Bài 3. Chính quyền của Trần Trọng Kim còn non nớt, trong khi bọn quỷ thì chuẩn bị rất kỹ lưỡng, nên tháng 8 – 1945 bị quỷ cướp trắng.

Đến nay, nhiều học giả đã viết về việc Việt Minh cướp chính quyền của Trần Trọng Kim là khá đơn giản, nhưng đọc những tài liệu dưới đây sẽ cho thấy là bọn quỷ đã âm thầm chuẩn bị khá kỹ lưỡng! Chỉ có cánh Trần Trọng Kim là bất ngờ.

Tuy sự thật được chúng chủ trương giấu đi, nhưng đây đó, ta khéo đọc, vẫn có Sự Thật được phơi bày.

I. Bằng chứng và phân tích.

  1. Toàn tập trung thanh niên mới lớn, không hoạt động Cộng sản “Tuổi 20 cho Ngày độc lập

“Đại tá Lều Đức Huy, biệt danh Thái Mỹ, vị lão thành cách mạng nay đã 81 tuổi, trú tại số 30 nhà B1 khu tập thể Quân đội (Mai Dịch, Hà Nội) và là tổ trưởng một tổ Việt Minh tiền cách mạng của thủ đô, nói về tâm trạng của mình. Mà chẳng riêng gì ông, những người trẻ Hà Nội ngày ấy, hôm nay gặp lại tuy đã bước vào tuổi 80 đều có chung tâm trạng, sự tủi nhục của người dân mất nước…” (Văn bản 1)

Nhận xét: Khi 1945 đều chỉ mới 20 – 21 tuổi.

  1. Chủ yếu là con nhà tư sản – Khác với chủ trương của Đảng CS Đông Dương.

“Với cậu con trai người chủ hiệu khắc dấu Ích Cát ở 47 Hàng Gai cũng vậy…Cha ông Kỷ làm nghề thủ thư và mẹ buôn bán nhỏ ở chợ Hôm. …Ông Lê Tuấn (Phạm Thụy Uông), cháu nội quan tuần phủ Hưng Yên, lại là tổ trưởng 11 tiểu tổ Việt Minh nội thành Hà Nội. ” (Văn bản 1)

  1. Tập trung quân để huấn luyện đàng hoàng.

“Gần đến ngày tổng khởi nghĩa, các chiến sĩ phải thoát ly gia đình chuyển đến Thanh Trì. Ngày ấy con gái bước ra khỏi nhà quá ngày là cả xóm dị nghị, vậy mà bà Tâm và nhiều nữ sinh khác đã bước qua lễ nghi phong kiến để chọn con đường đi theo cách mạng…” (Văn bản 1)

“Ngày 17-8-1945, nhận chỉ thị của ông Lê Tuấn – trưởng nhóm Việt Minh nội thành Hà Nội: tập trung tại Thuận Thành, Bắc Ninh để tập bắn đạn thật! Bốn chị em trong nhóm bà Minh Tâm ai nấy ăn mặc rất yểu điệu, đạp xe tung tăng qua cầu Long Biên…” (Văn bản 1)

  1. Người Hà Nội ai cũng xem mình là Việt Minh.

Trong cuốn Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám – Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, NXB Lao Động – 1999, ông Nguyễn Khang, nguyên chủ tịch Ủy ban Mặt trận khởi nghĩa Hà Nội, viết: “Phong trào cứu quốc những ngày tháng tám đã lên cao tới mức không thể tưởng tượng được và người Hà Nội ai cũng xem mình là Việt Minh. Các hoạt động gần như công khai.” (văn bản 2)

  1. Phong trào quần chúng, các tổ chức Việt Minh đoàn thể thì rất mạnh và đã tập dượt qua nhiều lần

Lúc này quân Nhật ở Hà Nội khoảng hơn 1 vạn. Lực lượng của ta chỉ có ba chi đội tự vệ hơn 700 người, vũ khí thô sơ và mới qua vài lớp huấn luyện quân sự cấp tốc. Tuny hiên phong trào quần chúng, các tổ chức Việt Minh đoàn thể thì rất mạnh và đã tập dượt qua nhiều lần…”.” (văn bản 2)

Ngày 17-8-1945 chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mittinh ra mắt quốc dân hòng “sơn phết” lại chính quyền bù nhìn. Chúng ta đã lường trước và âm thầm tổ chức lực lượng nòng cốt cướp diễn đàn mittinh này và biến thành ngày hội của quần chúng với cờ đỏ sao vàng. Tại đây đội danh dự đưa ra sáng kiến biến mittinh thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh.

Thế là theo hướng dẫn của các đội tự vệ, quần chúng xếp thành hàng ngũ đi từ Nhà hát lớn qua phố Tràng Tiền, rẽ sang Đinh Tiên Hoàng với những tiếng hô vang dậy “Ủng hộ Việt Minh!”, “Đả đảo chính phủ bù nhìn!”. Đi đến đâu bà con tham gia đến đó. Ngay cả lính bảo an của chính phủ bù nhìn cũng ôm súng nhập vào đoàn biểu tình. Trước không khí đó, cuộc họp “hội đồng tư vấn Bắc kỳ” của chính phủ Trần Trọng Kim đang tổ chức ở nhà Khai Trí – Tiến Đức tan tác như ong vỡ tổ.” (văn bản 2)

  1. Hàng chục vạn quần chúng có lực lượng vũ trang làm xung kích

Ông Trần Quang Huy, nguyên chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng Hà Nội, nói về kế hoạch khởi nghĩa như sau: “Chúng tôi huy động hàng chục vạn quần chúng có lực lượng vũ trang làm xung kích, tiến hành mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn, sau đó tuần hành thị uy xông lên chiếm những cơ quan trọng yếu là phủ khâm sai, tòa thị chính, trại bảo an binh, ty liêm phóng, sở cảnh sát Hàng Trống, kho bạc và bưu điện. ” (văn bản 2)

“Ngày cách mạng!

Sáng sớm 19-8-1945 các đường phố Hà Nội đã tràn ngập cờ đỏ sao vàng! Tất cả nhà máy, công sở, chợ búa, cửa hiệu, trường học đều đóng cửa. Thậm chí cả ôtô, xe điện, xe kéo, xe đạp cũng không có chiếc nào, trên đường là từng dòng thác người với cờ, biểu ngữ, vũ khí thô sơ hay công cụ lao động rầm rập tiến về quảng trường Nhà hát lớn. Dòng người vừa đi vừa hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh hoặc hát Tiến quân ca.

Ông Thái Mỹ nhớ lại: “Tổ Việt Minh chúng tôi chịu trách nhiệm dẫn một đoàn đi từ khu Năm Diệm (Giảng Võ) ra Nhà hát lớn. Dẫn đầu là hai thanh niên Lê Văn Cử và Thái Vĩnh cùng giương cao biểu ngữ. Ông Thái Mỹ thì cầm khẩu súng ngắn chỉ huy bên cạnh. Khoảng hơn 100 thanh niên tự vệ Việt Minh đi theo cùng hàng vạn quần chúng với cờ, biểu ngữ và những tiếng hô dậy đất “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam độc lập!”… ” (văn bản 2)

  1. Sự thật ở trường Thanh Niên tiền tuyến.

“Năm 1945, tại Huế có một trường võ bị – gọi là Trường Quân sự thanh niên tiền tuyến (TNTT), tuy do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lập nên nhưng điều hành ngôi trường lại là những trí thức yêu nước nổi tiếng như giáo sư Tạ Quang Bửu, luật sư Phan Anh – những người sau này đều giữ cương vị quan trọng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…” (văn bản 3)

LB: Liệu có đúng như trên? Đâu là sự thật (Xem chi tiết tại quyển 11 – Giết các hội đoàn)

  1. Tin đồn.

Đặc biệt là tin: Có một người nổi tiếng “ở cả tù Tây lẫn tù Tàu” tên là Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo. Thế là, một số có điều kiện đều tự nguyện đi theo Việt Minh bỏ hết cả học hành, gia đình, sự nghiệp. Một số sau này có vai vế hẳn hoi trong chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cũng không ít kẻ, sau này không thể đoàn kết được với cộng sản phải “quay cờ” trở thành những kẻ chống Cộng… nhiệt tình, hăng say nhất. ” (văn bản 4)

  1. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được thành lập từ 1944.

 Đối với các đội vũ trang địa phương: Đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

Về chiến thuật: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.” (Văn bản 5)

Nhận xét:

Chúng đã chuẩn bị tập dượt lực lượng khá kỹ, đa số là các thanh niên, học sinh, con nhà tư sản, không Cộng sản “các chiến sĩ phải thoát ly gia đình chuyển đến Thanh Trì.” Rồi “tập trung tại Thuận Thành, Bắc Ninh để tập bắn đạn thật”. Chúng tuyên truyền trong nhân dân rất kỹ: “người Hà Nội ai cũng xem mình là Việt Minh”, “có lực lượng vũ trang làm xung kích”, chúng dùng cả Tin đồn để tập hợp lực lượng. Và quả thực phải như vậy chứ không thể sau ngày 20 Hồ mới chống gậy đi bộ về Hà Nội mà có chính quyền được. Đã có một lực lượng bí mật chuẩn bị sẵn!

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập 1944 với sự đào tạo rất chuyên nghiệp, 34 người đầu tiên chủ yếu là người Dân Tộc chỉ là trá hình, còn bọn chúng đã chuẩn bị cho “Hoa quân nhập Việt” khá kỹ từ 1940. (Xem “Hoa quân nhập Việt” ở bài 1, chương 1 và xem thêm tại quyển 36)

Trong khi đó, đọc hồi ký “Một cơn gió bụi” của Trần Trọng Kim thì ta đã thấy ông ta chỉ là một thầy giáo, bất đắc dĩ mà lập chính phủ, như vậy so với lực lượng của Lư Hán thì cũng chỉ là như thỏ non so với cáo già mà thôi.

Thế mới thật là:  Bọn quỷ bài bản hẳn hoi

                        Chuẩn bị kỹ lưỡng từ thời 40.

                        Trọng Kim chính phủ còn non

                        Đâu phải đối thủ của bầy quỷ ma.

Thắc mắc: Đảng Cộng sản đông dương vì sao mà yếu đến tan tác như vậy? Xin xem chương 2 sẽ rõ.

  1. Tài liệu ngiên cứu.

(Văn bản 1)

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (kỳ 1): Chung một bóng cờ…

27/08/2005

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20050827/tuoi-20-cho-ngay-doc-lap-ky-1-chung-mot-bong-co/95422.html

TT – Tháng 8-1945, dưới ngọn cờ cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, cả dân tộc đã đứng dậy! Và hàng vạn, hàng triệu con người trong độ tuổi 20 đã đi cùng dân tộc, mở cánh cửa bước vào kỷ nguyên độc lập tự do. Cái tuổi 20 ngày ấy sau 60 năm vẫn còn hừng hực lửa…

Con đường của những người trẻ tuổi…

Hà Nội những năm 1940… trong cái thanh bình, tao nhã luôn ẩn chứa sự ngột ngạt và u uất như đã có sẵn ở mỗi con người.

Với cậu con trai người chủ hiệu khắc dấu Ích Cát ở 47 Hàng Gai cũng vậy, cậu thấy lòng nhức nhối trước cảnh những tên đội Tây vung dùi cui xua đuổi mấy bà hàng xôi với những bộ đồ vá víu chằng chịt chạy tán loạn như chim vỡ tổ, hay cảnh những đứa trẻ tóc vàng mắt xanh béo tốt, ngả ngớn trên xe tay vừa cười vừa đạp vào lưng người kéo xe tóc bạc còm nhom…

Đại tá Lều Đức Huy, biệt danh Thái Mỹ, vị lão thành cách mạng nay đã 81 tuổi, trú tại số 30 nhà B1 khu tập thể Quân đội (Mai Dịch, Hà Nội) và là tổ trưởng một tổ Việt Minh tiền cách mạng của thủ đô, nói về tâm trạng của mình. Mà chẳng riêng gì ông, những người trẻ Hà Nội ngày ấy, hôm nay gặp lại tuy đã bước vào tuổi 80 đều có chung tâm trạng, sự tủi nhục của người dân mất nước…

Nhật đảo chính Pháp, Hà Nội xuất hiện những đoàn quân Nhật mặc quần soóc lửng, áo kaki, mũ vải mềm. Điều đó với một số người dân Hà Nội là lạ lùng, hiếu kỳ. Nhưng với ông Nguyễn Ngọc Liên (cán bộ tiền kháng chiến, năm nay đã 82 tuổi) và nhiều thanh niên Hà Nội thì không có gì hào hứng. Những nỗi niềm đó ông thường tâm sự với một người bạn học là Phương Đình Kỷ.

Cha ông Kỷ làm nghề thủ thư và mẹ buôn bán nhỏ ở chợ Hôm. Một buổi chiều đẹp trời chừng 5-6 giờ, ông Liên đang ngồi học bài ở nhà một mình thì ông Kỷ đi vào, rút từ túi quần một cuốn vở học sinh đưa bạn và nói nhanh: “Cậu xem cái này đi!”. Ông Liên mở quyển vở, kẹp bên trong là một tập giấy nhỏ in mực đen đề dòng chữ “cờ giải phóng”, phía dưới có bài viết về phát xít Đức đã đầu hàng Đồng minh.

Bài thứ hai của tác giả Trường Chinh viết về nguyên nhân của nạn đói đang giết hàng triệu đồng bào là chính sách đàn áp của phát xít Nhật núp dưới chiêu bài Đại Đông Á. Tờ thứ hai là Lời kêu gọi đánh đuổi quân xâm lược của Nguyễn Ái Quốc và cuối cùng là năm tờ truyền đơn của tổ chức VN độc lập Đồng minh kêu gọi nhân dân vùng lên đánh Nhật… Ông Liên nhìn ra cổng, bạn đã khuất bóng, ánh mắt ông xa xăm, ông biết rằng mình đã tìm được con đường cho riêng mình…

Còn bà Minh Tâm (bí danh Lê Tuyết Minh), thành viên Thanh niên phản đế Hà Nội, nhớ lại: nữ sinh Đồng Khánh ngày ấy kiêu sa lắm, lúc nào ra đường cũng áo dài trắng thướt tha, guốc cao, tóc dài… Nhưng trước vận nước cũng không thể ngồi yên, bà Minh Tâm và nhiều nữ sinh Hà Nội tham gia “hội kín” Thanh niên phản đế Hà Nội từ rất sớm.

Gần đến ngày tổng khởi nghĩa, các chiến sĩ phải thoát ly gia đình chuyển đến Thanh Trì. Ngày ấy con gái bước ra khỏi nhà quá ngày là cả xóm dị nghị, vậy mà bà Tâm và nhiều nữ sinh khác đã bước qua lễ nghi phong kiến để chọn con đường đi theo cách mạng…

Ông Lê Tuấn (Phạm Thụy Uông), cháu nội quan tuần phủ Hưng Yên, lại là tổ trưởng 11 tiểu tổ Việt Minh nội thành Hà Nội. Ông bảo ngay khi Việt Minh còn trong “bóng tối”, người Hà Nội đã tin tưởng vào con đường giải phóng dân tộc của họ. Ông không thể nào quên câu chuyện hai cô gái con nghị sĩ đã âm thầm đóng góp tài chính cho Việt Minh, hay chuyện con trai ông chủ hiệu Tường An, là cháu viên hội đồng dân biểu Hà Nội đã tìm đến và ủng hộ ngay một khẩu súng… Mọi người âm thầm hướng về một bóng cờ đang ẩn hiện trong đêm trước bình minh của dân tộc…

Chuẩn bị cho ngày đứng lên…

Ngày 17-8-1945, nhận chỉ thị của ông Lê Tuấn – trưởng nhóm Việt Minh nội thành Hà Nội: tập trung tại Thuận Thành, Bắc Ninh để tập bắn đạn thật! Bốn chị em trong nhóm bà Minh Tâm ai nấy ăn mặc rất yểu điệu, đạp xe tung tăng qua cầu Long Biên. Vừa đi vừa cười nói, xe vướng vào nhau đổ kềnh cả ra đường. Điểm hẹn là một bãi cỏ rộng vắng người. Ông Lê Tuấn lấy ra một khẩu súng mút-cơ-tông cắm bia ngắm và giao hẹn: mỗi người chỉ được bắn hai phát. Thế là các thiếu nữ để nguyên quần áo trắng muốt, guốc cao thanh lịch mà lăn lê bò toài với súng ống.

Ông Lê Tuấn khi ấy là con trai ngài phụ tá quan phủ Thuận Thành, Bắc Ninh. Lê Tuấn chơi thân với con quan phủ cùng trạc tuổi và có thể mượn súng của bọn lính khố xanh gác cổng quan phủ bất cứ lúc nào. Không ai ngờ được cậu Hai Lê Tuấn lại chính là giảng viên quân sự của lực lượng Việt Minh từ Hà Nội sang…

QUANG THIỆN

(Văn bản 2)

Tuổi 20 cho Ngày độc lập – Kỳ 2: Lên đường!

29/08/2005

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20050829/tuoi-20-cho-ngay-doc-lap—ky-2-len-duong/95638.html

TT – Cuộc tổng khởi nghĩa 19-8-1945 – Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới, đưa lịch sử dân tộc đi tới con đường độc lập – con đường tự do. Mùa thu năm ấy, cuộc lên đường của những người trong độ tuổi 20…

Phút “giao thừa” độc lập

Trong cuốn Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám – Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, NXB Lao Động – 1999, ông Nguyễn Khang, nguyên chủ tịch Ủy ban Mặt trận khởi nghĩa Hà Nội, viết: “Phong trào cứu quốc những ngày tháng tám đã lên cao tới mức không thể tưởng tượng được và người Hà Nội ai cũng xem mình là Việt Minh. Các hoạt động gần như công khai.

Lúc này trung ương đang mở đại hội quốc dân ở Tân Trào nên nếu có chỉ thị thì cũng phải đợi một thời gian nữa mới tới. Nhưng thời cơ đã tới và không đợi chúng ta. Hơn nữa chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã là cẩm nang mở cho Hà Nội hành động. Đúng ngày 15-8 xứ ủy mở cuộc họp tại làng Vạn Phúc, Hà Đông (lúc này phần lớn lãnh đạo xứ ủy đã đi họp ở Tân Trào). Cuộc họp nhận định tình hình và kết luận đây là thời cơ có một không hai để khởi nghĩa cướp chính quyền.

Xứ ủy quyết định: thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội để chỉ đạo công việc chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa ở Hà Nội. Lúc này quân Nhật ở Hà Nội khoảng hơn 1 vạn. Lực lượng của ta chỉ có ba chi đội tự vệ hơn 700 người, vũ khí thô sơ và mới qua vài lớp huấn luyện quân sự cấp tốc. Tuny hiên phong trào quần chúng, các tổ chức Việt Minh đoàn thể thì rất mạnh và đã tập dượt qua nhiều lần…”.

Ngày 17-8-1945 chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mittinh ra mắt quốc dân hòng “sơn phết” lại chính quyền bù nhìn. Chúng ta đã lường trước và âm thầm tổ chức lực lượng nòng cốt cướp diễn đàn mittinh này và biến thành ngày hội của quần chúng với cờ đỏ sao vàng. Tại đây đội danh dự đưa ra sáng kiến biến mittinh thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh.

Thế là theo hướng dẫn của các đội tự vệ, quần chúng xếp thành hàng ngũ đi từ Nhà hát lớn qua phố Tràng Tiền, rẽ sang Đinh Tiên Hoàng với những tiếng hô vang dậy “Ủng hộ Việt Minh!”, “Đả đảo chính phủ bù nhìn!”. Đi đến đâu bà con tham gia đến đó. Ngay cả lính bảo an của chính phủ bù nhìn cũng ôm súng nhập vào đoàn biểu tình. Trước không khí đó, cuộc họp “hội đồng tư vấn Bắc kỳ” của chính phủ Trần Trọng Kim đang tổ chức ở nhà Khai Trí – Tiến Đức tan tác như ong vỡ tổ.

Đoàn biểu tình chia thành nhiều mũi đi vào khắp các phố lớn, đến tận 9-10g đêm mới giải tán. Cuộc tuần hành này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cho ngày tổng khởi nghĩa 19-8. Nó bộc lộ và khẳng định sức mạnh vũ bão của quần chúng cách mạng. Ngay đêm đó Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội họp khẩn cấp và kết luận: thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi!

Ông Trần Quang Huy, nguyên chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng Hà Nội, nói về kế hoạch khởi nghĩa như sau: “Chúng tôi huy động hàng chục vạn quần chúng có lực lượng vũ trang làm xung kích, tiến hành mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn, sau đó tuần hành thị uy xông lên chiếm những cơ quan trọng yếu là phủ khâm sai, tòa thị chính, trại bảo an binh, ty liêm phóng, sở cảnh sát Hàng Trống, kho bạc và bưu điện. Đối với Nhật, ta không đánh chiếm những nơi chúng đóng quân nhưng đề phòng trường hợp chúng gây hấn, ta cướp vũ khí, vừa đánh vừa rút ra ngoại thành chiến tranh du kích đợi quân giải phóng về”.

Ông Trần Quang Huy nhớ lại: ngày 18-8, không khí khởi nghĩa rạo rực và bùng phát ở khắp các vùng ngoại thành, tại các nhà máy công xưởng. Nhiều chủ cai, thầy ký còn phối hợp với ta tiếp quản cho nhanh. Anh em công nhân rầm rộ giương cờ đỏ sao vàng chạy qua mũi quân Nhật, bọn chúng cũng chỉ biết thúc thủ đứng nhìn.

Còn ông Thái Mỹ (tổ trưởng một tổ Việt Minh tiền cách mạng), nay đã 81 tuổi nhưng ông chẳng thể nào quên cái đêm hôm ấy: “Đêm giao thừa của kỷ nguyên độc lập hình như cả Hà Nội không ngủ. Những tiếng nói cười, tiếng máy khâu may cờ xè xè hối hả khắp nơi, tiếng thử súng, tiếng mài gươm suốt đêm. Chúng tôi có cảm giác như cả Hà Nội đã chờ đợi ngày này từ trăm năm rồi. Nhiều tốp thanh niên nam nữ tập hát Tiến quân ca, những kế hoạch cuối cùng cho ngày mai – ngày rạng đông độc lập cứ sôi sục mãi suốt đêm thâu…”.

Ngày cách mạng!

Sáng sớm 19-8-1945 các đường phố Hà Nội đã tràn ngập cờ đỏ sao vàng! Tất cả nhà máy, công sở, chợ búa, cửa hiệu, trường học đều đóng cửa. Thậm chí cả ôtô, xe điện, xe kéo, xe đạp cũng không có chiếc nào, trên đường là từng dòng thác người với cờ, biểu ngữ, vũ khí thô sơ hay công cụ lao động rầm rập tiến về quảng trường Nhà hát lớn. Dòng người vừa đi vừa hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh hoặc hát Tiến quân ca.

Ông Thái Mỹ nhớ lại: “Tổ Việt Minh chúng tôi chịu trách nhiệm dẫn một đoàn đi từ khu Năm Diệm (Giảng Võ) ra Nhà hát lớn. Dẫn đầu là hai thanh niên Lê Văn Cử và Thái Vĩnh cùng giương cao biểu ngữ. Ông Thái Mỹ thì cầm khẩu súng ngắn chỉ huy bên cạnh. Khoảng hơn 100 thanh niên tự vệ Việt Minh đi theo cùng hàng vạn quần chúng với cờ, biểu ngữ và những tiếng hô dậy đất “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam độc lập!”…

Bà con hai bên đường gia nhập đoàn ngày một đông. Tinh thần anh em thanh niên hưng phấn tột độ. Mũi của ông Thái Mỹ phụ trách đi qua Hàng Gai – phố nhà ông ở. Và ông được hưởng niềm hạnh phúc tột cùng: cha mẹ, bà con, hàng xóm nhà mình đứng đầy hai bên đường đã thấy ông cầm súng dẫn đầu đoàn quân cách mạng…

Ra đến Nhà hát lớn ông Nguyễn Huy Khôi bước ra đọc lời hiệu triệu toàn thể quốc dân đứng lên giành độc lập. Tiếng hô vang dậy một góc trời. Cuộc mittinh chuyển sang tuần hành thị uy, chia làm hai khối lớn. Một: chiếm phủ khâm sai, tòa thị chính, bưu điện, kho bạc và sở cảnh sát Hàng Trống; hai: chiếm trại bảo an binh, sở liêm phóng và nhà pha Hỏa Lò.

…Năm ngày sau khi Hà Nội khởi nghĩa thành công, người dân đất kinh thành Huế cũng đã đứng lên cướp chính quyền. Trong số họ có cả những hoàng thân quốc thích, con quan đại thần, tổng trấn… Và ngôi trường võ bị do chính phủ bù nhìn thân Nhật lập nên cũng chính là “lò” cung cấp thủ lĩnh quân sự cho cách mạng…

QUANG THIỆN

(văn bản 3)

Tuổi 20 cho ngày độc lập kỳ 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!

30/08/2005

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20050830/tuoi-20-cho-ngay-doc-lap-ky-3-nhung-giai-phong-quan-dac-biet/95756.html

TT – Năm 1945, tại Huế có một trường võ bị – gọi là Trường Quân sự thanh niên tiền tuyến (TNTT), tuy do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lập nên nhưng điều hành ngôi trường lại là những trí thức yêu nước nổi tiếng như giáo sư Tạ Quang Bửu, luật sư Phan Anh – những người sau này đều giữ cương vị quan trọng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập…

(văn bản 4)

Những sự thật lịch sử từ tháng 3 đến tháng 9 của năm 1945- Từ 1945-1954 ở miền Nam ra sao

Posted on Tháng Chín 1, 2011 by hoangtran204

http://hoangtran204.wordpress.com/2011/09/01/nh%E1%BB%AFng-s%E1%BB%B1-th%E1%BA%ADt-l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD-t%E1%BB%AB-thang-3-d%E1%BA%BFn-thang-9-c%E1%BB%A7a-nam-1945/

…Sự phân hoá dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim bắt đầu

Không thể phụ nhận được những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim đã cố gắng hết sức mình để phát triển lòng yêu nước, ý thức về Độc Lập, Tự Do ở con dân đất Việt trong thời gian 126 ngày cầm quyền. Tuy nhiên cũng chính trong thời gian này mà “các kiểu yêu nước” đều được phát triển búa xua! Tớ có hai thằng bạn cùng lớp, một tên Tất Đắc, một tên… Lũy (tớ không sao nhớ nổi họ), mỗi lần thấy tớ xách bị đi xin ăn thì đều dè bỉu: “Trò hề! Muốn làm cách mạng thật hãy đi theo tao”, Tớ hỏi “Đi đâu?” – “Đi phá kho thóc chia cho nông dân, chứ vài bát cơm làm sao cứu nổi cả ngàn con người.” Và cuối cùng 2 đứa bỏ học đi biệt tích. Mãi sau này, trong kháng chiến chống Pháp tớ mới gặp lại thì một thằng đã làm nên sư đoàn trưởng còn một thằng làm giám đốc một sở văn hóa ở Tây Bắc

Ngay sát nhà tớ cũng có một nhóm thanh niên hàng ngày rủ nhau đàn địch, vui chơi bỗng dưng một hôm gia đình thấy “mất hút con mẹ hàng lươn”. Hỏi thăm gia đình thì cứ… bí bí mật mật: “Chúng nó rủ nhau lên chiến khu rồi”. Mãi sau 19/8 mới biết tin chúng nó đi theo Quốc dân đảng có chiến khu cả ngàn người ở Vĩnh Yên(!) và có một tên đã bị thủ tiêu trong vụ Ôn Như Hầu. Còn lại số đông đều đi theo Việt Minh vào giờ thứ 24 rưỡi(!) vì nghe nói cái tổ chức này được Mỹ ủng hộ. Có cả tàu bay 2 thân, tiếp tế nhảy dù. Đặc biệt là tin: Có một người nổi tiếng “ở cả tù Tây lẫn tù Tàu” tên là Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo. Thế là, một số có điều kiện đều tự nguyện đi theo Việt Minh bỏ hết cả học hành, gia đình, sự nghiệp. Một số sau này có vai vế hẳn hoi trong chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cũng không ít kẻ, sau này không thể đoàn kết được với cộng sản phải “quay cờ” trở thành những kẻ chống Cộng… nhiệt tình, hăng say nhất. Riêng tớ, với bản chất rõ ràng như ông Mác đã viết, “luôn nghi ngờ, hoang mang, dao động” và cũng do ông bố kềm kẹp riết suốt đêm ngày nên tớ cứ “oét-en-xi” mãi.. và khi công việc khất thực đã chấm dứt không kèn không trống thì tớ lại chuyển sang công tác tuyên truyền văn nghệ. Một nhóm thanh niên có khiếu âm nhạc chúng tớ trở thành các đội tuyên truyền để biểu diễn các bài hát yêu nước, diễn các vở kịch cương về các tội ác của “kẻ thù Đế Quốc Thực Dân”. Phải nói rằng tác dụng của âm nhạc trong việc kích động lòng yêu nước lúc này quả là có hiệu quả. Người có công số một đó chính là Lê Hữu Phước. Các bài ca “Chi Lăng”, “Bạch Đằng Giang”, hoạt cảnh “Hội nghị Diên Hồng” do chúng tớ biểu diễn lúc này, kèm theo những “Thiên Thai”, “Đàn Chim Việt” của Văn Cao đã góp phần không nhỏ trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Cho tới một ngày (17/8/945) Đoàn Thanh Niên của chúng tớ tay cầm cờ quẻ li, miệng hát “Này thanh niên ơi…” đi Mít tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim thì mới trắng mắt ra rằng mình đã được huy động đi… “Cướp chính quyền” từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, do Việt Minh tổ chức mà không biết. Tất cả đều diễn biến rất nhanh chóng. Cờ quẻ li hạ xuống! Cờ đỏ sao vàng kéo lên và một người “quần nâu áo vải” đầu đội béret, tay cầm súng pặc họoc, thắt lưng đeo một hai quả lựu đạn ra tuyên bố vài câu gì đó mà tớ đứng xa quá nên nghe chăng rõ chỉ nhớ lõm bõm có mấy câu… “Chính quyền đã về tay nhân dân” và sau đó thì… hàng ngàn người như có gài sẵn kim hỏa trong lòng đã nổ tung ra thành những khẩu hiệu “Muôn năm! muôn năm!” long trời lở đất…. Hàng chục lá cờ đỏ sao vàng được tung ra, kéo theo cả hàng ngàn người chạy ùa sang phủ thống sứ cũ (ở xế nhà hát lớn) phá cửa, leo hàng rào vào chiếm phủ khâm sai đại thần. Mọi việc diễn ra nhanh chóng, chẳng khác gì tớ đã được xem trong phim “Lê Nin với Cách Mạng Tháng 10) có trường đoạn chiếm “Cung điện Mùa đông.” Chỉ khác là, ở VN không có súng nổ và chính phủ “bù nhìn” đi đâu? ở đâu? lúc đó? có ai bị bắt, bị vào tù, bị “dựa cột” không thì chẳng có ai được biết, kể cả tớ, cho tới tận bây giờ!

Cuộc tổng khởi nghĩa như thế là xong. Có mặt tớ cũng như không! Chẳng ai hay, ai biết… vì chính tớ cũng chẳng biết chẳng hay. Ấy vậy mà sau này, khối tên cơ hội đã ghi vào lí lịch “tham gia tổng khởi nghĩa.” Thậm chí cả… ”tiền khởi nghĩa” (thời hoạt động “bốc nhằng” như tớ dưới chính thể Trần Trọng Kim, để được quyền lợi, lương bổng, nhà cửa hơn người! Mọi phong trào, hoạt động và yêu nước dưới thời kì 126 ngày của chính phủ Trần Trọng Kim có kẻ sau này còn “phóng” lên là “hoạt động tiền khởi nghĩa”. Có kẻ thì dấu biến đi khi khai lí lịch vì sợ là dính líu tới “chính phủ bù nhìn” Trần Trọng Kim. Còn những thành viên của cái nội các “bù nhìn” này, ai đi theo Việt Minh? ai được giao nhiệm vụ gì? ai trở thành những người chống cộng triệt để nhất tới hơi thở cuối cùng… Lỗ hổng lớn về giai đoạn lịch sử bi-hài-hùng này, ngoài cuốn hồi ký “Một cơn gió bụi” của Trần trọng Kim ra, cho đến nay vẫn là những điều khó viết lên thành chữ? Hay chính là các sử học gia nước biết mà không viết? Hay là muốn viết nhưng sợ bị… mất lập trường, sợ đi vào lề bên trái Hay là? hay là?… Nhiều câu hỏi được đặt ra với các sử gia nước ta… để rồi đành phải tự trả lời rằng: Cho đến hôm nay chưa có ai đủ tầm, đủ tâm như tác giả “Việt Nam Sử Lược”… Trần Trọng Kim!

Để kết luận: Đến ngày nay tớ vẫn “bảo lưu” cái chế độ 126 ngày đó là một thực thể có thật, có tác dụng cho lớp thanh niên chúng tớ. Ít nhất là đã mở đường cho chúng tớ đi tìm con đường cách mạng. Lạc lõng, tồn tại, thăng tiến, hoặc… mất mạng đều do cái đầu và con tim của từng người… Khôn ngoan đến đáng… ghét hoăc ngờ nghệch đến đáng thương chung quy cũng chỉ vì ngu dốt về chính trị mà dám liều bước vào con đường… Chính chọe! Cũng may cho tớ là qua bao biến cố thăng trầm tớ vẫn còn tồn tại để kể lại cho các friends trẻ về một lỗ hổng lớn trong lịch sử hiện đại của dân tộc mà không biết vì sao các nhà viết sử thời nay chẳng “muốn” hoặc “dám” đụng tới bao giờ???

nguồn Tô Hải blog

và từ nguồn Dân Luận

(văn bản 5)

70 năm QĐND Việt Nam anh hùng – Những tư liệu, sự kiện nên biết (bài 1)

QĐND – Thứ hai, 24/11/2014 | 10:13 GMT+7

QĐND Online – Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2014) và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2014), Báo Quân đội nhân dân Điện tử trân trọng giới thiệu với bạn đọc một số tư liệu, sự kiên như: Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; danh sách các đội viên đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; danh sách các đồng chí Đại tướng trong QĐND Việt Nam; danh sách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị qua các thời kỳ; các chiến dịch tiêu biểu của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ…

Bài 1: Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/nhung-moc-son-lich-su/70-nam-qdnd-viet-nam-anh-hung-nhung-tu-lieu-su-kien-nen-biet-bai-1/332869.html

Đứng trước những yêu cầu thực tiễn của cách mạng, tháng 12-1944, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách.

Bản Chỉ thị lịch sử này là một văn kiện có tính chất cương lĩnh quân sự của Đảng, đề cập một cách toàn diện đường lối quân sự của Đảng.

(Ảnh Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) thành lập ngày 22-12-1944. (Ảnh tư liệu: TTXVN))

Nội dung của bản Chỉ thị:

  1. Tên: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả, thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng. Cho nên, theo chỉ thị mới của đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao-Bắc-Lạng số cán bộ, đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập nên một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

  1. Đối với các đội vũ trang địa phương: Đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.
  2. Về chiến thuật: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, những tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Bắc chí Nam, khắp đất nước Việt Nam.

QĐND Online (tổng hợp)

(văn bản 6)

Bài 2: Các đội viên đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

QĐND – Thứ ba, 25/11/2014 | 9:40 GMT+7

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/nhung-moc-son-lich-su/bai-2-cac-doi-vien-dau-tien-cua-doi-viet-nam-tuyen-truyen-giai-phong-quan/333175.html

QĐND Online – Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị, ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, xã Hoàng Hoa Thám, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chính thức làm lễ thành lập gồm 3 tiểu đội, với 34 chiến sĩ được chọn lọc từ những chiến sĩ du kích Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy.

Trong số 34 cán bộ, chiến sĩ của đội có 29 người dân tộc thiểu số (19 đồng chí dân tộc Tày, 8 đồng chí dân tộc Nùng, 1 đồng chí dân tộc Mông, 1 đồng chí dân tộc Dao), còn lại 5 đồng chí dân tộc Kinh….

QĐND Online (tổng hợp)

Bon quy chuan bi cong phu

Đã xem 8 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
2 Comments
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments