Dấu hiệu ác quỷ 3. Dấu hiệu quỷ của bố vợ 2 Võ Nguyên Giáp – “Giáo sư Đặng Thái Mai” cũng có “bố vợ” chết 1946, và thường bị nhầm tên.

Lời dẫn: Khi Võ Nguyên Giáp đã là giả – tàn sát “Nhà Mình” và nhà “Vợ cả” khi lấy vợ 2 cũng không thể giám lấy một nhà tử tế, mà phải lấy vợ ở một nhà cũng là … quỷ dữ.         I. Bằng chứng và phân tích.

  1. Đặng Thái Mai không nhớ tên mình, tên ông nội, và vai trong họ của bà Quỳnh Anh là cô ruột hay chị họ! Hay chuyện quỷ thường bị gọi nhầm tên:

1.1 Đặng Thái Mai không nhớ tên mình

“Đặng Thai Mai (19021984), còn được biết đến dưới tên gọi Đặng Thái Mai ” (vi.wikipedia.org) (Văn bản 1).

Nhận xét: Tên mình mà còn không rõ!

Chắc chắn chỉ có một tên là đúng! Vì sao lại hay nhầm như vậy?  Đây có phải là một chuyện nhầm tên đơn thuần?

Không, sự thực là những kẻ có dấu hiệu giả danh thì thường hay nhầm những tên khó.

Nếu là nhầm tên đơn thuần, thì chỉ là do người này gọi chệch, người kia gọi chệch mà thôi, nhưng ở đây là nhầm cả ở những văn bản quan trọng của nhà nước như , hay đặt tên Đường phố… kiểu như: Kha Vạng Cân hay Kha Vạn Cân, Võ Tấn Đức hay Võ Tuấn Đức, Ung Văn Khiêm hay Ưng Văn Khiêm, Hạ Há Cang hay Hà Bá Cang…

Tại sao lại có chuyện này?

Sự thật là: Bọn chúng không phải là người có cái tên đó! (Có nhiều dấu hiệu nữa) Nên khi nhận tên đó về mình thì rất cói thể đã bị nhận một cái tên nhầm! Nên ở những văn bản lại viết tên thật nên không cãi lại được, hoặc là tự chúng cũng không chắc tên nào là thật, nên không tự tin mà phản bác các tên gọi chệch! (Xem thêm quyển 9 – Bài các chỉ dấu của quỷ)

1.2 Đặng Thái Mai không nhớ tên ông nội.          

Ở bài nói về Đặng Thúc Hứa (Văn bản 2) thì là : “Thân phụ là Đặng Thai Hài”!

Ở bài nói về Đặng Nguyên Cẩn (Bố Đặng Thai Mai) (Văn bản 4) thì là: “Cha của ông là Đặng Thai Giai (hay Thai Cảnh)” (Văn bản 2). 

 Ở bài: “LỊCH SỬ – VĂN HOÁ PHÁI HỆ MẠC ĐĂNG LƯỢNG Ở NGHỆ AN ” thì lại: “Dòng họ Đặng Lương Điền được sử sách biết đến nhiều kể từ khi cụ Đặng Thai Giai còn gọi là Đặng Thai Hài (ông nội của giáo sư Đặng Thai Mai) đậu cử nhân …”. (Văn bản 6).

Nhận xét: Nếu Đặng Thái Mai là Đặng Thai Mai thật thì sẽ không có chuyện nhầm lẫn này xảy ra!

1.3 Đặng Thai Mai không nhớ bà Quỳnh Anh là cô ruột hay chị họ

Ở bài nói về Đặng Thúc Hứa thì là chị em con Chú – Bác với Đặng Thai Mai (Vai cháu của Đặng Thúc Hứa): “Đặng Thúc Hứa có anh trai là Ông Đặng Nguyên Cẩn và em trai là Đặng Quý Hối đều tham gia vào hoạt động cách mạng. một nhà anh em đều nhiệt thành yêu nước, cả các cháu của ông như Đặng Thị Hợp, Đặng Quỳnh Anh cũng đều tích cực hoạt động cách mạng.” (Văn bản 2).

Ở bài: “LỊCH SỬ – VĂN HOÁ PHÁI HỆ MẠC ĐĂNG LƯỢNG Ở NGHỆ AN ” thì lại là Cô Ruột của Đặng Thai Mai (Bằng vai với Đặng Thúc Hứa): “Gia đình cụ Đặng Thai Giai có bốn người con đều tích cực tham gia vào phong trào cách mạng là Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Đặng Quý Hối và Đặng Thị Quỳnh Anh….” (Văn bản 6).

Nhận xét: Nếu Đặng Thái Mai là Đặng Thai Mai thật thì sẽ không có chuyện nhầm lẫn này xảy ra!           

  1. Gia đình Đặng Thai Mai thật bị tàn sát.

Xem từ văn bản 2 – văn bản 9 ta thấy như hầu hết những người trí thức trong gia đình và dòng họ Đặng Thai Mai đã bị chết rất sớm. (Anh em ruột của bố thì: Đặng Thúc Hứa (18701931), Đặng Nguyên Cẩn ( 18661923), Đặng Quý Hối (?? – 1918) “Đặng Thai Giai có bốn người con đều tích cực tham gia vào phong trào cách mạng là Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Đặng Quý Hối và Đặng Thị Quỳnh Anh.” (Văn bản 6)

3 cha con, chú cháu Đặng Từ Kính, Đặng Thái Thân và Đặng Thái Thuyến thì “Đặng Thái Thuyến sinh năm 1900, quê ở làng Hải Côn, tổng Đặng Xá, huyện Nghi Lộc. Ông là người con duy nhất của chí sĩ Đặng Thái Thân…Năm 1908, cuộc vận động Đông Du thất bại. Ngày 11/3/1910, Đặng Thái Thân anh dũng hi sinh……Ngày 12/12/1931, cuộc nổi dậy của các chiến sĩ cách mạng tại ngục Kon Tum bị thất bại, Đặng Thái Thuyến hi sinh sau hai lầm trúng đạn” (Văn bản 8)

Đặng Tử Kính (18751928) là một chí sĩ yêu nước của Việt Nam thời cận đại[1]. Ông cùng với Phan Bội Châu, Nguyễn Thành, Trình Hiền, Lê Võ, Đặng Thái Thân…đều là những hội viên trọng yếu, đảm nhận mọi hoạt động của Duy Tân hội.

Đặng Tử Kính quê quán huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, là bạn đồng chí với Phan Bội Châu[2] đồng thời là chú ruột liệt sĩ Đặng Thái Thân[3][4].” (Văn bản 9)

Nhận xét: Sơ bộ như vậy ta thấy hình như cái dòng họ này đều… Chết sớm! Họ có phải chết vào đúng năm như đã viết hay không? Chết như thế nào thì còn là một bí ẩn! (Lưu ý: Thời điểm chết này là do sử của bọn CSVN giả hiệu viết lên.)

Ta chỉ biết rằng họ đã chết sớm, chết trước khi xuất hiện Đặng Thái Mai giả thì làm sao mà lộ được?

  1. Các bạn của Đặng Thai Mai – bị tàn sát – người sống thì cũng có dấu hiệu là quỷ.

“Đến năm 1935, Đặng Thai Mai cùng với các bạn là Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp… lập ra Trường tư thục Thăng Long. Năm 1936, ông cùng Nguyễn Văn Tố, Vương Kiêm Toàn, Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp… thành lập ra Hội truyền bá chữ Quốc ngữ.” (văn bản 1)

Nhận Xét: Trong những người bạn được nhắc tên ở trên thì: Phan Thanh chết sớm (1939), Tố thì có cái chết bí ẩn vào năm 1947, “Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp” thì “gia đình” đã có rất nhiều người thân bị chết – Dấu hiệu của quỷ (Xem Hoàng Minh Giám – tại quyển 9 – Việt Nam nhận quỷ làm cha)

Chỉ còn Vương Kiêm Toàn thì có rất ít thông tin về ông này, ông này không có tên ở trong “Hội truyền bá chữ Quốc ngữ” mà sau này cứ nói thế, ông ta thấy lợi mà im. (Xem thêm Hội truyền bá chữ Quốc ngữ – Tại quyển 13 – Diệt trí thức Việt)

Các bạn như vậy thì làm sao phát hiện ra Đặng Thai Mai là giả?

  1. “Bố Vợ” Đặng Thái Mai, Trí thức biết nhiều về Nguyễn Sinh Côn chết 1946!

… Sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ kêu gọi giới nhân sĩ ra giúp nước. Nhà văn Sơn Tùng ghi theo lời kể của ông Vũ Đình Huỳnh rằng: “Bác nói: “Lần này lại có việc, uỷ thác đi mời đón một nhà túc nho “Thông Thiên – Địa – Nhân”. Bậc nho sĩ này đồng khoa, đồng đạo với cụ , và đồng đạo với các cụ Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế…Ra khỏi tù đế quốc, cụ ẩn vào đạo sư. Đó là cụ Hồ Phi Huyền. Sự nghiệp còn dở dang mà các cụ hầu hết đã ra đi, nay còn được cụ nào là phúc lớn cho dân tộc. Đã một lần cử phái viên chính phủ đi mời đón cụ Hồ Phi Huyền, nhưng vì , bây giờ cụ mới ra. Cụ đang nghỉ tại nhà chú Đặng Thai Mai, con rể của cụ“.Tôi cùng đồng chí Phạm Văn Nền lái xe của Bác đi đón cụ Hồ Phi Huyền về nhà số 8, phố Vua Lê. Đồng chí Vũ Kỳ (ngày ấy còn gọi tên gốc là anh Cần) lo việc tiếp đãi. Bữa cơm Hồ Chủ tịch thật đạm bạc mà ngon lành, thanh khiết đãi đằng người thanh khí…”.

Tự biết mệnh phận mình không còn, cụ thốt rằng: “Các cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng), cụ Tố ( Tố), cụ Bùi (Bùi Bằng Đoàn)…đều ra gánh vác được việc nước, còn tôi thì mệnh tận”… Ngày 25/12/1946, cụ Hồ Phi Huyền tạ thế tại quê nhà Quỳnh Đôi, thọ 67 tuổi. ” (Văn bản 10)

Ông sinh năm 1879 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. …

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao phẩm chất và tư tưởng cũng như trước tác của Hồ Phi Huyền.

Nhà văn Sơn Tùng đã ghi lại Hồi ký của ông Vũ Đình Huỳnh, Bí thư của Hồ Chủ tịch từ Hội nghị Tân Trào.

Chuyện này xảy ra vào năm 1946 khi đất nước đang bị lâm nguy. Ở phía Bắc thì từ biên giới Việt – Trung đến vĩ tuyến 16, 20 vạn quân Tưởng, kéo theo bọn phản động tràn vào với âm mưu lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh; ở phía Nam vĩ tuyến 16 trở vào thì giặc Pháp núp sau quân Anh – Ấn gây hấn ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Giữa lúc đất nước đang lâm nguy như vậy, Hồ Chủ tịch tìm đến tận phòng làm việc của ông Huỳnh. Bác bảo: “Lần này có việc ủy thác chú đi mời đón một nhà túc nho thông thiên địa nhân. Bậc nho sĩ này đồng khoa, đồng đạo với các cụ Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế”. Tôi (V.Đ.H) đi đón h… Bữa cơm đãi h thật đạm bạc mà ngon lành thanh khiết. Hồ Chủ tịch đón tiếp cụ Hồ Phi Huyền không đơn thuần như một vị nhân sĩ, mà còn là một bậc thân tri cố cựu… Mời cụ ra giúp nước, nhưng cụ biết mệnh phận không còn. Cụ phải thốt ra: “Quốc gia đa cổ, các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Tố, Bùi Bằng Đoàn đều ra gánh vác việc nước với cụ Hồ, tôi thì mệnh tận”. Tuy mệnh tận, ra gặp Bác Hồ, khi bái biệt, cụ còn thưa: “Xin Chủ tịch lưu tâu, thời mệnh trong thế cực này, chúng ta phải trải qua: thiên đô bảo chủ quốc tôn, độn thổ trường kỳ kháng địch”. Sau đố cụ Hồ Phi Huyền trở về quê và mất ngày 25 tháng 12 năm 1946, ” (Văn bản 11) 

Nhận xét: Theo văn bản 10 ta tưởng Sơn Tùng “ghi theo lời kể của ông Vũ Đình Huỳnh thì ta còn một chút băn khoăn, nhưng ở văn bản 11 đã lộ ra rằng: “Sơn Tùng đã ghi lại Hồi ký của ông Vũ Đình Huỳnh”, hóa ra chuyện chỉ là “ghi lại Hồi ký”, kìa Hồi ký của một “kẻ” đã bị bắt bỏ tù trong vụ Xét lại chống Đảng thì có còn được trung thực nữa không? Hồi ký đó còn mấy phần của ông Vũ Đình Huỳnh? Hay là chỉ mang tên của ông mà thôi? (Chuyện này xem thêm tại cuốn Đảng CS VN dựa vào hồi ký bịa để viết Lịch sử Đảng.)

Kìa, số phận “các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Tố, Bùi Bằng Đoàn đều ra gánh vác việc nước với cụ Hồ” ra sao? “Huỳnh Thúc Kháng, Tố” thì chết bí ẩn cùng năm 1947, “Bùi Bằng Đoàn” thì ốm liệt thân cũng năm đó, rồi nằm một chỗ tới 1955 thì… tạ thế. Thì cụ “Hồ Phi Huyền” biết mình “mệnh tận” mà từ chối thì cũng chẳng đáng tiếc lắm ru. (Xem thêm tại quyển 13 – Diệt trí thức Việt)

Liệu có đúng cụ “Hồ Phi Huyền” biết mình “mệnh tận” mà từ chối? Để rồi “Ngày 25/12/1946, cụ Hồ Phi Huyền tạ thế tại quê nhà Quỳnh Đôi, thọ 67 tuổi” Đó chỉ là sự việc được ghi lại ở một Hồi ký được cho là của một người tù Vũ Đình Huỳnh mà thôi.

Sự thật ở đây là gì?

Kìa, cũng hệt như nhà trí sĩ Võ Liêm Sơn cũng gặp Hồ năm trước, năm sau thì chết “…Tại Hội nghị văn hoá toàn quốc tổ chức ở Việt bắc năm 1948, ông được tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với Người chuyện trò xướng hoạ và được Bác tặng thơ. Võ Liêm Sơn mất ngày 22/12/1949, thọ 61 tuổi.” (Xem chi tiết tại quyển 13 – Diệt Khẩu trí thức Việt)

Như vậy: Chính là chúng đã giết cả gia tộc nhà Đặng Thai Mai gồm cả bên nội, bên ngoại, bố vợ… rồi cho một gia đình Đặng Thái Mai đóng thế!

  1. Đâu phải mình cụ mệnh tận!

“Tự biết mệnh phận mình không còn, cụ thốt rằng: “Các cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng), cụ Tố ( Tố), cụ Bùi (Bùi Bằng Đoàn)…đều ra gánh vác được việc nước, còn tôi thì mệnh tận”.” (Văn bản 10)

Nhận xét: Thưa cụ Hồ Phi Huyền, các cụ mà cụ nhắc tên trên, cụ nói là các cụ đó “đều ra gánh vác được việc nước, còn tôi thì mệnh tận”, là sai đấy, các cụ đó và nhiều cụ nữa cũng “Tận Mệnh” chỉ sau cụ ít ngày mà thôi!

Sự Thật là gì?

Đó chính là bọn quỷ diệt những Trí Thức nước Nam đó cụ ơi!

Thế mới thật là: Thái Mai – trí thức hàng đầu

                        Dấu hiệu là quỷ – rõ ràng – đau không?

Thái Mai – trí thức hàng đầu

Tên mình không nhớ – hàng đầu ở đâu?

Thái Mai – trí thức hàng đầu

Tên Ông chẳng nhớ – hàng đầu ở đâu?

Thái Mai – trí thức hàng đầu

Quỳnh Anh là Chị? Hay Cô thế này?

Rõ là Mai quỷ đấy thôi

Là quỷ (nên) chẳng nhớ việc nhà người ta!

Cả họ tàn sát phải không

Trí thức sao chết tả tơi thế này?

Rõ là quỷ giết đấy thôi.

Giết rồi nó bảo chết từ hôm nao

Bạn bè Mai đó nhìn đây

Người chết bí ẩn – kẻ là quỷ ma.

Mai kia bố vợ quỷ ma (1)

Thì là người thật thế nào được đây?

Mai kia là quỷ – rõ ràng

Thì ngài “Bố vợ” chết ngay – đúng rồi.

Có thực “bố vợ” đến thăm

Hay bịa chuyện thế hả thằng Mai kia?

67 thì “Bố” chưa già

Sao ra gặp cái thì đà chết ngay?

Mấy người trí thức nhắc tên (2)

Cũng đều chết yểu là cơn cớ gì?

Chính là:

Chúng mượn Hồi ký Đình Huỳnh

Rồi ghi thêm thế để là chính danh. (3)

Cụ Huyền có biết hay chăng

Nhiều cụ Mệnh Tận có gì giêng đâu. (4)

(1.) Võ Nguyên Giáp.

(2.) Các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Tố, Bùi Bằng Đoàn, Võ Liêm Sơn.

                        (3.) xem phụ bài 3 sẽ rõ.

                        (4) Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng), cụ Tố ( Tố), cụ Bùi (Bùi Bằng Đoàn)…đều chết 1947, 1947, 1955 (ốm nặng từ 1947)

Thắc mắc: Liệu kết luận Hồi ký Vũ Đình Huỳnh bị ghi thêm nhiều nội dung, có chính xác hay không? Xin xem phụ bài 3 ở sau sẽ rõ.

  1. nghiên cứu:

(Văn bản 1).

Đặng Thai Mai http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Thai_Mai

Đặng Thai Mai (19021984), còn được biết đến dưới tên gọi Đặng Thái Mai

Đặng Thai Mai sinh ngày 25 tháng 12 năm 1902 tại làng Lương Điền (nay là ), huyện Thanh Chươngtỉnh Nghệ An trong một gia đình nho học. Thân phụ ông là Đặng Nguyên Cẩn, đỗ phó bảng, tham gia phong trào Duy Tân cùng với Phan Bội ChâuPhan Chu TrinhNgô Đức KếHuỳnh Thúc Kháng, bị thực dân Pháp bắt, đày đi Côn Đảo. Ông là hậu duệ của Tể tướng Đặng Dung, thuộc chi Tiến sĩ Đặng công Thiếp. [1]

Sau khi thân phụ bị bắt, ông về sống tại quê nội từ năm 6 tuổi, và được bà nội nuôi dưỡng, lòng yêu nước, học chữ Hán và chữ Quốc ngữ theo chương trình Đông Kinh nghĩa thục.

Năm 1925, khi đang theo học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương – Hà Nội, ông tham gia phong trào đòi “ân xá” , truy điệu Phan Chu Trinh, đồng thời gia nhập đảng Tân Việt.

Năm 1928, ông trở thành giáo sư Trường Quốc học Huế. Năm 1929, khi đảng Tân Việt tan vỡ, ông bị xử một năm tù treo, sau đó lại trở về dạy học ở Huế. Ông lại bị bắt năm 1930 và bị xử 3 năm vì tham gia phong trào Cứu tế đỏ. Sau khi ra tù, Đặng Thai Mai ra Hà Nội sống và dạy học tại trường tư Gia Long (1932).

Đến năm 1935, Đặng Thai Mai cùng với các bạn là Phan ThanhHoàng Minh GiámVõ Nguyên Giáp… lập ra Trường tư thục Thăng Long. Năm 1936, ông cùng Nguyễn Văn Tố, Vương Kiêm Toàn, Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp… thành lập ra Hội truyền bá chữ Quốc ngữ.

Ông bắt đầu hoạt động văn hóa thời kì Mặt trận Dân chủ (19361939), viết báo và sáng tác một số truyện ngắn bằng tiếng Pháp nêu gương các chiến sĩ cách mạng buổi đầu (Cô câm đã lên tiếng,Chú bé…).

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Đặng Thai Mai lập gia đình với bà Hồ Thị Toan. Hai ông bà có 5 con gái và 1 con trai, trong đó 3 con rể là tướng lĩnhQuân đội Nhân dân Việt Nam

(Văn bản 2).

Đặng Thúc Hứa (18701931)

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Th%C3%BAc_H%E1%BB%A9a

Đặng Thúc Hứa (18701931), hiệu Ngọ Sinh; là chí sĩ cách mạng cận đại của Việt Nam.

Ông sinh ở Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi thi đỗ tú tài Hán học, ông còn được gọi là Tú Ngọ Sinh, hay Tú Hứa.

Thân phụ là Đặng Thai Hài, đỗ cử nhân năm Tự Đức thứ 31(1887) được bổ làm huấn đạo tỉnh Quảng Trị. Sau đó ông được bổ làm tri huyện Thanh Hoá. Khi thực dâp Pháp chiếm Thanh Hoá, ông xin từ quan và về dạy học tại quê nhà đồng thời tham gia phong trào yêu nước.

Thân mẫu là Đinh Thị Hoa, con gái của tiến sĩ Đinh Nho Điền (quê ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh). Bà là một phụ nữ thông minh, đảm đang và có tinh thần yêu nước.

Đặng Thúc Hứa có anh trai là Ông Đặng Nguyên Cẩn và em trai là Đặng Quý Hối đều tham gia vào hoạt động cách mạng. một nhà anh em đều nhiệt thành yêu nước, cả các cháu của ông như Đặng Thị Hợp, Đặng Quỳnh Anh cũng đều tích cực hoạt động cách mạng.

Năm Ất Tỵ (1905), ông xuất dương sang Nhật, sau được Phan Bội Châu phái về hoạt động ở Thái Lan. Quân Pháp từng sai người sang mua chuộc ông, đều bị ông phản đối. Lớn lên Đặng Thúc Hứa theo học chữ Hán, đỗ tú tài trong kỳ thi Hương năm 1900. Tuy vậy ông không làm quan mà tham gia vào hội Duy Tân năm 1904. Đặng Thúc Hứa cùng với em trai mở Trại Cày ở Đá Bia, xây dựng Hưng nghiệp hội xã ở chợ Đàng, chăm lo kinh phí cho đồng sự xuất dương và quyên góp tiền bạc mua sắm vũ khí chống thực dân Pháp.

…Tại Thái Lan, ông làm chủ nhiệm tờ Đồng Thanh xuất bản ở Ban Đọng (thuộc tỉnh Phi Chịt) từ 1927 đến 1930.

Đến năm Tân Mùi (1931), ông từ trần ở Oudonne thuộc khu đông bắc Thái Lan, thọ 61 tuổi.

            (Văn bản 3).

Đặng Thúc Hứa – Người con trung kiên của đất Thanh Chương

Đài Lân

Thứ ba, 23 Tháng 10 2012

http://www.vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/dang-thuc-hua-nguoi-con-trung-kien-cua-dat-thanh-chuong

ĐẶNG THÚC HỨA người làng Lương Điền, xã , huyện Thanh Chương, Nghệ An, là chú ruột của nhà văn hóa nổi tiếng Đặng Thai Mai…

(Văn bản 4).

 Đặng Nguyên Cẩn (鄧元謹, 18661923), (Anh trai Đặng Thúc Hứa) http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Nguy%C3%AAn_C%E1%BA%A9n

Đặng Nguyên Cẩn (鄧元謹, 18661923), tên cũ là Đặng Thai Nhận, hiệu Thai Sơn, Tam Thai; là chí sĩ cận đại trong lịch sử Việt Nam.

Ông sinh trưởng tại làng Lương Điền, tổng Bích Triều, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Cha của ông là Đặng Thai Giai (hay Thai Cảnh), từng tham gia phong trào Cần Vương, bị quân Pháp bắt giam, tra tấn rồi an trí cho đến chết [1].

…Năm 1908, ông hưởng ứng phong trào chống thuế ở Trung Kỳ, bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo.

Bị lao tù khổ sở suốt 13 năm, đến năm 1921, Đặng Nguyên Cẩn được thả cùng với Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế.

Trở về quê ít lâu sau thì ông mất (1923).

(Văn bản 5).

Đặng Quý Hối (?? – 1918) (Em trai Đặng Thúc Hứa) http://wiki.tcnao.net/%C4%90%E1%BA%B7ng_Qu%C3%BD_H%E1%BB%91i

Đặng Quý Hối (?? – 1918) quê ở làng Lương Điền, nay thuộc xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

…Đặng Quý Hối có 2 người anh trai Đặng Nguyên CẩnĐặng Thúc Hứa cũng là những nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng.

Ông tham gia phong trào Duy Tân và Đông Du suốt hơn 2 thập niên của đầu thế kỷ 20.

Đặng Quý Hối bị Pháp bắt giam tra tấn dã man và hy sinh anh dũng trong nhà tù Lao Bảo năm 1918.

(Văn bản 6).

http://www.mactoc.com/newsdetail/380/lich-su-van-hoa-phai-he-mac-ang-luong-o-nghe-an.aspx

LỊCH SỬ – VĂN HOÁ PHÁI HỆ MẠC ĐĂNG LƯỢNG Ở NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60. 22. 54

  Họ Đặng (Lương Điền, Thanh Chương): Theo gia phả họ Đặng ở Lương Điền thì nguồn gốc của dòng họ này từ làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu di cư vào đây khai phá rừng hoang, sinh cơ lập nghiệp, tính từ cụ thuỷ tổ Điền Trung hầu đến Đặng Thai Mai là đời thứ 10 trải qua trên 200 năm.

          Dòng họ Đặng Lương Điền được sử sách biết đến nhiều kể từ khi cụ Đặng Thai Giai còn gọi là Đặng Thai Hài (ông nội của giáo sư Đặng Thai Mai) đậu cử nhân thời Tự Đức làm huấn đạo tỉnh Quảng Trị rồi tri huyện Yên Định, Thanh Hoá. Khi Pháp xâm chiếm các tỉnh xứ Trung Kỳ, ông phản đối thái độ một số quan lại đầu hàng giặc nên treo ấn từ quan về quê. Hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi, ông tham gia phong trào Cần Vương và đã cộng tác tích cực với Đề Thắng, cung cấp lương thảo cho nghĩa quân nên bị Pháp bắt giam đến khi ông sắp chết mới thả. Vợ cụ Đăng Thai Giai là bà Đinh Thị Hoan là con gái quan Ngự sử Đinh Nho Điển – người đã uống thuốc độc tự tử ở Huế khi kinh thành bị giặc Pháp chiếm. Bà Hoan là người ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng yêu nước của các con. Khi Đặng Thúc Hứa từ biệt mẹ đi hoạt động cách mạng, bà dặn: “Con cứ đi đi! Khi nào lấy được nước mới về với mẹ. Chừng nào chưa làm được việc đó thì thì đừng có quay về mà nhục nghe con”. Gia đình cụ Đặng Thai Giai có bốn người con đều tích cực tham gia vào phong trào cách mạng là Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Đặng Quý Hối và Đặng Thị Quỳnh Anh.

          Cụ Đặng Nguyên Cẩn (tức Thai Nhẫn, cụ thân sinh Giáo sư Đặng Thai Mai) đậu Phó bảng năm 1895 được cử làm giáo thụ Hưng Nguyên, rồi đốc học Nghệ An, đốc học Bình Thuận. Năm 1907 cùng Ngô Đức Kế lập “Tiêu Dương Tương Quán” ở Vinh. Năm 1908, thực dân Pháp khủng bố Duy Tân hội, Tiêu Dương Quán bị đóng cửa, Đặng Nguyên Cẩn bị đày đi Côn Đảo đến năm 1921 mới được thả, một năm sau thì mất.

          Về nghiên cứu khoa học: Giáo sư Đặng Thai Mai (1902-1984) hậu duệ thứ 10 của dòng họ Đặng được coi là người đại diện xuất sắc nhất, sự hội tụ trong một con người ba nền văn minh. Ông đã được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho những thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu văn học. Gia đình giáo sư Đặng Thai Mai có 6 người con đều là giáo sư, tiến tĩ: Đặng Bích Hà, Đặng Thị Hạnh, Đặng Thanh Lê, Đặng Anh Đào, Đặng Thai Hoàng, Đặng Xuyến Như và có 3 người con rể đều mang hàm cấp tướng trong quân đội nhân dân Việt Nam là Võ Nguyên Giáp, Phạm Hồng Sơn, Phạm Hồng Cự.

            LB: Ông nội và Cô ruột mà còn chẳng rõ thì…

            (Văn bản 7).

Đặng Thái Thuyến.

            – Là Tiền bối CS.            http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT261250617

…Đến Quảng Châu, Trần Phú cùng đoàn được đón về ở tại trụ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, số 13-13b đường Văn Minh (nay là nhà số 248-250 đường Văn Minh, Quảng Châu). Trước cửa nhà có treo tấm biển “Chính trị đặc biệt huấn luyện ban”. Đặng Thái Thuyến (tức Cảnh Tân) xếp đặt chỗ ăn ở cho cả đoàn. Trong thời gian chờ đợi, đoàn được “Bị áp bức các dân tộc Liên hiệp hội” tổ chức gặp mặt. Sau một tuần chuẩn bị, Trần Phú dự lớp huấn luyện chính trị. Đây là khoá học thứ hai, có 15 người học trong thời gian non 2 tháng vào tháng 9 và tháng 10 năm 1926. Trần Phú được Nguyễn Ái Quốc (bí danh là Lý Thụy) đặt tên là Lý Quý.

  • Mất sớm.

(Văn bản 8).

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Th%C3%A1i_Thuy%E1%BA%BFn

…Đặng Thái Thuyến sinh năm 1900, quê ở làng Hải Côn, tổng Đặng Xá, huyện Nghi Lộc. Ông là người con duy nhất của chí sĩ Đặng Thái Thân, một nhân vật trọng yếu của Duy Tân Hội và phong trào Đông Du năm 1905-1908.

Năm 1908, cuộc vận động Đông Du thất bại. Ngày 11/3/1910, Đặng Thái Thân anh dũng hi sinh. Cha mất, Pháp thường xuyên quấy nhiễu nên ông phải nghỉ học.

Thương cảnh ngộ gia đình của một sỹ phu đã hy sinh vì nước, cụ cử Đệ, quê ở huyện Nghi Lộc đưa Đặng Thái Thuyến về giúp việc tại hiệu thuốc Bắc của mình ở thành phố Vinh.

Không thể yên phận với việc chỉ biết kiếm cơm ăn hàng ngày, anh tìm gặp các sỹ phu để yêu cầu họ chỉ vẽ cho con đường cứu nước. Nhưng số người sống sót không còn được là bao, vả lại các cụ cũng đang bi quan trước những thất bại đã qua.

Đầu năm 1924, Đặng Thái Thuyến rời sang Xiêm. Ở đây, ông gặp người ông họ là Đặng Tử Kính và cùng các ông Đặng Thúc Hứa, Võ Trọng Đài, Ngô Quảng…những người cùng quê, lại là bạn chiến đấu gần gũi của thân phụ ông.

Khoảng cuối năm 1925, anh được giao nhiệm vụ liên lạc với trong nước.

Sau ngày đồng chí Hồ Tùng Mậu từ Trung Quốc sang Xiêm, tháng 6/1926, chi bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội được thành lập ở Phi Chịt. Đặng Thái Thuyến là một trong những hội viên đầu tiên của chi bộ.

Tháng 9/1926, Đặng Thái Thuyến được cử đi dự lớp huấn luyện ở Quảng Châu (TrungQuốc) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy. Trong thời gian này, ông được gần gũi đồng chí Nguyễn Ái Quốc và được Người thường xuyên bồi dưỡng về đường lối cách mạng vô sản, về tư cách của người cách mạng.

…Ngày 12/12/1931, cuộc nổi dậy của các chiến sĩ cách mạng tại ngục Kon Tum bị thất bại, Đặng Thái Thuyến hi sinh sau hai lầm trúng đạn.

(Văn bản 9).

Đặng Tử Kính (18751928) http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_T%E1%BB%AD_K%C3%ADnh

Đặng Tử Kính (18751928) là một chí sĩ yêu nước của Việt Nam thời cận đại[1]. Ông cùng với Phan Bội Châu, Nguyễn Thành, Trình Hiền, Lê Võ, Đặng Thái Thân…đều là những hội viên trọng yếu, đảm nhận mọi hoạt động của Duy Tân hội.

Đặng Tử Kính quê quán huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, là bạn đồng chí với Phan Bội Châu[2] đồng thời là chú ruột liệt sĩ Đặng Thái Thân[3][4].

(Văn bản 10).

Đạo Người trong quan niệm của “Thầy của nhiều thầy”
8:00, 25/01/2013

http://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Dao-Nguoi-trong-quan-niem-cua-Thay-cua-nhieu-thay-330608/

…Theo nhà văn Sơn Tùng, sinh thời cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Bác Hồ) rất nể trọng cụ Hồ Phi Huyền, từng gửi ông Nguyễn Tất Đạt (anh ruột Bác Hồ) sang để chữa bệnh và học y thuật, trạch cát. Cụ Cử Hồ là người đã giúp bà Nguyễn Thị Thanh (chị ruột Bác Hồ) đưa hài cốt của cụ Hoàng Thị Loan (thân mẫu Bác Hồ) từ kinh đô Huế về Nam Đàn và cùng ông Đạt đi khắp dãy núi Đại Huệ để chọn cát địa an táng… Sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ kêu gọi giới nhân sĩ ra giúp nước. Nhà văn Sơn Tùng ghi theo lời kể của ông Vũ Đình Huỳnh rằng: “Bác nói: “Lần này lại có việc, uỷ thác đi mời đón một nhà túc nho “Thông Thiên – Địa – Nhân”. Bậc nho sĩ này đồng khoa, đồng đạo với cụ , và đồng đạo với các cụ Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế…Ra khỏi tù đế quốc, cụ ẩn vào đạo sư. Đó là cụ Hồ Phi Huyền. Sự nghiệp còn dở dang mà các cụ hầu hết đã ra đi, nay còn được cụ nào là phúc lớn cho dân tộc. Đã một lần cử phái viên chính phủ đi mời đón cụ Hồ Phi Huyền, nhưng vì , bây giờ cụ mới ra. Cụ đang nghỉ tại nhà chú Đặng Thai Mai, con rể của cụ“. Tôi cùng đồng chí Phạm Văn Nền lái xe của Bác đi đón cụ Hồ Phi Huyền về nhà số 8, phố Vua Lê. Đồng chí Vũ Kỳ (ngày ấy còn gọi tên gốc là anh Cần) lo việc tiếp đãi. Bữa cơm Hồ Chủ tịch thật đạm bạc mà ngon lành, thanh khiết đãi đằng người thanh khí…”.

Tự biết mệnh phận mình không còn, cụ thốt rằng: “Các cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng), cụ Tố ( Tố), cụ Bùi (Bùi Bằng Đoàn)…đều ra gánh vác được việc nước, còn tôi thì mệnh tận”. Trước khi bái biệt, cụ còn thưa: “Xin Hồ Chủ tịch lưu tâm, thời mệnh trong thế cục này chúng ta còn phải trải qua: Thiên đô bảo chủ quốc tồn, độn thổ trường kỳ kháng địch” (Dời đô giữ chủ nước còn, đào hầm đánh giặc lâu dài). Quả nhiên, tháng 12/1946, thực dân Pháp bội ước, Chính phủ cách mạng “thiên đô” ra khỏi Hà Nội, lên Việt Bắc, toàn dân bước vào giai đoạn “trường kỳ kháng chiến”… Ngày 25/12/1946, cụ Hồ Phi Huyền tạ thế tại quê nhà Quỳnh Đôi, thọ 67 tuổi.

Thiên Tường

(Văn bản 11).

284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam (Phần 2) – Vũ Thanh Sơn

http://lichsuhuyenbivietnam.blogspot.com/2013/03/284-anh-hung-hao-kiet-cua-viet-nam-phan_8.html

HỒ PHI HUYỀN

Hồ Phi Huyền còn gọi là Hồ Phi Thống, ông là cháu năm đời Hồ Phi Tích, là cháu ngoại tiến sĩ Văn Đức Giai, là con cử nhân Hồ Phi Tự – một nhân vật quan trọng trong phong trào Cần vương ở Nghệ An.

Ông sinh năm 1879 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. …

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao phẩm chất và tư tưởng cũng như trước tác của Hồ Phi Huyền.

Nhà văn Sơn Tùng đã ghi lại Hồi ký của ông Vũ Đình Huỳnh, Bí thư của Hồ Chủ tịch từ Hội nghị Tân Trào.

Chuyện này xảy ra vào năm 1946 khi đất nước đang bị lâm nguy. Ở phía Bắc thì từ biên giới Việt – Trung đến vĩ tuyến 16, 20 vạn quân Tưởng, kéo theo bọn phản động tràn vào với âm mưu lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh; ở phía Nam vĩ tuyến 16 trở vào thì giặc Pháp núp sau quân Anh – Ấn gây hấn ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Giữa lúc đất nước đang lâm nguy như vậy, Hồ Chủ tịch tìm đến tận phòng làm việc của ông Huỳnh. Bác bảo: “Lần này có việc ủy thác chú đi mời đón một nhà túc nho thông thiên địa nhân. Bậc nho sĩ này đồng khoa, đồng đạo với các cụ Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế”. Tôi (V.Đ.H) đi đón h… Bữa cơm đãi h thật đạm bạc mà ngon lành thanh khiết. Hồ Chủ tịch đón tiếp cụ Hồ Phi Huyền không đơn thuần như một vị nhân sĩ, mà còn là một bậc thân tri cố cựu… Mời cụ ra giúp nước, nhưng cụ biết mệnh phận không còn. Cụ phải thốt ra: “Quốc gia đa cổ, các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Tố, Bùi Bằng Đoàn đều ra gánh vác việc nước với cụ Hồ, tôi thì mệnh tận”. Tuy mệnh tận, ra gặp Bác Hồ, khi bái biệt, cụ còn thưa: “Xin Chủ tịch lưu tâu, thời mệnh trong thế cực này, chúng ta phải trải qua: thiên đô bảo chủ quốc tôn, độn thổ trường kỳ kháng địch”. Sau đố cụ Hồ Phi Huyền trở về quê và mất ngày 25 tháng 12 năm 1946, lời tiên tri bỏ thủ đô và kháng chiến trường kỳ là đúng”.

Ngoài tác phẩm “Nhân đạo quyền hành” Hồ Phi Huyền còn có các tác phẩm “Y học toát yếu”, “Đạm Trai văn tập”, “Kỳ thuật” (dạy đánh cờ).

(Văn bản 12).

ĐẶNG THAI MAI :

http://dictionary.bachkhoatrithuc.vn/Default.aspx?param=1478aWQ9MzY2ODImZ3JvdXBpZD0yNSZraW5kPSZrZXl3b3JkPQ==&page=8

(1902 – 84), nhà văn, nhà phê bình văn học Việt Nam, giáo sư. Quê: làng Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học, yêu nước, con của phó bảng Đặng Nguyên Cẩn. Bắt đầu hoạt động văn hoá thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 – 39), viết báo và sáng tác một số truyện ngắn bằng tiếng Pháp nêu gương các chiến sĩ cách mạng buổi đầu (“Cô câm đã lên tiếng”, “Người đàn bà điên”, “Chú bé”…). Nổi tiếng với tác phẩm “Văn học khái luận” (1944), cuốn sách đầu tiên trình bày có hệ thống nhiều vấn đề lí luận văn học theo quan điểm tiến bộ, như điển hình và cá tính, nội dung và hình thức, truyền thống và hiện đại….

(Văn bản 13).

Một hình ảnh đẹp của người trí thức Việt Nam

Thứ bảy, 22/12/2007

http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=302&p=&id=1041

…Đặng Thai Mai xuất hiện trong làng báo như một nhà văn cách mạng. Ông viết cho các tờ báo tiếng Pháp của Đảng cộng sản Đông Dương như Le Travail (Lao động), Rassemblement (Tập hợp), Notre voix (Tiếng nói của chúng tôi) và tờ Tin tức (tiếng Việt). Những tác phẩm đầu tay của Đặng Thai Mai lúc ấy chính là những bài tạp văn châm biếm trong mục “Những điều trông thấy” và một số truyện ngắn trong mục “Chuyện thật của thời đại mới” với đề tài là những chuyện xảy ra trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, như: Chú bé con, Người đàn bà điên, Cô câm đã lên tiếng, Vận mệnh chống đối… Năm 1939, ông ứng cử Viện dân biểu Trung Kỳ. Năm 1944, ông cho ra đời tác phẩm “Văn học khái luận” – cuốn sách đầu tiên trình bày có hệ thống nhiều vấn đề lý luận văn học theo quan điểm tiến bộ, như điển hình và cá tính, nội dung và hình thức, truyền thống và hiện đại. Đặng Thai Mai cũng là người có công giới thiệu văn học hiện đại Trung Quốc qua các công trình Lỗ Tấn (1944), Tạp văn Trung Quốc (1944), các bản dịch kịch Lôi Vũ, Nhật xuất của Tào Ngu…

Đặng Thai Mai là ngươi ở xã,huyện ,tỉnh nào?

https://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20071116181640AAE0j8u

Bo vo cua bo vo Giap cung chet 1946

Đã xem 7 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments