Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 18) “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở”

1Tháng 2 năm 1979, Trung Cộng đánh 6 tỉnh dọc biên giới Việt Trung. Ngay khi nghe tin Trung Cộng sắp đánh, toàn thể tù trại cải tạo Z-30A, Xuân Lộc rất xôn xao. Ai ai cũng “vui mừng”. Có người nói mỉa “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở!”

Người ta nhìn vấn đề theo lăng kính chủ quan: Kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta.

Anh em hỏi nhau: Có thể như thế được không? Hễ nghe Đặng Tiểu Bình chưởi Hà Nội một câu gì đó, có người khoái chí. Có người nói Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Buổi trưa ăn cơm Hà Nội, buổi tối ăn cơm Saigon.” Ý Đặng muốn nói Trung Cộng có khả năng chiếm trọn Việt Nam trong một thời gian rất ngắn! Có người dại dột, – dĩ nhiên cũng có mấy chú Ba Chợ Lớn đang ở tù chung ở đây -, mong Trung Cộng đánh tới Saigon.

Việc nầy là không xong, sai lầm.

“Tàu phù” đô hộ Việt Nam đã kinh, đến như Tàu Cộng mà đô hộ thì coi như tàn đời, tàn “dân tộc”, kể cả mấy anh Ba trong Chợ Lớn cũng tàn theo mây khói vậy thôi! Nếu Trung Cộng cai trị Việt Nam, mấy chú Ba cũng chẳng được “xơ múi” gì đâu! Cộng Sản chẳng tin ai bao giờ! Chúng còn chưa tin nhau, làm sao tin mình được!? Tất cả chỉ vì lợi, và lợi dụng người khác.

            Một hôm, ăn chiều xong, chờ giờ “vào chuồng”  – tôi uống nước trà với Trần Phú Trắc và “Ông già ham vui” (Anh Lã Trung Tâm). Trắc nói:

            – “Tui chỉ muốn Trung Cộng đánh một trận, nhưng chỉ tới biên giới thôi. Đánh xuống nữa thì khổ dân mình.”

            “Ông già ham vui” nói:

            – “Thằng Đặng Tiểu Bình nói cho Việt Nam một bài học nhưng có “giới hạn không gian, thời gian”. Sao nó nói thế?”

            Tôi nói:

            – “Mỹ qua giúp miền Nam chống Cộng, tụi Cộng Sản la làng “Đế Quốc Mỹ xâm lược”, khiến Mỹ cũng ngại. Đời bây giờ không dễ gì một nước lớn đem quân đánh một nước nhỏ. Tụi Tàu biết rõ sau lưng nó, bên kia Hắc Long Giang, bốn mươi sư đoàn Liên Xô đang chực sẵn. Hễ Tàu đánh Việt Nam xuống sâu chút nữa, xa biên giới Việt Trung thì Liên Xô cho quân qua sông. Sợ bị cắn vào lưng một phát, đau tận mạng nên Đặng Tiểu Bình phải trấn an Liên Xô, tuyên bố vậy.”

            “Ông già ham vui” nói:

            – “Đ. mẹ nó. Cho tụi nó đánh nhau loạn xạ ngầu cho vui!”

            Tôi cười:

“Ghét Cộng Sản Hà Nội thì mình nói vậy chớ đụng thằng Tàu là mệt lắm. Tình hình bây giờ cũng giống như đời Hồ Quí Ly, bị quân Minh đánh. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” là chết cả đám. Bọn mình cũng tiêu luôn. Staline đày bọn phản động qua Tây Bá Lợi Á. Bọn Hà Nội đày bọn mình ra Việt Bắc. Tàu mà chiếm cả nước thì bọn mình bị đày qua tận sa mạc Tân Cương. Hồ Quí Ly, Hồ Hán Thương, vua quan đời Hậu Trần đều “bỏ mạng sa tràng” bên Tầu.”

Trắc nói:

            – “Ông” nầy hồi trước dạy sử nên lúc nào cũng ví von. Anh kể đầu đuôi cho anh Tâm nghe đi.”

            Anh Lã Trung Tâm, dân Saigon, từ nhỏ học trường Tây, học sử Tây thì nhiều mà ít học sử ta thì ít nên Trắc mới nhắc tôi như vậy.

Tôi kể:

            – “Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần. Tôi không nhớ rõ năm, khoảng 1406 hay 1407 gì đó. Bọn nhà Minh đem quân qua đánh, mượn tiếng “phù Trần, diệt Hồ”. Người mình ghét họ Hồ, tin bọn Tàu nên không tích cực với việc cùng với nhà Hồ chống Trương Phụ, mặc dù cha con Hồ Quý Ly là những người tài giỏi. Hồ Quý Ly là người đầu tiên cho in tiền giấy, Hồ Nguyên Trừng, con trai trưởng là người tìm ra nhiều cách đánh Tầu rất hay, lại là người chế ra súng thần công. Sau nầy, khi qua Tầu, nhờ có tài nên ông nầy đuợc Tầu cho làm quan to.

            -“Vậy tại sao thua Tầu?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

            -“Hồ Quý Ly gốc là người nước Ngu bên Tầu, nên ông đổi tên nước ta là “Đại Ngu”. Ngu dữ lắm – tôi và Trắc cũng như anh Lã Trung Tâm đều cười – Bởi lòng người còn nhớ là Trần – Nhà Trần cai trị nước ta đã hai trăm năm, ba lần đánh bại bọn Mông Cổ, công lớn lắm, nên dân chúng không theo Hồ Quý Ly. Lòng dân không theo thì đánh chác cái chi?!” Tôi nói.

“Đến khi Hồ Quí Ly thua rồi thì bọn Tàu giả nói tìm không ra con cháu nhà Trần nên chúng phải đặt quan cai trị. Lúc đó, dân mình có làm “Văn Vĩ chạy xe ôm” (1) thì cũng trễ rồi. May mà có Lê Lợi.” Tôi kể tiếp.

            – “Nếu bọn Tầu đánh tới, thế nào Việt Cộng cũng có biện pháp đối với anh em mình.” Anh Lã Trung Tâm phỏng đoán.

            Trắc góp ý:

            – “Bọn chúng đề phòng mình chứ!”

            – “Trắc nói đúng đấy! Chúng nó sợ mình nhiều thứ: trốn trại, đấu tranh, biểu tình, phản đối không đi lao động, nổi loạn, vân vân…” Tôi nói.

            – “Làm được chi!” Anh Lã Trung Tâm nói. “Mình thiếu đủ thứ: thiếu đoàn kết, thiếu lãnh đạo, thiếu kế hoạch…”

            – “Tù là quần chúng. Ai sẽ “người lãnh đạo”, “chỉ huy” để đấu tranh? Phải có cán bộ chứ! Vấn đề cán bộ là quan trọng. Thiếu cán bộ không làm được việc. Tâm lý bọn tù chúng mình phức tạp lắm. Làm thì không làm, sợ, nhưng ai làm thì phê phán, chê trách, mai mỉa nên không làm được gì!” Trắc nói, vẻ chán nản.

            – “Tui có đọc mấy tài liệu Cộng Sản phê phán giai cấp tiểu tư sản. Chúng nó nhận xét về chúng ta không sai.” Tôi nói.

            – “Phê phán như thế nào?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

            – “Háo danh, tranh giành địa vị, ngại khó, ngại khổ, hoạt đầu, vân vân…” Tôi nói.

            – “Mày thấy tụi nó nói đúng không?” Lã Trung Tâm hỏi tôi.

            – “Đúng chớ! Nhưng nó chỉ nhìn mặt xấu, không nhìn mặt tốt. Thành ra cách nói của chúng có ác ý, xuyên tạc, thiếu sót.” Tôi trả lời.

            Trắc nói:

            – “Tui thấy giai cấp tiểu tư sản có nhiều cái hay lắm: Tinh thần trách nhiệm, hy sinh, vị tha, có tài lãnh đạo. Không có họ, những cuộc cách mạng không có người lãnh đạo.”

            Tôi góp ý:

            – “Trắc nói đúng đấy. Giai cấp tư sản, tiểu tư sản mới có đủ trình độ để ý thức về quyền lợi giai cấp, ý thức về bị bóc lột, bị cai trị, bị nô lệ. “Vô sản” cũng là “vô học”. Không có học làm sao ý thức, nhận biết về quyền lợi, về độc lập mà đấu tranh? Tất cả các cuộc cách mạng gọi là vô sản ở Nga, ở Đông Âu, ở Tầu, cả ở nước ta… đều do giai cấp tiểu tử sản lãnh đạo cả.”

            – “Vậy tụi vô sản làm cái chi?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.

            – “Theo đuôi! Trí thức, tư sản, tiểu tư sản “giác ngộ” cho giai cấp vô sản và chúng theo đuôi, chịu sự lãnh đạo.” Tôi nói.

            – “Mày nói sai!” Anh Lã Trung Tâm nói. “Tụi lãnh đạo ngoài bắc bây giờ là vô sản cả.”

            – “Cái hay của Cộng Sản là ở chỗ đó.” Tôi nói. “Năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, cấp lãnh đạo, chỉ huy của Việt Minh đều là tiểu tư sản cả. Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng…, có thằng nào là vô sản, “tam đại bần nông, tứ đại khố rách” đâu! Tuy nhiên, trong thời gian chống Pháp, Việt Minh đào tạo một lớp cán bộ mới, xuất thân từ vô sản. Có cán bộ mới, Cộng Sản dần dần loại bỏ thành phần tiểu tư sản, trung nông trong hàng ngũ Việt Minh. “Biên chế”, “Cải cách ruộng đất” là thực hiện chính sách loại trừ đó. Họ không sai lầm trong “Cải cách ruộng đất” đâu. Có bài bản cả.”

Giai cấp vô sản ai cho ăn thì theo!

Khoảng trước hiệp định Genève 1954, ở quê tôi, tôi thấy những người đi lính Commando, Partisan… cho Tây, phần đông là những người vô sản, sinh trưởng ở thôn quê, ít học… và cũng không phải là người theo đạo Thiên Chúa. Không ít người theo đạo Thiên Chúa đi lính Tây vì muốn chống Việt Minh. Vậy thì họ đi lính Tây để làm gì? Lý do tôn giáo? Ý thức giai cấp? Bị Việt Minh đàn áp? Không! Chỉ vì một lý do đơn giản: Tiền. Có tiền để ăn chơi, đĩ điếm, cờ bạc. Vậy thôi! Nhìn vào trường hợp họ, người ta có thể thấy lý thuyết Cộng Sản sai!

Anh Lã Trung Tâm hỏi tôi:

-“Có chắc Tầu đánh không?”

-“Chắc chớ!” Tôi nói. “Chiều hôm qua, tôi đọc một bài báo ở tờ “Saigon Giải Phóng” dán ngoài hội trường. Bài báo trích lại lời của bình luận từ một tờ báo Tầu Cộng: “Nhân dân Trung Quốc, không ngại hy sinh, không ngại khó nhọc, nhịn ăn, nhịn mặc, để giúp đỡ cho Việt Nam…” Nói như thế thì còn gì để nói nữa!”

-“Nghĩa là đánh?” Trắc hỏi.

-“Nói như thế là để “biện minh” cho viêc sắp làm chớ gì!” anh Lã Trung Tâm góp ý.

-“Anh nói đúng đấy! Biện minh cho việc sắp đánh bọn Hà Nội!” Tôi nói. “Tôi không hiểu tại sao tờ “Saigon Giải Phóng” lại trích đăng câu nói nầy, chỉ có lợi cho Tầu!” Tôi lại tiếp lời.

&

            Câu chuyện Trung Cộng sắp đánh làm cho nhiều anh em thấy vui, hớn hở. Có anh em nói: “Đánh thấy mẹ nó đi!”

            Một chủ nhật, trước ngày Bắc Kinh đem quân đánh Cộng Sản Hà Nội hôm 17 tháng 2 năm 1979, bọn chúng tôi bị gọi lên hội trường trại B để nghe trung tá Việt Cộng Trịnh Văn Thích, trại trưởng Z-30A nói về việc “Trung Quốc đang chuẩn bị đánh ta” – câu của Thích – Theo y nói, là y vừa đi Hà Nội về, gặp các “anh lãnh đạo ở Hà Nội” nói như thế. Không phải Thích “nổ” đâu. Khoảng các năm 1945-46, Trịnh Văn Thích là cận vệ của Hồ Chí Minh. Nhờ đó, y quen biết một số “to đầu” ở Hà Nội bây giờ. Ông ta cũng có 25 năm làm “tù trưởng” – Tiếng chúng tôi gọi đùa, ám chỉ người nào đứng đầu trại tù.

            Nói ba hoa, lung tung một lúc, đại ý là “Trung quốc muốn đánh Việt Nam” (Cộng Sản) nhưng còn “sợ ông Liên Xô nên chưa dám”. Trịnh Văn Thích phê phán việc thay đổi lập trường của Trung Cộng là theo Mỹ, “bám đuôi Mỹ”, phản bội chủ nghĩa Cộng Sản, v.v… Xong, Trịnh văn Thích “chứng minh” sự thay đổi đó bằng bốn câu thơ của Tố Hữu.

Tố Hữu đi Mascơva, trên đường về, ghé Bắc Kinh. Trước thái độ tiếp đón lạnh nhạt của Tầu Cộng, Tố Hữu làm bài thơ, trong đó có mấy câu. Trịnh Văn Thích chỉ đọc mấy câu thơ nầy, hay y chỉ nhớ có chừng đó?

            “Tình bạn ngày nay đã khác xưa,

            Rằng e sớm nắng lại chiều mưa

            Chợ trời thật giả đâu chân lý

            Hàng hóa lương tâm vẫn thiếu thừa…”

            Trong một phút nào đó ở cuối buổi “lên lớp”, Thích bỗng nổi đóa, gọi Trung Cộng là “Ba Tầu”, “Ba Chệt”… làm ai nấy đều cười.

            Kết quả buổi “lên lớp” đó là những ngày sau, mỗi chiều, đi lao động về, sau khi “cán bộ trực trại” kiểm tra nhân số và soát xét chúng tôi xem thử có trộm cắp bắp trái gì ở ngoài bãi lao động xong thì chúng tôi vào cổng. Qua khỏi cổng, Công An không còn nghe rõ, chúng tôi hè nhau la to, vui vẻ: “Tới rồi! Tới rồi!” Có người đùa “Tới rồi bác tài ơi”. Có người la rõ hơn: “Tới rồi bộ chính trị ơi!” hoặc “Tới rồi Dziệt Cộng ơi!” Tới rồi có nghĩa là Trung Cộng đánh tới rồi.

&

Cũng trong thời gian đó, một hôm đội chúng tôi được chọn ra 5 người, xuống cát từ trên một chiếc xe Molotova đổ xuống sân, gần nơi một ngôi nhà đang xây. Quản giáo Tuyên nói: “Làm xong, các anh được về.” Có nghĩa là chúng tôi sẽ được về sớm nên làm cũng chăm.”

Người canh giữ chúng tôi là quản giáo Tuyên. Anh nầy là tay khá côn đồ, nóng tính. Khi còn làm quản giáo đội của tôi, có lần anh em chúng tôi phản ứng lệnh của y, y rút súng đòi bắn. Chúng tôi khiếu nại với trại. Sau đó, y chuyển qua làm cán bộ trực trại. Hôm ấy, vì vợ y mới từ ngoài bắc vào thăm, y được giao một công việc nhẹ hơn là canh chừng 5 người chúng tôi xuống cát khỏi xe Molotova. Y cứ ở trong buồng với vợ, lâu lâu chạy ra xem chừng chúng tôi xong, lại chui vào phòng. Nhờ thế, chúng tôi vừa làm vừa chơi, chẳng có ai theo dõi, “khiển trách khiển nồi” gì cả.

            Toán chúng tôi gồm Nguyễn Ngọc, Trần Nguyên Bình, Đào Sơn Bá, Lê Quang Dung (đội phó) và tôi chơi thân với nhau, hay chuyện trò, hay đùa giỡn. Nhân cái vui đó, thấy Tuyên vừa đưa vợ ra khỏi phòng đi đâu đó, tôi nói đùa với Bình, theo cách làm một câu thơ mới:

            “Em từ sơ tán chạy vào đây…”

            Vừa xong câu đó thì mấy anh em đang xúc cát cười nói: “Tới đi bác tài, tới đi…” có nghĩa là làm cho xong bài thơ. Ngọc cũng đùa: “Tới đi!” Nghe Ngọc xúi, thấy vui, tôi đọc tiếp, đọc bừa, nghe cho xuôi tai thì thôi vì vốn dĩ, tôi không biết làm thơ:

                        “Nói nhỏ anh nghe một chuyện nầy:

                        Trung Quốc xem chừng đánh dữ lắm.

                        Đảng ta chắc chắn sẽ tan ngay.

                        Dân Nam rất căm thù Việt Cộng,

                        Nhắc anh sớm liệu mà xa bay!”

            Nghe xong, mấy anh bạn cùng ngừng xúc cát, cười ha hả. Có người nhắc lại câu 2, câu 3. Bình nói đùa với tôi:

– “Trước giờ, anh đặt thơ chống Cộng biết bao nhiêu lần. Tui là Việt Cộng, tui đánh giá anh là tên đại phản động, đem bắn là vừa.”

            Tôi cũng cười:

            – “Bậy nà. Mầy nói to, tụi nó nghe là chết tao!”

            Chuyện “Trung Quốc sắp sửa đánh ta” xem ra là đề tài mỗi ngày.

            Chủ nhật kế đó, chúng tôi được ở nhà “vui chơi, tắm giặt, nghe đài” (câu cán bộ thường nói với chúng tôi). Anh Lã Trung Tâm gọi Trắc ra hội trường ngồi chơi, lại gọi tôi ra theo. Hôm ấy, có thêm Nguyễn Ngọc, chúng tôi gọi đùa là “Ngọc thiến” vì trước kia, anh ngừa thai bằng cách cắt ống dẫn tinh.

Vừa chúm chụm lại uống trà, anh Lã Trung Tâm lại hỏi tôi:

            – “Mày nghĩ Trung Cộng có đánh không?”

            – “Đánh chớ sao không?” Tôi nói. “Để tui lấy cái nầy mấy ông coi.”

            Nói xong, tôi đi tới tấm bảng thông tin. Ở đó có dán bài báo của tờ Saigon Giải như tôi nói ở trên. Tôi lén gỡ bài báo đó, đem lại cho anh em đọc.

            Lã Trung Tâm nói:

            – “Kể công thì nhằm nhò gì?”

            Trắc giải thích:

            – “Không phải như dzầy đâu. Ý nó muốn kể công, la làng, để hễ nó có đánh thì thiên hạ người ta cho rằng nó phải, không trách cứ gì nó. Đánh là vì Dziệt Cộng nó phản phúc. Nói năng cách nầy bình dân dễ hiểu quá! Nó đã kể lễ như vậy là nó sẽ đánh đó.”

            – “Hà Nội có dám đánh lại không?” Nguyễn Ngọc hỏi.

            – “Đánh chớ sao không? Đánh nhưng cầu hòa.” Tôi nói.

            – “Cầu hòa là sao?” Lã Trung Tâm hỏi, tỏ ý không tin.

            Trắc nói:

            – “Tui nghĩ anh Hải nói phải. Không thể không đánh lại nhưng lo cầu hòa. Cầu hòa là vì tình thế nước lớn, nước nhỏ, chớ chưa chắc vì sợ. Có Liên-Xô mà!”

– “Trắc nói đúng!” Tôi góp ý. “Chẳng hạn như khi “Lê Lợi đại thắng quân Minh” rồi, cũng phải cho người sang Tầu cầu hòa, ba năm đi sứ một lần, mỗi lần sang sứ Tầu, phải làm hai người bằng vàng, gọi là “đại thân kim nhân” đem cống, coi như thế mạng Liễu Thăng, Vương Minh.”

            – “Vương Minh là phó tướng của Liễu Thăng. Đúng không?” Ngọc hỏi.

            Lã Trung Tâm lại hỏi:

            – “Triều cống là chịu nó cai trị?”

            – “Không phải.” Tôi nói. “Triều cống chỉ là một phương cách ngoại giao hồi xưa. Nước nó, nó cai trị dân nó. Nước mình, mình cai trị dân mình. Còn như bị đô hộ là nó cai trị mình hoặc mình cai trị dân mình theo lệnh của nó. Nếu mình có tự chủ, nó ra lệnh, mình không nghe thì làm gì được nhau? Hễ đánh mình thì mình đánh lại. Có khi nó chưa đánh mình thì mình ra tay trước, như Lý Thường Kiệt đem quân đánh châu Ung, châu Khiêm thời nhà Lý vậy. Trên thực tế, nó là nước lớn, mình là nước nhỏ, nên thay vì nó triều cống mình, mình phải triều cống nó, để khỏi bị nó ỷ thế nước lớn, nay dọa nạt, mai hăm he, mình phải lo canh giữ biên giới chặt chẽ, hao tốn, khó khăn, gian khổ lắm. Theo tôi nghĩ, để tránh đụng chạm, chung quanh nước lớn, thường có những vùng gọi là “quốc gia đệm”, như trong hội nghị Yalta chẳng hạn.”

            Anh Lã Trung Tâm biểu tôi:

            “Mày kể lại hội nghị đó nghe đi. Tao cũng có học nhưng quên gần hết.”

            – “Tui khoái đọc lịch sử, lại dạy môn sử ký, không đọc không được, không nhớ không được. Nhưng tui đi lính từ Mậu Thân, quên đi nhiều, nhớ đại khái thôi.”

Ngọc nói:

            – “Nói mấy cái đại khái anh nhớ đi.”

            – “Hồi đó tui có đọc cuốn “Yalta, ou la partage du monde” (2) và mấy bài báo của Từ Trì trên Bách Khoa (3). Lúc đó, biết chắc phe Trục sắp đầu hàng, các nước lớn họp nhau lại, bàn chuyện “hậu chiến”. Có 5 nước lớn là Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Tầu, nhưng hội nghị nầy không có Pháp với Tầu, Mỹ Nga chơi đểu, lén gặp tay đôi bàn chuyện chia nhau thế giới.” Tôi kể lại.

            – “Chia như thế nào?” Ngọc hỏi.

            – “Chia như chia bánh ga-tô vậy. Miếng nầy là Đông Âu, gần Nga, “rừng nào cọp nấy” chia phần cho Nga. Miếng nầy, châu Á, thị trường mênh mông thiên địa, chia cho chú lái buôn áo đuôi tôm, mũ sọc dưa.” Tôi vừa giải thích, vừa đùa.

            – “Vậy Việt Nam, hồi đó ông Hồ Chí Minh có kêu gọi tổng thống Mỹ?” Lã Trung Tâm hỏi.

            – “Hồ Chí Minh là anh điếm, mà điếm làng, chỉ ăn trên đầu mấy anh quốc gia của mình thôi. Còn như OSS, (4) CIA, chúng nó biết tỏng Hồ Chí Minh là cán bộ Cộng Sản Quốc tế. Giúp Hồ Chí Minh rồi để Liên Xô hưởng sao? “Cầm cặ… chó đái” sao? Anh điếm làng Hồ Chí Minh qua mặt quốc tế sao được! Thật ra vì Roosevelt chết sớm, dân mình cũng xui.” Tôi nói.

            – “Roosevelt làm gì?” Lã Trung Tâm lại hỏi tôi.

– “Trước khi chết, Roosevelt đã có chính sách “Ủy trị cho Đông Dương” (5). Nhưng khi ông ta chết thì chính sách nầy cũng chết theo. Tụi Cộng Sản Nga mạnh lên, gây ra chiến tranh lạnh. Tổng thống Truman chơi không lại, bèn kéo Pháp về phe Mỹ, cùng chống Cộng. Vậy là Mỹ viện trợ cho Pháp trở lại Đông Dương thay vì ngăn Pháp trở lại như “ủy trị” của Roosevelt. Người ta nói, về Đông Dương, chính sách Mỹ mâu thuẫn là vì lẽ đó.” Tôi giải thích.

            – “Mày vẽ bùa mà đeo chớ đọc đâu ra ba cái chuyện trên trời dưới đất nầy?” Lã Trung Tâm hỏi, vẻ không thoải mái.

            Vốn rất mến ông “Nam bộ tánh nóng Ba Cụt Năm Lửa” nầy, tôi không tự ái, mà còn dẫn chứng thêm:

– “Tui nói thiệt anh, chứng chỉ sử ở đại học chẳng nói chi ba cái chuyện nầy cả, nhưng nếu anh muốn, khi nào về, anh có thể đọc cuốn “Sự quan trọng Đông Dương trước mặt Đông Nam Á” của ông cha Nguyễn Phương thì sẽ thấy phần nào điều tôi nói ở trong sách đó. Anh giỏi Pháp văn, chán chi tài liệu, anh đọc loại Livre de poche. Loại nầy tui có đọc mấy cuốn về Napoleon, về Nato, Seato, về chiến tranh thế giới thứ hai. Tui chưa đọc cuốn nào nói về Đông Dương hồi đó. Anh có thể đọc cuốn Street Without Joy của Bernard Falls (6), tìm trong mấy cuốn của ông nầy, nhiều cái hay lắm!”

Trắc trấn an anh Tâm:

– “Ông” nầy đọc nhiều và chả nhớ dữ lắm, chắc không sai đâu!”

– “Tui kể anh nghe một chuyện nầy anh không ngờ.” Tôi nói tiếp. “Ông bà mình từ xưa thường hay kích thích cái tinh thần nhỏ mà thắng lớn, óc nhỏ mà khôn hơn thằng to đầu, yếu mà thắng mạnh. Cái nầy thấy rõ lắm.”

– “Mày đưa ra ví dụ đi, nói mơ hồ hoài.” Anh Lã Trung Tâm cằn nhằn tôi.

– “Như tục ngữ có câu “To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn” chẳng hạn. “Thằng Tầu to đầu” chắc gì khôn hơn “thằng nhỏ dái Việt Nam”. Trong văn chương Việt Nam có nhiều chuyện như vầy, vui lắm.”

– “Chưa tới giờ ăn đâu, anh Hải kể vài chuyện nghe chơi là vừa.” Ngọc đề nghị.

– “Trong lịch sử”, Tôi nói: “ai cũng biết việc Lý Thường Kiệt đánh Tầu, ca dao nói là “Nực cười châu chấu đá xe, tưởng là chấu ngã, ai dè xe nghiêng”. Chuyện mấy ông trạng Tầu và trạng ta đấu trí là vui nhất.”

Bây giờ anh Tâm thấy vui, nói đùa:

– “Tiếp đi bác tài.”

– “Ông trạng Mạc Đỉnh Chi đi sứ bên Tầu, đang giữa tiệc, ông thấy một bức tranh thêu có hình con chim sẻ đậu trên cành trúc. Tưởng là chim thật, ông bước tới đưa tay bắt. Ai nấy đều cuời. Ông lanh trí chụp bức tranh xé mất, rồi tâu với vua Tầu: “Chim sẻ tượng trưng cho tiểu nhân, cây trúc là quân tử. Tiểu nhân ở trên quân tử sao được nên thần phải xé đi.” Thấy ông ta thông minh quá, vua Tầu cũng phong cho ông làm trạng nguyên nước Tầu nên sử gọi là “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Một chuyện nữa nghe! Chuyện nầy ông Doãn Quốc Sĩ chép lại trong cuốn “Trạng Đi Sứ” của ông. Trạng mấy nước gặp nhau bên Tầu. Vua Tầu cho dựng một cái chòi cao, trên có cắm lọng, treo cờ. Khi các sứ lên hết trên chòi, vua Tầu bèn ra lệnh cất cái thang, ai muốn xuống cách nào thì xuống. Các sứ Triều Tiên, Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ loay hoay chưa tìm ra cách xuống thì trạng Việt Nam đã gỡ lọng ôm mà nhảy xuống, như người ta nhảy dù. Bọn Tầu phục lăn, sứ An nam thông minh, lanh lợi.”

– “Binh chủng Dù nên chọn ông nầy làm thánh tổ chớ sao chọn ông Michae. Ai biết ông Michae là ông nào đâu!” Trắc góp ý.

– “Tao cũng không rõ, hình như đâu trong thần thoại Hy Lạp.” Lã Trung Tâm nói.

– “Còn chuyện chi nữa không?” Ngọc nôn nóng hỏi, có lẽ anh ta sợ sắp tới giờ phát cơm. Hôm nay, chủ nhựt, tuần một lần, mỗi người được lưng chén cơm.

– “Còn nhiều lắm” Tôi nói, “Sứ Tầu sang ta, đi thuyền qua sông, y địt một cái bủm, còn ngạo mạn nói “Sấm động Nam vang.” Trạng An Nam bèn lên đứng ở mũi ghe, bắt cặc đái xuống sông, đối lại ngay “Vũ quá Bắc hải.”

– “Anh nhớ chuyện chọi trâu không?” Trắc nói. “Trạng mình dẫn ra con nghé, giam đói đã mấy hôm, nhè dái trâu, tưởng là cái vú trâu Tầu mà đớp. Trâu Tầu nhột quá, bỏ chạy mất!”

– “Mục đích tổ tiên mình là muốn dạy con cháu, đừng thấy thằng Tầu nước lớn, dân đông mà sợ. Cứ đoàn kết mà đánh nhầu vào. Từ khi thoát khỏi Bắc thuộc tới giờ, cả ngàn năm, thằng Tầu đánh ta mấy lần, có bao giờ ta thua đâu. Mắc chi mà sợ. Ấy đấy, những chuyện vui ấy vừa văn học vừa là luân lý đấy, đừng sợ kẻ mạnh. Quan trọng là phải đoàn kết. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” như đời Hồ Quí Ly là bị Tầu đô hộ ngay.” Tôi nói.

Trắc nói với tôi:

– “Anh lặp lại câu Lỗ Tấn nói cho anh Tâm nghe đi.”

Tôi nói ngay: “Lỗ Tấn là đại văn hào của Tầu, nhận xét về người Tầu của ông, ông ta nói: “Tàn bạo như sư tử, xảo quyệt như hồ ly, nhát gan như thỏ đế.” Tui chỉ sợ đạo quân thứ 5 thôi.

– “Đúng đấy!” Trắc nói. “Người Tầu ở xứ mình khá đông, như trong Chợ Lớn chẳng hạn. Nếu họ dựng cờ theo Tầu thì mình mệt.”

Tôi nói:

– “Đất lành chim đậu. Người Tầu trung thành với nơi cho họ no ấm. Người Tầu Singapor, người Tầu Đài Loan không bao giờ muốn lệ thuộc mẫu quốc của họ. Người Tầu ở Việt Nam cũng vậy, họ trung thành với đất nước nầy. Nhà Trần, nhà Hồ, nhà Lý gốc từ bên Tầu qua Việt Nam có mấy đời mà có theo Tầu đâu. Tầu Mạc Cửu có đem đất Hà Tiên mà dâng cho Bắc Kinh đâu. Cả đám quan to nhà Nguyễn như Lý Văn Phức, Ngụy Khắc Đản, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản đều Minh Hương, gốc Tầu cả, có ai không trung thành với nước Việt Nam?”

Rồi tôi quay qua chỉ anh Lã Trung Tâm nói: “Còn cái ông họ Lã nầy, cháu ông Lã Bố đời Tam Quốc. Ông Lã nầy cũng lo “hí Điêu Thuyền Việt Nam”, có chịu theo Tầu đâu!”

Lã Trung Tâm đỏ mặt, cũng nói đùa:

– “Mày họ Hoàng, cũng gốc Tầu như tao, bày đặt láu cá! Mày là cháu của Hoàng Cái đấy.”

Thế rồi kẻng nhà bếp đánh lên mấy tiếng, chúng tôi giải tán về nhận phần cơm trưa, sau một buổi sáng bàn chuyện “chính chị chính em”.

Việc Trung Cộng đánh có hậu quả lâu dài. Có thể thấy rõ điều đó trong một số hoạt động của anh em tù như tìm cách gởi thư cho phái đoàn Liên Hợp Quốc, tết đón Mẹ Việt Nam, văn nghệ “tự biên tự diễn” và trốn trại dài dài…

Sau khi Trung Cộng đánh ở biên giới, một hôm đang phá rừng thì nghe mấy loạt súng nổ dồn dập. Quản giáo Chinh và công an bảo vệ đề phòng, biểu chúng tôi tập họp ở bìa rừng, chờ. Chiều hôm đó bỗng nghe tin một anh nào đó ở Trại A đang lao động cách chỗ chúng tôi không xa lắm, đang cuốc đất thì tiện tay cuốc vào đầu quản giáo đang đứng cạnh một phát. Nhờ cái nón cối nên tên Công an không bị thương nặng. Anh tù cải tạo bỏ chạy. Công An đuổi theo bắn mấy loạt súng, anh ta gục tại chỗ.

            Cũng một thời gian ngắn sau, lại có một ông nguyên xuất thân Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Anh ta bàn bạc cùng một người trong đội là người Thượng. Đang lao động, hai người trốn đi lúc nào Công An không hay. Đến khi thấy hai bóng người xa xa, đang đi vào rừng, Công An mới biết tù trốn. Chúng đuổi theo nhưng không sao đuổi kịp. Không rõ ông Quốc Gia Hành Chánh được anh người Thượng dạy cho cách đi rừng như thế nào mà cả hai người đi như bay, Công An rán hết sức chạy theo nhưng rồi cuối cùng cũng phải đứng ngó, bắn theo thì đạn chẳng tới. Anh em chúng tôi bỏ cuốc đứng nhìn cảnh tượng đó mà cười sung sướng, mừng cho người thoát vòng tù tội.

Chưa được mấy chốc thì Công an nạt nộ biểu tập trung ra về. Đội trưởng Trương Đình Gòn nói đùa: “Anh em “bài cào” tập trung về đi!” Công An thì không biết gì, nhưng anh em chúng tôi thì cười vì câu đùa của Gòn: “Thua me gỡ bài cào” Thua hai người trốn trại, Công An bèn có thái độ hung dữ với chúng tôi, đúng như câu tục ngữ đã nói.

hoànglonghải

(1)-“Văn Vĩ chạy xe ôm là câu nói đùa của dân Saigon sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Dưới chế độ mới, không còn ai mơ hồ gì với Cộng Sản cả. Ai cũng “sáng mắt ra”, đến nỗi như nhạc sĩ vĩ cầm cổ nhạc như Văn Vĩ bị mù cũng “chạy xe ôm”, có nghĩa là Văn Vĩ cũng sáng mắt vì Cộng Sản, vì nếu không “sáng mắt ra”, làm sao ông có thể “chạy xe ôm” được?!

 (2)-“Yalta ou la partage du monde” tác giả là Arthur Conte.  Hội nghị xảy ra hồi đầu tháng 2 năm 1945, tại Yalta, một thành phố nghỉ mát của Liên Xô ở Hắc Hải. Hai nước, sau nầy là hội viên Hội Đồng Thường Trực Bảo An không có mặt là Pháp và Tầu. Staline chơi điếm. Lợi dụng lúc nầy Roosevelt đau yếu nặng (ba tháng sau thì qua đời), nên ông ta và Roosevelt thường họp mật, riêng rẻ mà không cho Churchill biết, chia chác nhau thế giới. Theo Từ Trì trên Bách Khoa thì Staline chọn 3 lâu đài cho ba lãnh tụ ở. Lâu đài Staline và Roosevelt ở gần nhau, lâu đài Churchill ở nằm riêng ra, thành ra khi hai tay đầu sỏ Nga Mỹ lén lút gặp nhau, phái đoàn Churchill không biết được. Roosevelt giao vùng Đông Âu cho Liên Xô. Ngược lại, Liên xô không can thiệp những hoạt động của Mỹ ở châu Á. Vì thái độ nầy của Mỹ, ông Churchill có tuyên bố, sau nầy, nếu có đến Nữu Ước, không bao giờ ông nhìn vào tượng Nữ Thần Tự Do ở cảng nầy.

(3) Bán nguyệt san nổi tiếng ở miền Nam trước 1975, số đầu tiên xuất bản khoảng 1956, hình như đến 30 tháng tư- 1975 mới ngừng xuất bản. Ban đầu do ông Huỳnh Văn Lang chủ trương, Khoảng năm Mậu thân, ông Lang giao lại cho ông Lê Ngộ Châu.

(4) Office of Strategic Services (OSS) Cơ quan tình báo Mỹ trong Thế giới Chiến tranh thứ Hai, có hoạt động ở Việt Bắc và giúp đỡ cho Việt Minh, tiền thân của Xịa.

(5) Chính sách Ủy trị (trusteeship) là chính sách của tổng thống Mỹ Roosevelt về Đông Dương. Theo chính sách nầy, sau khi chiến tranh Thế giới thú 2 chấm dứt, Pháp không được trở lại Đông Dương. Các nước Đông Dương sẽ được cai trị bằng một Hội Đồng Ủy Trị gồm có đại diện 3 nước Đông Dương, Phi Luật Tân, Thái Lan, Trung Hoa và Mỹ. Dĩ nhiên, Mỹ là chủ tịch hội đồng nầy. Theo chủ trương nầy, sau thời gian 5 năm các nước Đông Dương sẽ được độc lập.

(6) Bernard Falls: sinh năm 1926, chết năm 1967 ở Việt Nam, gần cầu Phò trạch, Thừa Thiên, nơi ông ta đặt tên là “Con đường buồn thiu” (Street without joy). Ông sinh ở Áo, theo gia đình qua Pháp sinh sống từ khi còn thơ ấu. Khi Đức Quốc xã cai trị Pháp, ông theo phong trào kháng chiến chống Đức.

Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, ông qua học ở Mỹ, tốt nghiệp đại học và làm giáo sư ở viện đại học Howard.

Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), ông qua Đông Dương làm phóng viên chiến trường, từng gặp và phỏng vấn các nhân vật lãnh đạo Pháp ở Đông Dương, Quốc gia Việt Nam và Phạm Văn Đồng, thủ tướng chính phủ Việt Minh.

Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1965-75), ông lại qua Đông Dương làm phóng viên một lần nữa, và tử nạn khi ông đi theo một đoàn quân Mỹ từ Phú Bài ra giới tuyến. Ông chết ngay trên chiếc xe GMC khi xe bị mìn. Cái máy tape recorder ông mang ở ngực vẫn còn chạy nên ghi cả tiếng mìn nổ ấy. Vợ ông, bà Dorothy Falls, đang mang bầu, từ Mỹ mang cái bụng bầu sang Việt Nam đón xác chồng về.

Câu hát của Trịnh Công Sơn “Một chiếc xe tang, trái mìn nổ chậm, người chết hai lần chính là địa điểm xe của Bernard Falls bị mìn.

Ông nổi tiếng là một nhà báo, một sử gia giỏi, và là một “chuyên viên” về Đông Dương, có ảnh hưởng lớn đến các nhà chiến lược Mỹ, hoạch định chính sách Hoa Kỳ cho Đông Dương.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

6 Trackbacks / Pingbacks

  1. hoànglonghải – Vết Nám (Bài 18) “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” | CHÂU XUÂN NGUYỄN
  2. hoànglonghải – Vết Nám (Bài 18) “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” | Vượt Tường Lửa
  3. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” – biển xưa
  4. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” – Bến xưa
  5. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” – dòng sông cũ
  6. “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở” – Bến cũ

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: