữ chức Bí thư Đoàn Thanh niên Cứu quốc tỉnh.

…Ngày 10/12/1945, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị mở rộng tại một xã bên sông Vàm Cỏ Đông. Hội nghị bàn về thực hiện chỉ thị của Trung ương, bố trí cán bộ theo quyết định của Trung ương. Hội nghị quyết định giải thể Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, thành lập Ủy ban kháng chiến miền Nam do Cao Hồng Lãnh (Hồng Lĩnh) làm Chủ tịch, Đàm Minh Viễn làm Chủ nhiệm tham mưu, Trần Ngọc Danh làm Chủ nhiệm chính trị, Tôn Đức Thắng (sau này là Chủ tịch nước) làm Chủ nhiệm hậu cần.

Sau hội nghị, Đàm Minh Viễn làm việc tại Ủy ban kháng chiến miền Nam và được giao chỉ huy một đoàn quân lớn, trực tiếp chiến đấu với quân Pháp xâm lược. Giữa năm 1946, trong một trận chiến đấu ác liệt, Đàm Minh Viễn đã anh dũng hy sinh khi đang tràn đầy nhiệt huyết cách mạng.

1. Uy vien Toi cao 2. Chet mat xac 1947 3. Bi quen

Đã xem 18 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments