Bài 7. Giết Cộng Sản kỳ Cựu – Xứ Ủy viên Bắc kỳ Hoàng Đình Giong rồi đổi lằng nhằng là… tình báo do thực Dân Anh đào tạo, là Khu bộ trưởng Vũ Đức!

I. Bằng Chứng:

  1. Đảng viên 1930:Hoàng Văn Thụ và Hoàng Văn Nọn được kết nạp vào Đông Dương cộng sản Đảng và thành lập chi bộ Đảng ở Long Châu (Trung Quốc), đồng chí Hoàng Đình Giong được bầu làm Bí thư chi bộ. Ngày l/4/1930, chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập…(Văn bản 1)
  2. Đứng đầu xứ ủy Bắc Kỳ:Hoàng Đình Giong được dẫn đầu đoàn đại biểu Xứ ủy Bắc kỳ đi dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Ma Cao (Trung Quốc) tháng 3/1935; đồng chí được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. (Văn bản 1)
  3. Là tù CS được Thực Dân Anh tin tưởng đào tạo làm … Tình báo!Sau đó, thực dân Pháp đày đồng chí đến đảo Ma-đa-ga-xca (chân Phi). Là người có nhiều kinh nghiệm đấu tranh trong nhà tù đế quốc, đồng chí đã thoát khỏi ngục tù về nước hoạt động cách mạng. Ngày 25/10/1944, Hoàng Đình Giong và Lê Giản nhảy dù an toàn xuống Bản Ngần (xã Vĩnh Quang, Hòa An). …(Văn bản 1)

“Đối tượng họ nhắm đến để tung vào chiến trường Đông Dương là những tù chính trị người Việt Nam ở Ma-đa-ga-xca. Ở đây có 27 người tù thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, tù thân Nhật cũng có, tù cộng sản cũng có… Những người được Bộ tư lệnh Anh chọn đều là những người tù cộng sản. Lý do để giải thích điều này là họ có tinh thần chiến đấu, có quyết tâm rất cao, có nghị lực và tư cách đạo đức tốt. Bảy người được chọn ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc. Trong đó Dương Công Hoạt và Hoàng Đình Giong rất thông thạo địa hình vùng Cao Bằng và tuyến biên giới Việt-Trung. …” (Văn bản 2)

  1. Quân Anh đào tạo tình báo để biếu Hồ.

“Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân ta do Việt Minh phất cờ lãnh đạo đã diễn ra và thành công trọn vẹn trong thời gian ngắn ngủi nên liên lạc giữa nhóm nhảy dù và người Anh bị cắt đứt. Mặc dù vậy, chiến dịch nhảy dù xuống Bắc Bộ để tham gia chống Nhật, giải phóng dân tộc của các chiến sĩ cộng sản Việt Nam, dựa vào phương tiện của người Anh đã thắng lợi trọn vẹn. Đội ngũ đấu tranh của Đảng được bổ sung thêm bảy chiến sĩ trung kiên cùng nhiều trang bị mới, hiện đại. Các đồng chí sau này đều trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng, của công an, của quân đội ta. Đồng chí Hoàng Đình Giong là Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 9.” (Văn bản 2)

  1. Là Võ Văn Đức Chỉ huy trưởng bộ đội Nam tiến:Thực hiện Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc (23 giờ ngày 13/8/1945), Đảng bộ Cao Bằng cử đồng chí Hoàng Đình Giong làm Trưởng Ban khởi nghĩa, lãnh đạo lực lượng vũ trang cùng với quần chúng nổi dậy; từ ngày 20 – 22 – 8/1945, giành chính quyền cách mạng trước khi quân Đồng minh kéo vào nước ta. Ngày 11/0/1945, đồng chí Hoàng Đình Giong được Bác Hồ và Trung ương Đảng giao nhiệm vụ làm Chỉ huy trưởng bộ đội Nam tiến với tên mới Bác Hồ đặt cho là Võ Văn Đức.(Văn bản 1)
  2. 6. Vũ Đức chết:

Cuối tháng 11/1946 , Khu bộ trưởng Vũ Đức lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới.

Trong lúc phong trào cách mạng ở địa phương đang phát triển thuận lợi, khoảng giữa năm 1947, Khu bộ trưởng Vũ Đức trong khi đang làm việc tại Sở chỉ huy Khu bộ, bị địch tấn công bất ngờ, đồng chí đã chiến đấu dũng cảm, bắn địch đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh. …(Văn bản 1)

  1. Phân Tích.
  2. Chuyện về những người tù Cộng sản bị đày đi “Ma-đa-ga-xca (chân Phi).” rồi được quân Anh tuyển chọn để đào tạo Tình báo với lý do “Những người được Bộ tư lệnh Anh chọn đều là những người tù cộng sản. Lý do để giải thích điều này là họ có tinh thần chiến đấu, có quyết tâm rất cao, có nghị lực và tư cách đạo đức tốt.” nghe như là Tiểu thuyết Cộng sản của Hồ Chí Minh vậy!
  3. Người Anh đào tạo Tình báo xong, đem thả về Bắc Bộ mà không sử dụng được một ngày nào, một người nào? Có lẽ quân đội Anh không yếu kém đến như vậy! “Bảy người được chọn ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc.”, “Đội ngũ đấu tranh của Đảng được bổ sung thêm bảy chiến sĩ trung kiên

Sự thật câu chuyện này là Hồ đã đưa những người này mới bổ xung từ Trung Cộng về rồi tìm cách dựng chuyện cho giật gân như thế mà thôi. Công đôi ba việc, khi Vũ Đức được cử vào Nam tiêu diệt nhiều Cộng Sản kỳ cựu ở trong đó rồi, Hồ cho trừ khử đi để tránh lộ chuyện như Trung Tướng Nguyễn Bình vậy, rồi đến lúc cần giải thích cộng sản kỳ cựu Hoàng Đình Giong đâu? thì bọn chúng đã tiện luôn nói Vũ Đức là cộng sản kỳ cựu Hoàng Đình Giong! (Ta sẽ nghiên cứu thêm về họ ở quyển 9)

            Thế mới thật là:

                        Đình Giong đảng tận 30

                        Đứng đầu xứ ủy Bắc Kỳ giỏi không?

                        Quân Anh đã chết hết đâu

                        Sao nhờ Cộng Sản làm thay… Báo tình? (1)

                        Đình Giong quân sự biết gì

                        Mà làm Khu Trưởng đau lòng dân tôi

                        Hay là cũng giống Giáp kia

                        Thấy giáo dạy sử – Tướng quân đại tài? (2)

 

                        Bây giờ hỏi nhỏ Đức ơi

                        Tội gì mà để thằng Hồ thủ tiêu (3)

                        Giết rồi nó đổi lằng nhằng

                        Bảo Giong là Đức khác gì Nõn – Tân! (4)

 

(1). Xem thêm những người về từ Ma-đa-ga-xca.

(2). Xem Võ Nguyên Giáp

(3) Xem quyển 25 – Dùng xong là giết Các Thái thú điều vào để diệt Cộng phía nam.

(4) Bảo Hoàng Văn Nõn là Văn Tân (Xem bài 9.)

III. Tài liệu nghiên cứu:

(Văn bản 1)

            Hoàng Đình Giong – Người Cộng sản trung kiên
20:48 | 28/06/2009

http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30117&cn_id=347512

(ĐCSVN) – Đồng chí Hoàng Đình Giong (tức Hoàng Nam Bình, Văn Tư, Võ Văn Đức, Vũ Đức ), sinh ngày 1/6/1904, tại làng Thâm Hoáng, xã Hạ Hoàng (nay là xã Đề Thám, thị xã Cao Bằng). Đồng chí là người cộng sản ưu tú của Đảng, là một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Cao Bằng, là người đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin do Nguyễn Ái Quốc truyền bá vào Cao Bằng, là người xây dựng Đảng bộ Cao Bằng.

Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí Hoàng Đình Giong gắn liền với những chiến công hiển hách của dân tộc, đất nước, quê hương cách mạng Cao Bằng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết trong cuốn ” Hoàng Đình Giong – cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng (1904 – 1947) ” : “Đồng chí Hoàng Đình Giong là một người cộng sản trung kiên, một người con tiêu biểu của đồng bào các dân tộc quê hương cách mạng Cao Bằng. Đồng chí đã chiến đấu kiên cường, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và lý tưởng cộng sản cao đẹp…”.

Từ lúc còn nhỏ, Hoàng Đình Giong là một học sinh thông minh, hăng say học tập, sớm có tư tưởng yêu nước, ghét Tây. Nhưng năm 1923 – 1924 đồng chí đã bí mật tuyên truyền tư tưởng yêu nước trong học sinh các trường tiểu học ở Thị xã, Hòa An và Hà Quảng. Cuối năm 1925, đầu năm 1926. đồng chí học Ở Trường Bách Nghệ, Hà Nội. Cũng lúc này, trong nước đón nhận những tài liệu tuyên truyền của tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (VNCMTN) do lãnh tụ Nguyên Ái Quốc sáng.lập. Sự kiện đó như làn gió thổi bùng lên niềm khát khao cháy bỏng đã ấp ủ từ bấy lâu nay của chàng trai dân tộc Tày. Thời gian này, đồng chí tích cực tham gia phong trào bãi khoá của học sinh Hà Nội, tham gia tổ chức lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh. Sau buổi lễ truy điệu đó một số học sinh trường Bách Nghệ bị đuổi học, trong đó có Hoàng Đình Giong. Sau một thời gian hoạt động ở Hà Nội, đồng chí trở về Cao Bằng, vận động một số thanh niên và học sinh ở châu Hòa An vào Hội thanh niên yêu nước như Hoàng Văn Nọn (tức Tú Hưu, Hoàng Như), Lê Đoàn Chu (tức Nam Cao, Lê Mới) và Nông Văn Đô (tức Bích Giang, Cát Lợi).

Năm 1927, Hoàng Đình Giong ra nước ngoài để liên lạc với tổ chức Hội VNCMTN. Tháng 12/1929, đồng chí Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Văn Nọn được kết nạp vào Đông Dương cộng sản Đảng và thành lập chi bộ Đảng ở Long Châu (Trung Quốc), đồng chí Hoàng Đình Giong được bầu làm Bí thư chi bộ. Ngày l/4/1930, chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập. Từ đó phong trào cách mạng Cao Bằng chuyển sang một bước ngoặt mới. Do vậy, Đảng bộ Cao Bằng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong thời kỳ vận động cách mạng 1930 – 1935 cùng như các thời kỳ sau này. Đồng chí đã xây dựng Cao Bằng thành cầu nối giữa Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng với phong trào cách mạng trong nước. Với thành tích xuất sắc trên, đồng chí Hoàng Đình Giong được dẫn đầu đoàn đại biểu Xứ ủy Bắc kỳ đi dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Ma Cao (Trung Quốc) tháng 3/1935; đồng chí được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.

Cuối năm 1935, đồng chí trở về nước, tổ chức chỉ đạo phong trào công nhân tại Hải Phòng, Quảng Ninh. Khi đang tìm cách bắt liên lạc với cơ sở thì không may bị sa vào tay giặc (tháng 2/1936). Tại sở mật thám Hải Phòng, bị tra tấn rất dã man nhưng đồng chí không khai một lời. Đồng chí bị tuyên án 5 năm tù, bị giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), nhà tù Sơn La. Sau đó, thực dân Pháp đày đồng chí đến đảo Ma-đa-ga-xca (chân Phi). Là người có nhiều kinh nghiệm đấu tranh trong nhà tù đế quốc, đồng chí đã thoát khỏi ngục tù về nước hoạt động cách mạng. Ngày 25/10/1944, Hoàng Đình Giong và Lê Giản nhảy dù an toàn xuống Bản Ngần (xã Vĩnh Quang, Hòa An). Đồng chí Hồng Kỳ, cán bộ Việt Minh chờ và đưa đồng chí Hoàng Đình Giong về cơ sở cách mạng, sau đó được giao nhiệm vụ cùng cấp ủy chỉ đạo phong trào. Sau ngày 9/3/1945, đồng chí cùng Đảng bộ Cao Bằng lãnh đạo nhân dân xóa bỏ chính quyền tay sai của địch, thành lập và bảo vệ chính quyền cách mạng ở hầu hết các châu trong tỉnh, bao vây quân đội Nhật, trấn áp bọn phỉ phản động. Thực hiện Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc (23 giờ ngày 13/8/1945), Đảng bộ Cao Bằng cử đồng chí Hoàng Đình Giong làm Trưởng Ban khởi nghĩa, lãnh đạo lực lượng vũ trang cùng với quần chúng nổi dậy; từ ngày 20 – 22 – 8/1945, giành chính quyền cách mạng trước khi quân Đồng minh kéo vào nước ta. Ngày 11/0/1945, đồng chí Hoàng Đình Giong được Bác Hồ và Trung ương Đảng giao nhiệm vụ làm Chỉ huy trưởng bộ đội Nam tiến với tên mới Bác Hồ đặt cho là Võ Văn Đức.

Suốt chặng đường vào Nam, bọn Nhậtt gây nhiều khó khăn cho đoàn quân Nam tiến. Sau một thời gian hành quân gian khổ vừa đi vừa tác chiến,

khoảng nửa cuối tháng 10/1945, đơn vị Nam tiến thứ nhất đã có mặt và tham gia chiến đấu bao vây quân Pháp ở Sài Gòn. Cuộc chiến đấu ngoan cường của quân và dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đã kìm chân giặc Pháp hơn một tháng tại thành phố, bước đầu phá vỡ kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của chúng. Ngày 10/12/1945, đồng chí Võ Văn Đức được bổ nhiệm làm Khu bộ

trưởng khu IX (gồm 9 tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng…). Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ chỉ huy khu IX, các lực lượng được tổ chức lại một cách hợp lý. Với tầm nhìn chiến lược, Khu bộ trưởng Võ Văn Đức đã có những quyết định sáng suốt, phù hợp để giải quyết những vấn đề lớn trên chiến trường. Làm công tác giáo dục sâu rộng trong cán bộ, đồng bào Việt – Khơ me vè âm mưu chia rẽ của giặc, nhờ đó, lực lượng vũ trang dần dần được tổ chức chặt chẽ, chi huy và lãnh đạo đơn vị ngày càng được củng cố và hoạt động có hiệu quả. Với nhưng đóng góp xuất sắc của Tư lệnh Vũ Đức (thời gian này Võ Văn Đức được gọi là Vũ Đức) trong những ngày đầu năm 1946 đã góp phân củng cố và tổ chức lại bộ đội, giải quyết đúng đắn chính sách dân tộc, xây dựng tình đoàn kết dân tộc Việt và Kho me…

Cuối tháng 11/1946 , Khu bộ trưởng Vũ Đức lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Khi đến tỉnh Ninh Thuận, đồng chí nhận được quyết định của Trung ương phân công ở lại làm Khu bộ trưởng khu VI. Những tháng đầu năm 1947, mặc dù ở đây tình hình khó khăn, với kinh nghiệm và bản lĩnh của người chỉ huy từng trải, Khu bộ trưởng đã chỉ đạo các tỉnh trong khu gây dựng cơ sở, củng cố đoàn thể, tổ chức lực lượng dân quân, du kích, tự vệ, phát triển đảng viên, xây dựng chi bộ. Do đó, từng bước làm ổn định, củng cố mọi một, động viên cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của cách mạng. Trong lúc phong trào cách mạng ở địa phương đang phát triển thuận lợi, khoảng giữa năm 1947, Khu bộ trưởng Vũ Đức trong khi đang làm việc tại Sở chỉ huy Khu bộ, bị địch tấn công bất ngờ, đồng chí đã chiến đấu dũng cảm, bắn địch đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh. …

Các từ khóa theo tin:

NÔNG VĂN MẬU(CTV)

(Văn bản 2)

Những chiến sĩ đổ bộ đường không đầu tiên
http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30255&cn_id=42810

10:40 | 06/12/2004 Họ là một tổ gồm bảy người. Trước họ đã có đồng chí Lê Hồng Phong từng học ở trường quân sự Hoàng Phố và trường Hàng không ở Quảng Châu (Trung Quốc) năm 1925-1926, rồi học ở Trường lý luận quân sự không quân (B.B.C) ở Lê-nin-grát và Trường đào tạo phi công quân sự ở Bô-ri-ê-lép-xcơ (Liên Xô). Nhưng đồng chí Lê Hồng Phong chưa tham gia nhảy dù trong tình huống chiến đấu tại mặt trận hoặc xuống vùng địch hậu.
Nhóm bảy chiến sĩ Việt Nam đầu tiên thực hiện nhiệm vụ nhảy dù xuống vùng đất Việt Nam bị Nhật chiếm trong khoảng cuối năm 1944 đầu năm 1945 gồm có Lê Giản (Tô Gi); Hoàng Đình Giong, Dương Công Hoạt, Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi); Trần Hiệu (Vũ Văn Địch); Nguyễn Văn Ngọc; Nguyễn Văn Minh (Nguyễn Văn Phòng). Đây là bảy chiến sĩ bị thực dân Pháp bắt và giam cầm tại đảo Ma-đa-ga-xca từ năm 1941. Năm 1944, cục diện của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai biến đổi nhanh chóng theo hướng có lợi cho phe chống phát xít. Đức, Ý ở châu Âu đang trên đà gục ngã, Nhật ở châu Á Thái Bình Dương đã mất thế tấn công, đang trong thế phòng thủ. Ở Pháp, phe kháng chiến Đờ Gôn đã thắng thế. Bộ tư lệnh quân Anh ở Ấn Độ triển khai kế hoạch tung một số lực lượng người bản xứ chống Nhật xuống những thuộc địa của Anh, Pháp bị Nhật chiếm từ đầu cuộc chiến tranh để đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích ở các vùng này, chuẩn bị cho những chiến dịch lớn của đồng minh tiêu diệt hoàn toàn phát xít Nhật. Đối tượng họ nhắm đến để tung vào chiến trường Đông Dương là những tù chính trị người Việt Nam ở Ma-đa-ga-xca. Ở đây có 27 người tù thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, tù thân Nhật cũng có, tù cộng sản cũng có… Những người được Bộ tư lệnh Anh chọn đều là những người tù cộng sản. Lý do để giải thích điều này là họ có tinh thần chiến đấu, có quyết tâm rất cao, có nghị lực và tư cách đạo đức tốt. Bảy người được chọn ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc. Trong đó Dương Công Hoạt và Hoàng Đình Giong rất thông thạo địa hình vùng Cao Bằng và tuyến biên giới Việt-Trung. Cả hai phương án thâm nhập bằng đường bộ và đường biển đều không thuận lợi. Phương án đổ bộ bằng đường không tỏ ra có nhiều lợi thế và triển khai nhanh chóng hơn cả: giữ được bất ngờ, bí mật, có thể tới thẳng những vùng căn cứ của ta, nơi ta có phong trào cách mạng có thể bảo vệ an toàn cho các chiến sĩ nhảy dù và tiếp nhận các phương tiện vũ khí. Nhưng để thực hiện phương án này, cả bảy người phải gấp rút học kỹ thuật nhảy dù – một phương pháp tác chiến còn khá mới với cả thế giới, đối với người Việt Nam là hoàn toàn mới.
Với tinh thần yêu nước cháy bỏng, các chiến sĩ cộng sản Việt Nam đang chịu án đày biệt xứ đã tranh thủ tận dụng tối đa cơ hội ngàn vàng để trở về Tổ quốc, góp sức vào cuộc đấu tranh của dân tộc đang dần tiến tới cao trào. Công việc học nhảy dù gói gọn trong khoảng 3 tháng. Ngoài việc học kỹ thuật nhảy dù, kỹ thuật xử lý các tình huống bất ngờ có thể xảy ra, các chiến sĩ còn phải học kỹ thuật lấy tin tức, kỹ thuật thông tin liên lạc và các kỹ năng chiến đấu cơ bản. Cả bảy người đã hoàn thành khóa huấn luyện một cách xuất sắc. Tất cả anh em chỉ nhảy thử một lần đã đạt yêu cầu. Điều này gây ngạc nhiên lớn cho các sĩ quan huấn luyện người Anh.
Ngày về chỉ được báo trước hai ngày. Chuyến đầu tiên tiến hành trong tháng 10-1944 gồm có Lê Giản, Hoàng Đình Giong đổ bộ xuống cách thị xã Cao Bằng chỉ chừng hai cây số. Hai đồng chí được đồng chí Hồng Kỳ, một bạn tù trước đây ở Sơn La, đón an toàn. Khoảng một tháng sau (tháng 11-1944), Dương Công Hoạt và Hoàng Hữu Nam nhảy xuống cánh đồng Khau Tòng (làng Khau Đồn), gần quê Dương Công Hoạt. Đầu năm 1945, nhóm thứ ba gồm Trần Hiệu, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Minh nhảy dù xuống vùng Chương Mỹ, gần quê của Trần Hiệu (Ba Thá, Vân Đình). Dù sau lưng, trang bị cá nhân đeo quanh người, trước bụng là máy thu phát vô tuyến điện. Anh em bí mật thay lớp xốp bảo vệ máy bằng những sách vở tài liệu đã thu thập được về cho cách mạng.
Cả bảy chiến sĩ đã tiếp đất an toàn. Được nhân dân bao bọc, che chở nên mặc dù bọn Nhật có lùng sục tìm kiếm nhưng các đồng chí vẫn bắt được liên lạc với tổ chức. Việc bắt liên lạc với Bộ tư lệnh Anh ở Ấn Độ đã có kết quả. Anh em ở Cao Bằng nhận được sáu dù mang máy thu thanh, thuốc men, quần áo và cả thức ăn. Nhóm ở Hà Tây nhận được một dù vũ khí. Sau đó, bởi diễn biến kết thúc cuộc chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra quá nhanh sau khi Liên Xô tham chiến chống Nhật. Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân ta do Việt Minh phất cờ lãnh đạo đã diễn ra và thành công trọn vẹn trong thời gian ngắn ngủi nên liên lạc giữa nhóm nhảy dù và người Anh bị cắt đứt. Mặc dù vậy, chiến dịch nhảy dù xuống Bắc Bộ để tham gia chống Nhật, giải phóng dân tộc của các chiến sĩ cộng sản Việt Nam, dựa vào phương tiện của người Anh đã thắng lợi trọn vẹn. Đội ngũ đấu tranh của Đảng được bổ sung thêm bảy chiến sĩ trung kiên cùng nhiều trang bị mới, hiện đại. Các đồng chí sau này đều trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng, của công an, của quân đội ta. Đồng chí Hoàng Đình Giong là Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 9. Đồng chí Trần Hiệu là Cục trưởng Cục tình báo quân đội. Đồng chí Lê Giản là Giám đốc Nha công an Trung ương, sau đó là Thứ trưởng Bộ Công an. Đồng chí Nguyễn Văn Ngọc là Giám đốc công an Trung Bộ. Đồng chí Dương Công Hoạt là Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng. Đồng chí Nguyễn Văn Minh là Xứ ủy viên Bắc Kỳ.
Chuyến nhảy dù của bảy chiến sĩ về Việt Nam do người Anh tổ chức năm xưa thực sự là một cuộc “thả hổ về rừng”. Có thể nói người Anh đầu tư khá lớn cho hành động quân sự và chính trị này song chưa thu lại được hiệu quả. Nhưng Đảng và nhân dân Việt Nam thì có lại bảy người con yêu dấu, bảy chiến sĩ trung kiên. Bảy người đã khôn khéo, mưu trí dùng mưu địch đánh địch trong một hoàn cảnh đặc biệt. Chuyến nhảy dù của họ là hành động độc nhất vô nhị trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Họ chính là những chiến sĩ đổ bộ đường không đầu tiên ở Việt Nam.
Người kể lại cho chúng tôi những kỷ niệm về chuyến nhảy dù năm xưa đã 88 tuổi. Bác Nguyễn Văn Minh vẫn bùi ngùi nhớ lại hai người bạn chiến đấu năm xưa đã hi sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp là Hoàng Đình Giong, Hoàng Hữu Nam và người bạn thân Trần Hiệu vừa mới qua đời cách đây ít lâu. Bác Nguyễn Văn Minh đã từng tốt nghiệp trường Đại học Phương Đông năm 1933, đã từng hoạt động cùng các đồng chí Lương Khánh Thiện, Nguyễn Văn Cừ, Tô Hiệu, Trường Chinh… đã từng giữ nhiều chức vụ trọng trách của Đảng: Xứ ủy viên Bắc Kỳ từ tháng 3-1937, Tổng thư ký hội Hữu nghị Việt-Xô… Đến nay, tuổi dù cao, sức đã yếu nhưng ông vẫn giữ được tác phong hăng hái, nhiệt tình mà bình dị vốn có. Ông tiếp chúng tôi trên một căn phòng khiêm nhường của tập thể Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phải đi vòng cổng sau rồi leo hai đoạn cầu thang mới tới nơi và hào hứng kể lại cho chúng tôi những kỷ niệm sâu sắc từ những năm tháng của cuộc đời hoạt động sóng gió và vinh quang của mình.

Ngô Vương Anh

Chuyen cuoi - Td Anh dung tu CS

Đã xem 8 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments