Bài 1. Hoàng Văn Thụ – bị kỷ luật, cách chức Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ, rồi chết.

Chương 2. Bí thư xứ ủy và xứ ủy viên thời 1940 – 1941 thì bị coi là vô nguyên tắc và phản động rồi… chết hết – Hai quần chúng lên làm lãnh tụ.

Bài 1. Hoàng Văn Thụ – bị kỷ luật, cách chức Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ, rồi chết.

I. Bằng Chứng.

  1. Hoàng Lương Hữu

Cuốn Lịch sử cách mạng huyện Hoài Đức 1930-1945 (Nhà xuất bản Hà Nội-1982) trang 42 viết: “Mùa Xuân năm 1939, tại làng Vạn Phúc, Xứ ủy Bắc Kỳ triệu tập hội nghị các bí thư chi bộ để thành lập Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Hà Đông. Hội nghị họp dưới sự chủ tọa của đồng chí Hoàng Lương Hữu, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ”. Mấy tháng sau, anh Nọn bị thực dân Pháp quây bắt” (Văn bản 1.)

  1. Lương Khánh Thiện. ( 1903 – 1941)

“Cuối năm 1940. Lương Khánh Thiện là Bí thư Liên tỉnh B (thường gọi là khu B) gồm: Hải Phòng, Hồng Quảng, Hải Dương, Kiến An, Hưng Yên và trực tiếp làm Bí thư thành uỷ Hải Phòng.” (Văn bản 2.)

  1. Hoàng Văn Thụ tiếp nhận Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ từ Hoàng Tú Hữu? Giữa năm 1938, ông được Lê Hồng Phong giao nhiệm vụ về gặp Xứ uỷ Bắc Kỳ tại Hà Nội để truyền đạt chủ

trương thành lập Mặt trận Dân chủ chống phát xít ở Đông Dương. Sau đó Hoàng Văn Thụ được bầu vào Ban thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, cùng với Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt, Bí thư Liên xứ uỷ Bắc Trung kỳ giai đoạn này là Hoàng Văn Nọn tức Hoàng Tú Hữu[3]. Sau đó ông lại được cử ra Hòn Gai, Uông Bí để củng cố cơ sở Đảng.

Đầu năm 1939, ông dự hội nghị Xứ uỷ mở rộng do Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ triệu tập ở Vạn Phúc (Hà Đông) và được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ.” (Văn bản 3.)

  1. Hoàng Văn Thụ tiếp nhận Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ từ Lương Khánh Thiện?

“HOÀNG VĂN THỤ: ..Khi Xứ uỷ Bắc Kỳ lập lại, được bổ sung vào Xứ uỷ rồi vào Thường vụ, khi Lương Khánh Thiện bị bắt, được cử làm Bí thư Xứ uỷ (khoảng năm 1939).

Năm 1940, được cử vào Trung ương… ” (Văn bản 4.)

  1. Đến trước hội nghị TW 8 – 1941 ở Cao Bằng Hoàng Văn Thụ vẫn là Bí Thư Xứ Ủy.

Cho đến khoảng tháng 4-1940, mới có liên lạc bí mật của ông Hoàng Văn Thụ – Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ đến báo lên gặp ở Chèm, ngoại thành Hà Nội.

Sau khi truyền đạt nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương họp đầu tháng 11 vừa qua mà tinh thần chủ yếu là …Cuối cùng, ông Hoàng Văn Thụ cho biết, theo quyết định của Đảng, hai ông Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp sang Hoa Nam gặp Nguyễn ái Quốc để nhận nhiệm vụ.(Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (Nxb Chính trị Quốc gia – 2006), Chương I, trang 1/31)

  1. Trần Đăng Ninh (1910-1955)

Trần Đăng Ninh (1910-1955)…Tháng 5 năm 1941, ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Đến tháng 7/1941, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. ” (Văn bản 5.)

II. Nhận xét.

  1. Ở văn bản 3 thì nói Hoàng Văn Thụ “được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ” tiếp nhận từ “Hoàng Văn Nọn tức Hoàng Tú Hữu”

Nhưng ở văn bản 4 lại nói: “khi Lương Khánh Thiện bị bắt, được cử làm Bí thư Xứ uỷ (khoảng năm 1939).”

Vậy trước ông Hoàng Văn Thụ ai là Bí Thư Xứ ủy Bắc Kỳ?

  1. Hoàng Văn Thụ vẫn làm Bí Thư Xứ ủy Bắc Kỳ ít nhất là cho đến khi “nhờ 2 quần Chúng là Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp đi đón lãnh tụ Đảng” vào “tháng 4-1940”

Vậy nếu không phải Trần Đăng Ninh – kỷ luật Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ – Hoàng Văn Thụ? Thì là ai?

Thế mới thật là:   Quần chúng thì nói trung kiên (1)

                        Bí thư xứ ủy – thành tên phản bồi! (Phản bội)

(1) – Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng!

III. Tài liệu nghiên cứu.

            (Văn bản 1.)

http://antg.cand.com.vn/vi-VN/tulieu/2010/4/71007.cand

Những người sống mãi với đất nước

Kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2010):

 7:30, 22/01/2010

Họp xong đại hội, chị Minh Khai và anh Hoàng Văn Nọn được giữ lại theo học Trường đại học Phương Đông (viết tắt chữ Nga là KYTB) cho đến đầu năm 1937 mới lần lượt lên đường về nước. Anh Nọn được cử về hoạt động ngay giữa thành phố Hà Nội, và được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, trực tiếp nhận trách nhiệm lãnh đạo các hội đoàn hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp.

Anh tiếp tục mang tên Hoàng Lương Hữu, đóng vai một nghệ sĩ nhiếp ảnh, và trực tiếp ở trong Ban lãnh đạo Hội Ái hữu Nhiếp ảnh, trong phong trào Đông Dương đại hội.

Tập Hồi ký cách mạng Hà Sơn Bình (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Hà Sơn Bình xuất bản năm 1981) trang 22, ghi hồi ký của Dương Nhật Đại, viết: “Đến khoảng cuối năm 1937, chúng tôi liên lạc được với anh Hoàng Lương Hữu, lúc ấy anh Hữu làm Bí thư Xứ ủy. Từ đó, chúng tôi lại hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của anh Hữu. Anh, người Cao Bằng, tiếng nói hơi khó nghe, song rất vui tính…Từ ngày gặp anh, biết anh là Đảng viên, đã nhiều lần tôi định bày tỏ nguyện vọng muốn xin vào Đảng với anh. Song cứ đắn đo suy nghĩ mà chưa dám thổ lộ tâm tình… Nhân ngày Quốc tế Lao động 1/5/1938, Đảng ta tổ chức một cuộc mít tinh rất lớn ở Đấu Xảo, Hà Nội. Chúng tôi vận động quần chúng Hà Đông ra tham dự rất đông. Gặp anh Hữu ở cuộc mít tinh này, anh dặn tôi: “Lát nữa xong, lại hiệu ảnh Dân Chúng, mình có câu chuyện muốn nói với cậu”.…”.

Sách Lịch sử Đảng bộ Hà Tây (Tỉnh ủy Hà Tây xuất bản năm 1992) trang 90, viết: “Đồng chí Hoàng Lương Hữu, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, là người trực tiếp bồi dưỡng lựa chọn quần chúng tích cực để xây dựng Chi bộ Đảng…”; trang 92 viết tiếp: “Cuối năm 1938, đồng chí Hoàng Lương Hữu, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, đã về trực tiếp chủ trì hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Hà Đông, họp tại làng Vạn Phúc. Thay mặt Xứ ủy, đồng chí chỉ định Ban Tỉnh ủy lâm thời gồm có 5 ủy viên”; trang 107, viết tiếp: “Trong Hội nghị Tỉnh ủy tháng 5/1939, tại làng Vạn Phúc, đồng chí Hoàng Lương Hữu thay mặt Xứ ủy Bắc Kỳ về dự, đã tuyên bố chuyển Ban Tỉnh ủy lâm thời thành Ban Tỉnh ủy chính thức…”.

Cuốn Lịch sử cách mạng huyện Hoài Đức 1930-1945 (Nhà xuất bản Hà Nội-1982) trang 42 viết: “Mùa Xuân năm 1939, tại làng Vạn Phúc, Xứ ủy Bắc Kỳ triệu tập hội nghị các bí thư chi bộ để thành lập Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Hà Đông. Hội nghị họp dưới sự chủ tọa của đồng chí Hoàng Lương Hữu, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ”. Mấy tháng sau, anh Nọn bị thực dân Pháp quây bắt, nhưng vì không có chứng cứ gì xác thực, chúng đày anh đi “an trí” trên trại Bá Vân (Thái Nguyên).

Sau những năm 1940-1941, thấy phong trào đấu tranh vũ trang cách mạng ở Thái Nguyên – Bắc Kạn ngày càng lan rộng, thực dân Pháp bèn đưa anh Nọn về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội, định chờ tàu chở vào miền Trung giam trên các miền núi cao. Nhưng chúng chưa kịp làm việc đó, đầu năm 1945, anh Nọn đã cùng nhiều đồng chí khác (trong đó có các đồng chí Đỗ Mười, Trần Đăng Ninh, Lê Trung Hà…) tổ chức vượt ngục ra bên ngoài, lúc đầu về cơ sở Chương Mỹ ở Hà Đông, sau về nhiều tỉnh khác tiếp tục hoạt động cách mạng và lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền.

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám, ông Hoàng Văn Nọn, tức Hoàng Lương Hữu chuyển sang bí danh mới là Hoàng Vĩnh Tuy, được giao công tác làm Thanh tra ở Bộ Nội vụ, chuyên lo công tác củng cố, tăng cường chính quyền nhân dân ở cấp tỉnh, thành. Cuối năm 1945, ông được Đảng đưa ra ứng cử làm Đại biểu Quốc hội tỉnh. Và đây là nội dung một bài đăng trên báo Việt Nam độc lập số 235 ra ngày 15 tháng 12 năm 1945. “Về tiểu sử ông Hoàng Văn Nọn: 44 tuổi, nông dân, tham gia phong trào cách mệnh từ năm 1930. Lãnh đạo dân chúng chống phu thuế. Năm 1934-1935, bị truy tố, hoạt động trong vòng bí mật. Năm 1936, tham gia Mặt trận Bình dân. Đã 3 lần bị đế quốc Pháp kết án làm cách mạng”.

Ông tham dự phiên họp đầu tiên của Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phiên họp diễn ra trong không khí nước sôi lửa bỏng, chỉ vỏn vẹn có một buổi sáng ngày  2/3/1945, mà làm được bao nhiêu việc tày đình: … Sau đó, ông Hoàng Văn Nọn mang tên mới là Hoàng Vĩnh Tuy miệt mài hết năm này sang tháng khác, đi các tỉnh và các huyện lo việc củng cố các cơ quan chính quyền của nhân dân ta mới xây dựng. …

Đến năm 1950, khi chiến dịch giải phóng biên giới thắng lợi, ông được Trung ương điều động về tham gia củng cố cấp ủy và cơ sở cách mạng tỉnh Cao Bằng quê cũ. …

Sau nhiều năm rất vất vả trong cương vị Ủy viên thường vụ, đến lúc tuổi đã cao, sức khỏe sút kém, ông xin rút về làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh cho đến khi lâm bệnh nặng, ông phải nằm dưỡng bệnh một chỗ. Mặc dầu được Trung ương, Tỉnh ủy và bà con anh em thân thiết ra sức chăm nom, cứu chữa, nhưng vì căn bệnh hiểm nghèo, ông từ trần trong niềm thương tiếc vô hạn của bà con và Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, hoàn thành cuộc đời một chiến sĩ cộng sản vẹn toàn cống hiến sức lực tài trí cho dân, cho Đảng.

Trích từ cuốn “Những câu chuyện tình báo, phản gián” – NXB CAND – Đầu bài do ANTG đặt.

 Mai Thanh Hải

“Văn bản 2.”

Lương Khánh Thiện

http://thuvien.haiphongcity.vn/vn/index.asp?menuid=660&parent_menuid=658&fuseaction=3&articleid=5309

( 1903 – 1941)

Lương Khánh Thiện sinh năm 1903 trong một gia đình nông dân ở thôn Mễ Tràng, xã Liêm Chính, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

…Năm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân Pháp thắng lợi, Thiện  được ân xá từ Côn Đảo trở về tiếp tục hoạt động cách mạng. Tại Hà Nội, vợ chồng anh được xum họp cùng nhau một thời gian. Bích Hợp sinh được một con trai, , nhưng được mấy tháng cô lâm bệnh nặng và qua đời.

Cuối năm 1940. Lương Khánh Thiện là Bí thư Liên tỉnh B (thường gọi là khu B) gồm: Hải Phòng, Hồng Quảng, Hải Dương, Kiến An, Hưng Yên và trực tiếp làm Bí thư thành uỷ Hải Phòng.

Về nhận nhiệm vụ mới, Thiện đã tích cực thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng lần thứ 6, Nghị quyết của Xứ uỷ Bắc Kỳ: xây dựng cơ sở cách mạng ở nông thôn, thành thị, vùng mỏ. Công việc đang xúc tiến thì Thiện bị địch bắt tại một cơ sở ở Thượng Lý, ngày 18/1/1941.

Địch ra sức mua chuộc, dùng kế dụ dỗ rồi dùng cực hình tra tấn nhưng không đem lại kết quả gì. Thiện còn chỉ thẳng vào mặt kẻ thù mắng: ‘Chúng mày muốn làm gì thì làm đừng hòng cậy răng tao lấy nửa lời’.

Không khuất phục nổi người chiến sĩ cộng sản kiên cường, toà án Đế quốc Pháp đã kết án tử hình Lương Khánh Thiện.

Ngày 1/9/1941, tại chân núi áng Sơn, quân Kiến An ngày nay, khi địch nổ súng bắn, Lương Khánh Thiện đã hô lớn:

– Đảng cộng sản Đông Dương muôn năm !

– Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm !

(Văn bản 3.)

Tiểu sử đồng chí Hoàng Văn Thụ

Thứ Sáu, 21/05/2010,

http://www.baclieu.gov.vn/chuyende/lists/posts/post.aspx?Source=/chuyende&Category=Chuy%C3%AAn+%C4%91%E1%BB%81+v%E1%BB%81+t%C6%B0+li%E1%BB%87u&ItemID=66&Mode=1

Tiểu sử

Hoàng Văn Thụ là người dân tộc Tày, sinh năm 1906 tại xóm Lạc Phạn, xã Nhân Lý (nay là xã Hoàng Văn Thụ), châu Điềm He, huyện Văn Uyên (nay là huyện Văn Lãng) tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam.

Thoát ly theo cách mạng

Theo tài liệu của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hoàng Văn Thụ đã được học cả chữ Hán và chữ quốc ngữ từ nhỏ. Năm 14 tuổi (1920), sau học đậu sơ học yếu lược[2] ông ra thị xã Lạng Sơn học tiếp.

Tại đây, Hoàng Văn Thụ đã gặp và kết bạn với Hoàng Đình Dong (Roong, Gioong) và Lương Văn Chi, những người trở thành bạn hoạt động cách mạng của ông sau này.

Năm 1926, sau lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh, ông đã cùng Lương Văn Chi thành lập nhóm thanh niên yêu nước ở Lạng Sơn. Cuối năm 1927, ông cùng Lương Văn Chi sang Bản Đáy (Quảng Tây, Trung Quốc) là nơi Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đang tổ chức các lớp huấn luyện chính trị. Nhưng khi ông vừa tới nơi thì bị đặc vụ vây bắt. Ông chạy thoát về Long châu, trải qua nhiều khó khăn gian khổ để kiếm sống và hoạt động, có lần phải đóng làm người “bán thuốc cao” và thậm chí phải đi xin ăn, nhưng ông vẫn không nản chí.

Gây dựng cơ sở trong nước từ nước ngoài

Năm 1930, ông được người quen giới thiệu vào học thợ và làm việc tại xưởng cơ khí Nam Hưng, một xí nghiệp do một số nhà cách mạng Việt Nam lập ra, làm cơ sở liên lạc, nơi hội họp đồng thời là cơ sở hoạt động kinh tế để lấy kinh phí hoạt động. Tại đây Chi bộ Đông Dương cộng sản đảng gồm ba người: Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Roong và Hoàng Vĩnh Tuy đã được thành lập, Hoàng Đình Roong làm bí thư chi bộ. Từ chi bộ ba người đã trở thành Ban liên tỉnh uỷ Cao – Lạng (Cao Bằng – Lạng Sơn). Hoàng Văn Thụ được phân công phụ trách Lạng Sơn. Ông rời xưởng Nam Hưng về Long Châu, gây dựng cơ sở ở Lũng Nghìu làm nơi liên lạc với những người cách mạng ở Việt Nam.

Năm 1930, ông gây dựng được 3 tổ quần chúng tại các xóm Ma Mèo, Tà Lài (huyện Văn Uyên), tới năm 1931 mở rộng ra các địa phương Khơ Đa, Na Sầm, Đồng Đăng, Kỳ Lừa, Thất Khê và tới năm 1932 mở rộng tới xã Nhân Lý quê ông. Khi vận động được người nào, ông thường tập hợp tại hang Áng Cúm (gần Lũng Nghìu) để huấn luyện rồi giao nhiệm vụ trở về phát triển tổ chức trong nước.

Nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, năm 1932, Lê Hồng Phong về nước hoạt động. Về tới Long châu, Lê Hồng Phong bắt liên lạc với Ban liên lạc tỉnh uỷ Cao – Lạng và đã gặp ông. Ông được Lê Hồng Phong giúp đỡ học tập chủ nghĩa Marx – Lenin và làm trợ bút cho tờ báo Châu Giang để học thêm tiếng Hán. Nhờ vốn tiếng Hán, ông đã tiếp cận với nhiều trước tác của Mao Trạch Đông. Từ khi Ban chỉ huy hải ngoại thành lập, ông trở thành người giúp việc tích cực của ban này và chắp nối với các cơ sở trong nước.

Cuối năm 1934, Hoàng Văn Thụ cùng các đảng viên trong Ban liên tỉnh uỷ lâm thời họp và được đề cử đại biểu đi dự đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Đông Dương. Năm 1935, sau khi dự đại hội, ông được cử về nước hoạt động.

Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ

Hoàng Văn Thụ trở về Việt Bắc làm chủ bút báo “Tranh đấu” ở miền thượng du. Sau đó ông gây dựng cơ sở đảng ở Vũ Nhai, Bắc Sơn. Chi bộ ghép được thành lập, trong đó có Chu Văn Tấn và Nông Văn Cún là những người chỉ huy khởi nghĩa Bắc Sơn sau này.

Thời kỳ 1936-1939, thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, còn gọi là thời kỳ Bình dân, sau một thời gian sang Trung Quốc để in văn kiện đại hội Đảng gửi về nước, tháng 2 năm 1937, ông về Cao Bằng lãnh đạo phong trào bình dân và viết báo Lao động. Sau đó, vì bị người Pháp theo dõi gắt gao, ông trốn sang Hương Cảng.

Giữa năm 1938, ông được Lê Hồng Phong giao nhiệm vụ về gặp Xứ uỷ Bắc Kỳ tại Hà Nội để truyền đạt chủ

trương thành lập Mặt trận Dân chủ chống phát xít ở Đông Dương. Sau đó Hoàng Văn Thụ được bầu vào Ban thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, cùng với Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt, Bí thư Liên xứ uỷ Bắc Trung kỳ giai đoạn này là Hoàng Văn Nọn tức Hoàng Tú Hữu[3]. Sau đó ông lại được cử ra Hòn Gai, Uông Bí để củng cố cơ sở Đảng.

Đầu năm 1939, ông dự hội nghị Xứ uỷ mở rộng do Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ triệu tập ở Vạn Phúc (Hà Đông) và được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ. Thời gian hoạt động ở Hà Đông, cơ quan Xứ uỷ bị người Pháp theo dõi, khủng bố ráo riết. Để tránh bị lộ, ông thường xuyên phải cải trang và di chuyển, đi ở nhờ trong nhiều nhà dân và vận động được nhiều người tham gia, ủng hộ cách mạng. Nhiều người biết đến ông với những cái tên như “đồng chí Bảy”, “anh Lý”.

Ngoài công việc Xứ uỷ, ông còn được giao trực tiếp phụ trách Thành uỷ Hà Nội. Do bị nội phản, Thành uỷ luôn bị phá. Từ năm 1939 đến 1943, ông đã 10 lần khôi phục lại Thành uỷ Hà Nội.

Tháng 11 năm 1940, tại Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương lần thứ 7 diễn ra tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, ông cùng Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt được bầu là Uỷ viên thường vụ Trung ương Đảng, Trường Chinh làm quyền Tổng Bí thư.

(Văn bản 4.)

“Bao Dien tu Dang Cong san Viet Nam”

Tập 2

Ngày 18/11/2009.

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT19110936428

Chú thích và bản chỉ dẫn tên người

Ngày 18/11/2009. Cập nhật lúc 10h 6′

BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT19110936106

HOÀNG VĂN THỤ (1906-1944): người dân tộc Tày, quê ở huyện Văn Uyên (nay là huyện Văn Lãng), tỉnh Lạng Sơn. Tham gia cách mạng từ năm 1926. Bỏ học, sang Trung Quốc, gia nhập đội quân Bắc phạt, được phong trung uý.

Năm 1932, làm ở Sở tu giới (sửa chữa vũ khí) Long Châu. Tại đây, bắt liên lạc được với Lê Hồng Phong rồi trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1933.

Năm 1935, về nước, hoạt động tại Việt Bắc, làm Chủ bút báo Tranh đấu, cơ quan ngôn luận của Mặt trận phản đế Việt Bắc, viết báo Lao động, lãnh đạo phong trào Mặt trận dân chủ ở Bắc Kỳ.

Khi Xứ uỷ Bắc Kỳ lập lại, được bổ sung vào Xứ uỷ rồi vào Thường vụ, khi Lương Khánh Thiện bị bắt, được cử làm Bí thư Xứ uỷ (khoảng năm 1939).

Năm 1940, được cử vào Trung ương và tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 4-1940) được cử vào Ban Thường vụ Trung ương. Đầu năm 1941, được Trung ương cử ra chắp nối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ phận hải ngoại của Đảng. Tháng 1-1941, gặp Nguyễn Ái Quốc tại Tân Khư (Quảng Tây, Trung Quốc).

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, phụ trách công tác binh vận, là một trong những người sáng lập ra báo Cờ giải phóng.

Tháng 8-1943, bị thực dân Pháp bắt, và bị xử bắn ngày 24-5-1944, tại Bạch Mai.

“Văn bản 5.”

Trần Đăng Ninh (1910-1955)

http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_%C4%90%C4%83ng_Ninh

Trần Đăng Ninh (1910-1955), tên thật là Nguyễn Tuấn Đáng, quê tại thôn Quảng nguyên, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là thành phố Hà Nội). Ông là nhà hoạt động cách mạng và quân sự, Chủ nhiệm đầu tiên của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Chủ nhiệm đầu tiên của Tổng cục Cung cấp (sau là Tổng cục Hậu cần, Quân đội Nhân dân Việt Nam) giai đoạn 1950-1955.

…Tháng 5 năm 1941, ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Đến tháng 7/1941, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Cuối năm đó, ông bị mật thám bắt và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Năm 1942, bị giam tại nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, ông vẫn hoạt động chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc nên cuối năm bị chuyển lên nhà tù Sơn La. Tại đay, ông đã hoạt động trong tổ chức bí mật của Đảng trong nhà lao, tham gia tổ chức huấn luyện chính trị và quân sự cho anh em tù chính trị.

Tháng 3 năm 1943, ông vượt ngục lần thứ nhất trốn khỏi nhà tù Sơn La cùng các ông Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu trở về xuôi và hoạt động trong Ban thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ. Nhưng đến tháng 9 năm 1943 thì bị bắt lại và bị giam tại nhà tù Hỏa Lò Hà Nội.

Từ năm 1945 đến khi mất

Tháng 3 năm 1945, ông vượt ngục lần hai. Đây là cuộc vượt ngục có quy mô lớn gồm khoảng 100 tù chính trị, trong đó có các ông Đỗ Mười, Trần Tử Bình. Sau đó, ông được cử làm ủy viên Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, phụ trách chiến khu Hoàng Hoa Thám. Tháng 8 năm 1945, ông được cử vào Tổng bộ Việt Minh, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa Toàn quốc và Đại hội Quốc dân Tân Trào…

http://4vn.eu/forum/archive/index.php/t-3274.html

…Qua những tháng năm vô cùng gia khó đến 1943 những tia Hưng Yên vọng cũng đã hiện dần. Phong trào cách mạng đã dần dần hồi phục. Trong nước và trên thế giới, tình hình có những dấu hiệu sáng sủa dần. Liên Xô cũng đã đánh bại đội quân phát xít khổng lồ gồm 33 vạn tại Stalingard. Quân Đức sau Stalingrad đã đi vào giai đoạn thất bại. Giữa lúc đó, thực dân Pháp bắt được Hoàng Văn Thụ tại nhà Tám Mái, Hà Nội (6-1943).

Nguyên do là trong thời kỳ Bình dân Hoàng Văn Thụ có tuyên truyền hoạt động cách mạng một quần chúng làm nghề cúp tóc. Sau 9-1939 quần chúng này bị Pháp bắt, trong tù do không chịu được cực hình tra tấn của thực dân đã khai ra rằng hắn có quen biết Hoàng Văn Thụ. Mật thám Pháp thả tự do cho tên này với mục đích làm mồi nhử. Sau đó Hoàng Văn Thụ có liên lạc với tên thợ cạo và bị y chỉ điểm. Thực dân đã tổ chức bắt Hoàng Văn Thụ tại nhà Tám Mái, khi ông tới nơi họp. Bắt được Hoàng Văn Thụ, thực dân Pháp rất vui mừng vì đây là một trong ba Thường vụ Trung ương.
Trong nhà Hoả Lò, Hoàng Văn Thụ vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản, không khai báo, không đầu hàng. Biết là không thể khuất phục được thực dân Pháp đem ông ra xử tử hình. Hoàng Văn Thụ bị bắn vào rạng sáng ngày 24-5-1944 tại trường bắn Bạch Mai, làng Hoàng Mai (tức Mơ). Cuộc đời anh hùng của Hoàng Văn Thụ trong ngục tù đế quốc được đồng chí Trần Đăng Ninh ghi đầy đủ trong thiên hồi ký nổi tiếng Những ngày cuối cùng của anh Hoàng Văn Thụ.

…Về đời tư của Hoàng Văn Thụ, có tài liệu nói rằng giữa Hoàng Ngân và Hoàng Văn Thụ, ngoài tình đồng chí còn có tình yêu. Hoàng Ngân là một nữ chiến sĩ kiên cường, là một lãnh tụ của phong trào phụ nữ. Chị mất khi còn rất trẻ, lúc 28 tuổi, vì bạo bệnh. ấy là năm 1948. Thực hư chuyện này ra sao thì người viết bài này cũng không được rõ, xin dẫn ra ở đây để độc giả tham khảo. Nếu có ai biết rõ vấn đề này xin chỉ dẫn giùm

http://hoangdinh53.violet.vn/entry/show/entry_id/4120161

…Một số tài liệu ghi ông sinh năm 1909. Tuy nhiên, hồi ký của Trần Đăng Ninh, người cùng bị tù Hỏa Lò với ông khi đó, mang tựa đề “Những ngày cuối cùng của anh Hoàng Văn Thụ” (ban hành năm 1959), đã có đoạn khẳng định lời nói của ông với tác giả năm 1944 trong nhà lao Hỏa Lò: “Năm nay tôi 38 tuổi…”. Như vậy ông sinh năm 1906.

Đã xem 29 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
1 Comment
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments