Bài 5. Hoàng Thiết Tâm – Kỳ cựu Cộng Sản đến 1945 bị diệt nốt, chuyện cười Đinh Xuân Nhạ trở thành Trần Quý Kiên và chuyện Thành ủy Hải Phòng cũng mất tích.

I. Bằng chứng và phân tích:

  1. Hoàng Thiết Tâm – Kỳ cựu Cộng Sản đến 1945 bị diệt nốt.

Ba giờ sáng ngày 20/11/1945 lực lượng vệ quốc đoàn, công an xung phong, tự vệ áp sát các lối vào nhà Bảo Hương, Tâm tự dẫn một mũi vượt qua hành lang xông thẳng lên cầu thang gác phía trong nhà để bắt sống bọn phản động. Nhưng bọn phản động chống trả quyết liệt. Một loạt đạn từ trên bắn xuống. Tâm bị trúng đạn, hy sinh tại chỗ

…Người đồng chí, người bạn đời của Hoàng Thiết Tâm là Vũ Thị Giới cùng tham gia hoạt động cách mạng ở Hải Phòng từ 1930. Hai người sinh được hai con trai nhưng đều chết yểu. ” (Văn bản 1)

Hoàng Thiết Tâm bị ai bắn? Hiện ta chỉ biết rằng: “Một loạt đạn từ trên bắn xuống. Tâm bị trúng đạn, hy sinh tại chỗ…” Kẻ bắn, và tổ chức nào ra lệnh thì ta khó biết, nhưng ta chỉ biết rằng: Những Kỳ cựu Cộng sản bị chết vào thời điểm sau khi Hồ đọc tuyên Ngôn Độc Lập 1945 thì khá nhiều – tuy nhiên mỗi người một lý do: Kìa Trần Đình Long – Học sinh Đại Học Phương Đông bị bắt đưa đi mất tích cũng tháng 11/1945, kìa Trương Vân Lĩnh – 1 trong 9 người hạt nhân Cộng Sản đầu tiên bị ốm chết cũng tháng 11/1945, Kìa Lâm Đức Thụ – Thủ lãnh Hội Thanh Niên (1 trong 9 người hạt nhân Cộng Sản đầu tiên) bị dân quân đập chết. Kìa Hồ Tùng Mậu chết bom 1951 (Trước đó ông có cuộc sống bí ẩn như là bị giam – khống chế ở Miền Trung). Kìa Đinh Văn Di – Bí thư xứ ủy Trung Kỳ bị bắn tháng 9/1945…

Chắc chắn rằng Hoàng Thiết Tâm cũng không là ngoại lệ!

Người thân? “Hai người sinh được hai con trai nhưng đều chết yểu. ”, Có thật họ chết yểu? Tại sao nhiều các con của Cộng Sản kỳ cựu hay chết yểu vậy? Người vợ là “Người đồng chí, người bạn đời của Hoàng Thiết Tâm là Vũ Thị Giới cùng tham gia hoạt động cách mạng ở Hải Phòng từ 1930” Có được chết già hay không? Hay cũng chết cùng thời gian đó?

Nếu bà được chết già thì hẳn bà chẳng phải “cùng tham gia hoạt động cách mạng ở Hải Phòng từ 1930” mà cũng chỉ như “Nguyễn Thị Thuận vợ Cộng Sản kỳ cựu Tư Già – Nguyễn Bá Biên” mà thôi, chỉ là một người giả tồn tại để người ta muốn viết gì thì viết, viết sao thì viết mà thôi!

  1. Chuyện cười Đinh Xuân Nhạ trở thành Trần Quý Kiên.

Một Đinh Xuân Nhạ “Cuối năm 1937, ông lại được điều về tham gia Thành ủy Hà Nội, đầu năm 1938 làm bí thư Thành ủy và tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ. ” (Văn bản 2) mà sau đó lại “Đinh Xuân Nhạ (có tài liệu ghi là Văn Nhạ), khi hoạt động cách mạng còn mang tên Trần Quý Kiên”? (Văn bản 2), “Năm 1950, làm Phó Văn phòng phủ Thủ tướng , kiêm Bí thư Đảng ủy Dân chính đảng Trung ương.” (Văn bản 2)? “Từ 1950 đến 1965, ông lần lượt là Phó văn phòng Phủ Thủ tướng, Bí thư Đảng ủy Dân chính Đảng trung ương, Phó Ban Tổ chức trung ương, Thứ trưởng – Bí thư Đảng đoàn Bộ Thủy lợi. Ông được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh. ” (Văn bản 3)?

            Văn bản nào để ông đổi tên? Hay văn bản nào quy định bí danh này cho ông?

Một người “Phó Ban Tổ chức trung ương” mà báo Quân Đội Nhân Dân ngày 13/09/2006 vẫn coi là mất tích ư? (Xem bài 4)

Chuyện hài! Râu ông nọ cắm nhầm người kia mà thôi.

Trần Quý Kiên đã chết (1965) thì muốn bảo là ai ông ta không cãi.

  1. Thành Ủy Hải Phòng cũng mất tích?

“Tháng 4/1937, hội nghị thành lập Tỉnh ủy Hải Phòng gồm Nguyễn Văn Túc (Nguyễn Công Hòa), Đinh văn Nhạ, Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Văn Vượng, Tư Thành, Hoàng Văn Trành, ..” (Văn bản 2) Họ có còn ai không? Hay cũng mất tích như thành ủy Hà Nội? (Xem bài 4), Có thật Nguyễn Văn Cúc  sau này là Nguyễn Văn Linh? Hay lại như chuyện Hài Đinh Xuân Nhạ ở trên?

Chuyện hài Nguyễn Văn Linh sau này là Nguyễn Văn Cúc sơ bộ như sau: quỷ Nguyễn Văn Linh đã về quê Hải Dương (quê Nguyễn Văn Cúc) để nhận họ hàng bằng cách kiểm tra ADN – họ hàng thật thì có cần nói như thế không? hư thực chuyện này ta sẽ nghiên cứu thêm sau.

(Lưu ý: chuyện Hài này được chúng sử dụng khá phổ biến như Hoàng Quốc Việt thì bảo mình là kỳ cựu Hạ Bá Cang, Trường Chinh thì nói mình là Đặng Xuân Khu, Nguyễn Văn Linh thì bảo là kỳ cựu Nguyễn Văn Cúc… đến Hồ Chí Minh thì nói mình là Nguyễn Ái Quốc chúng ta sẽ dần dần sẽ làm rõ.)

Thế mới thật là: Lẳng lặng mà nghe chúng… Diệt Cộng.

                        Diệt trước (1945) chưa đủ, sau diệt nốt.

                        Diệt rồi, tiếp tục chúng Diệt thân.

                        Diệt xong, râu nọ cắm ông kia.

                        Quốc Việt nhận xằng chuyện đã rõ. (1)

                        Quý Kiên nó gán, ấy chuyện cười.

                        Thành ủy Hải Phong như Hà Nội

                        Cũng đều mất tích cả đó thôi.

(1) Chuyện Hoàng Quốc Việt nhận xằng bí thư xứ ủy Bắc kỳ Hạ Bá Cang (xem bài 3).

            Thành ủy Hà Nội và Hải Phòng hai nơi có phong trào Cộng Sản khá mạnh thì như vậy, còn những người Cộng sản ở Cao Bằng – nơi miền núi có phong trào Cộng sản khá mạnh thì họ ra sao? Xem bài 6 sẽ rõ.

  1. Tài liệu nghiên cứu.

(Văn bản 1)

Hoàng Thiết Tâm (1908 – 1945 )

http://thuvien.haiphongcity.vn/vn/index.asp?menuid=660&parent_menuid=658&fuseaction=6&articleid=5325

Hoàng Thiết Tâm tên thật là Hoàng văn Trành (Tâm Trành), sinh năm 1908 tại làng An Tràng, huyện An Lão, tỉnh Kiến An. (Nay là xã Trường Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

…Tháng 4/1929, chi bộ cộng sản đầu tiên của Hải Phòng thành lập.  Tâm được chuyển Đảng cộng sản đợt đầu.

Năm 1936, Mặt trận nhân dân Pháp giành thắng lợi. Hoàng Thiết Tâm và nhiều tù chính trị được ân xá. Rời Côn Đảo về tới Hải Phòng – Kiến An, Tâm trực tiếp hoạt động cách mạng. Tháng 4/1937, cuộc họp thành lập Thành uỷ Hải Phòng tổ chức tại nhà Dư, ngõ Đá, phố Cát Dài, sau rạp Đại chúng. Tham gia Thành uỷ có Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Văn Cúc, Đinh Văn Nhạ, Hoàng Văn Trành…Bí thư Thành uỷ là Nguyễn Văn Túc.

Trong những năm 1938-1939, Tâm là một trong những người lãnh đạo phong trào công nhân và nhân dân lao động Hải Phòng đòi quyền tự do dân chủ, tự do lập nghiệp đoàn, tự do tuyển cử, thi hành đầy đủ các luật lệ xã hội, đòi chống chủ nghĩa phát xít Nhật, đòi phòng thủ Đông Dương, đòi giảm thuế…

Năm 1940, Tâm lại bị mật thám bắt. Lần này anh bị an trí và  lao động khổ sai ở Bắc Mê-Hà Giang. Năm 1943 chúng chuyển Tâm sang trại giam Bá Vân ở Thái Nguyên. Cuộc sống lao tù không làm nhụt chí cách mạng của Tâm, trái lại càng làm cho anh dày dạn, vững vàng và tin tưởng vào tương lai tất thắng của cách mạng.

Đầu năm 1945, Tâm cùng một số đồng chí vượt ngục trở về hoạt động. Tình hình Hải Phòng – Kiến An trước cách mạng tháng 8/1945 sôi sục khí thế cách mạng. Tâm đã góp sức đáng kể vào cuộc chống Nhật khủng bố thôn Kim Sơn, xã Tân Trào. Tâm cũng tích cực tham gia lãnh đạo chuẩn bị khởi nghĩa ở huyện Kiến Thuỵ và tỉnh Kiến An.

Sau khi khởi nghĩa chiếm tỉnh lỵ Kiến An thắng lợi và chính quyền tỉnh Kiến An đã về tay nhân dân (22/8/1945) Hoàng Thiết Tâm được phân công phụ trách quân sự – Do sự tích cực của Tâm, các lực lượng vũ trang cách mạng Kiến An nhanh chóng hình thành và phát triển .

Vào khoảng tháng 11/1945, bọn Việt Quốc dựa vào thế lực quân Tưởng định cướp chính quyền ở Kiến An. Ty Liêm phóng Kiến An – Hải Phòng đã phối hợp vạch kế hoạch phá âm mưu này. Ở thị xã Kiến An, bọn Việt Quốc tập trung ở nhà Bảo Hương. Hoàng Thiết Tâm, theo kế hoạch, tổ chức tấn công sào huyệt của chúng. Ba giờ sáng ngày 20/11/1945 lực lượng vệ quốc đoàn, công an xung phong, tự vệ áp sát các lối vào nhà Bảo Hương, Tâm tự dẫn một mũi vượt qua hành lang xông thẳng lên cầu thang gác phía trong nhà để bắt sống bọn phản động. Nhưng bọn phản động chống trả quyết liệt. Một loạt đạn từ trên bắn xuống. Tâm bị trúng đạn, hy sinh tại chỗ. Quyết tâm trả thù cho người chỉ huy của mình, và có sự hỗ trợ của cảnh sát xung phong Hải Phòng các chiến sĩ ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ bọn phản cách mạng trong nhà Bảo Hương.

Người đồng chí, người bạn đời của Hoàng Thiết Tâm là Vũ Thị Giới cùng tham gia hoạt động cách mạng ở Hải Phòng từ 1930. Hai người sinh được hai con trai nhưng đều chết yểu. Hoàng Thiết Tâm đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho nhân dân, cho tổ quốc khi anh mới 37 tuổi đời.

– Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng, Nxb. Hải Phòng, 1991

– Nghiên cứu lịch sử Hải Phòng.- 1985, Số 4.- Tr. 37-38

– Lịch sử Đảng bộ huyện An Hải.- 1990.- Tr. 35

Bài cùng nội dung:

Cựu tù Hoàng Thiết Tâm

Thứ Hai, ngày 07 tháng 5 năm 2012

http://tucondao3045.blogspot.com/2012/05/cuu-tu-hoang-thiet-tam.html

Hoàng Thiết Tâm (1908 – 1945) …

(Văn bản 2)

Đinh Xuân Nhạ (có tài liệu ghi là Văn Nhạ)

03/11/2011

http://www.thuvienhaiphong.org.vn/Portal/Detail.aspx?Organization=tvkhthhp&MenuID=7136&ContentID=20392

Đinh Xuân Nhạ (có tài liệu ghi là Văn Nhạ), khi hoạt động cách mạng còn mang tên Trần Quý Kiên, sinh năm 1911 tại Hà Nội. Quê gốc ở thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên nay thuộc tỉnh Hà Tây. Gia đình làm thợ và buôn bán nhỏ. Sau khi đậu tiểu học Pháp-Việt, Đinh Xuân Nhạ đi làm thợ điện, thợ máy ở Hà Nội. Năm 1929, tham gia hoạt động trong hội ViệtNam thanh niên đồng chí. Tháng 5/1930 được kết nạp vào đảng Cộng sản Đông Dương do đảng viên Lã Phạm Thái giới thiệu. Tháng 10/1930, bị địch bắt quả tang đang diễn thuyết trước cửa trường Bách Nghệ Hà Nội. Tòa án Hà Nội kết án 5 năm tù giam tại nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Cuối năm 1935 hết hạn tù, liên lạc ngay với các ông Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, do đó được giao công tác ngay giữa năm 1936, Trung ương đảng và Xứ ủy chỉ thị phải khẩn trương thành lập Ban Tỉnh ủy Hải Phòng để thay Ban Tỉnh ủy cũ đã bị bắt, bị tù hết, lại tăng cường cho đồng chí Đinh Văn Nhạ (tức Trần Quý Kiên). Tháng 4/1937, hội nghị thành lập Tỉnh ủy Hải Phòng gồm Nguyễn Văn Túc (Nguyễn Công Hòa), Đinh văn Nhạ, Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Văn Vượng, Tư Thành, Hoàng Văn Trành, … do Nguyễn Văn Túc làm bí thư. Ban Tỉnh ủy mới vừa phát triển, củng cố tổ chức vừa phát động công nhân, lao động đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ làm đà cho cao trào Mặt trận Dân chủ (1936-1939). Cuối năm 1937, ông lại được điều về tham gia Thành ủy Hà Nội, đầu năm 1938 làm bí thư Thành ủy và tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, ông bị đế quốc Pháp lùng bắt ráo riết nên tháng 5 năm 1940, bị bắt ở Bắc Giang và bị tù ở Bắc Giang, Sơn La, Nghĩa Lộ. Đến cuối năm 1943 mới trốn thoát ra hoạt động. Trong thời gian ở tù, ông vẫn tham gia chi bộ nhà tù. Trong cao trào kháng Nhật cứu quốc, ông được chỉ định làm Bí thư chiến khu Quang Trung gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa. Sau cách mạng tháng 8/1945, ông lên Sơn La, Lai Châu xây dựng cơ sở cách mạng lúc đó chưa phát triển, lại gặp nhiều khó khăn. Năm 1948, chuyển về làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Yên. Cuối năm 1948, chuyển về Khu 3 tham gia Khu ủy được phân công phụ trách hai tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, sau đó phụ trách tỉnh Kiến An và tỉnh Thái Bình, rồi làm Khu ủy viên Liên khu 3. Năm 1950, làm Phó Văn phòng phủ Thủ tướng , kiêm Bí thư Đảng ủy Dân chính đảng Trung ương. Từ tháng 10/1958, chuyển về Bộ Thủy lợi làm Thứ trưởng kiêm Bí thư Đảng đoàn bộ.

                Ông qua đời tại Hà Nội ngày 9/8/1965.

                Do công lao, cống hiến cả đời cho dân, cho Đảng, ông đã được tặng nhiều huân, huy chương:

– Huân chương Hồ Chí Minh

– Huân chương Độc lập hạng Ba

– Huân chương Kháng chiến hạng Nhất

– Huân chương Lao động hạng Nhất…

Ngô Đăng Lợi

                Tài liệu tham khảo:

– Lý lịch cán bộ do gia đình cung cấp

– Giấy chứng nhận của Ban tổ chức TW đảng số 283TC/TW ngày 25/4/1997.

– Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng.

(Văn bản 3)

Trần Quý Kiên

http://www.duongpho.vn/vietnam-roads/vietnam-streets/modules.php?name=News&op=viewst&sid=750

Trần Quý Kiên (1911 -1965): tên thật là Đinh Văn Nhạ, sinh tại Hà Nội, Nguyên quán làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Đông (nay là Hà Nội).

Ông tham gia cách mạng từ 1929, vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5-1930. Ông bị bắt khi đang treo cờ đỏ và diễn thuyết trước cửa trường Bách Nghệ Hà Nội và bị giam ở Hỏa Lò 10-1930. Cuối năm 1935, được ân xá, ông được cử vào Thành ủy Hải Phòng, Hà Nội. Đầu năm 1938, ông làm Bí thư Thành ủy Hà Nội và tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ.
1940, ông bị bắt và đưa đi đày Sơn La. Sau Nhật đảo chính Pháp, ông vượt ngục Nghĩa Lộ về làm Bí thư khu Quang Trung (Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá, Sơn La, Lai Châu). Cách mạng tháng Tám thành công, ông giữ nhiều chức vụ: Khu Ủy viên Liên khu III, Khu Ủy viên Khu Việt Bắc, cuối năm 1949  phụ trách Ban căn cứ địa trung ương.
Từ 1950 đến 1965, ông lần lượt là Phó văn phòng Phủ Thủ tướng, Bí thư Đảng ủy Dân chính Đảng trung ương, Phó Ban Tổ chức trung ương, Thứ trưởng – Bí thư Đảng đoàn Bộ Thủy lợi. Ông được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh.

Hà Phương (Theo Từ điển đường phố Hà Nội)

Xu Uy HTT bi diet ca nha

Đã xem 8 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments