Bài 2. Cộng Sản thật Đào Phúc Lộc bị giết cả nhà rồi đổi lung tung

A. Bằng chứng và phân tích.

  1. Hai chị em cùng là kỳ cựu Cộng sản:

            “…Những ngày đầu tham gia cách mạng cùng chị gái là Đào Hải (mang mật danh ZT) trong việc giữ đường dây liên lạc bí mật của Khu ủy với phong trào vùng mỏ, Đào Phúc Lộc đã sớm bộc lộ những tố chất của một “đồng chí Cộng sản” (tên gọi sau này đồng chí Tô Hiệu đã dùng để gọi Đào Phúc Lộc hay Đào Lộc) nhỏ tuổi.

Dưới sự chỉ đạo của Tô Hiệu, Đào Phúc Lộc đã bước những bước đi tiếp theo trên con đường cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản ViệtNam khi vừa tròn 16 tuổi. Căn nhà trọ của hai chị em trở thành điểm liên lạc tạm thời của cơ quan bí mật Khu ủy những năm 1936 – 1939 tại Hải Phòng.” (Văn bản 1)

  1. Người chú ruột cũng là kỳ cựu Cộng sản:

Đào Chính Nam được gặp cụ Hồ Tùng Mậu, rồi tham gia “Quảng Châu Công xã” cùng các thành viên trong “Đảng Thanh niên” như Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Trương Văn Lĩnh… Có một lần, cụ Mậu bị chính quyền Tưởng bắt giam ở Quảng Đông Pháp viện. Ông Nam cùng ông Mạc Trường Vạn không sợ nguy hiểm, lấy danh nghĩa đồng hương, vào thăm nuôi. ” (Văn bản 3)

  1. Người vợ cũng là kỳ cựu CS và chết.

Cô tiểu thư khuê các ấy đã phá vỡ cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối” do gia đình sắp đặt để đi theo cách mạng mà chàng trai trẻ Hoàng Minh Đạo (Đào Phúc Lộc) đã chỉ lối. Một ngày mựa đông giá lạnh tháng 12 năm 1945, đôi trai tài gái sắc đã gắn kết với nhau trước sự chứng kiến của đồng đội ngay tại Phòng Tình báo (huyện Đại từ, Tỉnh Thái Nguyên)

 Sau ngày cưới, vì nhiệm vụ công tác, Hoàng Minh Đạo luôn phải xa nhà. Người vợ dịu hiền, xinh đẹp được chồng dìu dắt, đó trở thành cụ giao liên tình báo. Một mình vừa nuôi con nhỏ, vừa hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao và lại được đồng đội quý mến. Năm 1948, “người phụ nữ vắn số” hy sinh khi đang thực hiện nhiệm vụ, con gái Minh Vân chưa tròn 2 tuổi, may mắn được đồng đội của cha đưa về Hà Nội giao cho bà Nguyễn Thị Kíu (cơ sở mà Hoàng Minh Đạo đó cấy) nuôi dưỡng, theo nguyện vọng của ông trước ngày vào miền Nam.” (văn bản 2)

  1. Bản thân bị cho là phản bội.

Nhưng đau đớn hơn, khi trong mắt của một số người, ông còn là một “gián điệp”, “kẻ phản bội Tổ quốc”. Hành trình đi tìm người cha thân yêu của những người con không nhớ rõ mặt cha kéo dài suốt 30 năm đã được toại nguyện. Thời điểm 10 giờ 5 phút, ngày 4/4/1998, người Anh hùng Đào Phúc Lộc đã trở về với đồng đội, gia đình và quê hương…” (văn bản 1)

  1. Vợ bị quên.

Vì đặc thù công tác của ngành, trong suốt thời gian dài, sự hy sinh của đồng chí Hoàng Minh Phụng được giữ bí mật. Sau ngày hòa bình lập lại, do có nhiều thay đổi trong công tác tổ chức nên hồ sơ hoạt động cách mạng của  nữ tình báo bị thất lạc. Tất cả đồng đội, gia đình đều hy vọng, tin tưởng một ngày nào đó, sự hy sinh thầm lặng của người chị, người mẹ, người đồng đội ấy sẽ được ghi nhận.

Ngày 27-4-2012, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 507/ QĐ – TTg, Tặng Bằng Tổ quốc ghi công cho Liệt sĩ Hoàng Minh Phụng – Chiến sĩ tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam, hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ngày 1/3/1948 …. ” (văn bản 2)

Lưu ý: Nếu vợ đã tên là “Hoàng Minh Phụng” thì không bao giờ chồng lại lấy bí danh là “Hoàng Minh Đạo”! Vì như thế rất dễ bị lộ!

Điều này cũng khẳng định thêm “Hoàng Minh Đạo” không phải Đào Phúc Lộc!

  1. Người bạn của chú ruột bị cho là Phản Bội.

Hoạt động của chi bộ đang hồi sôi nổi thì Mạc Trường Vạn đương kiêm Bí thư chi bộ từ tháng 3-1930 bị Xứ ủy Nam Kỳ phát hiện là một tên A.B (tên viết tắt Anti Bolchévik, là nhóm gián điệp chống Cộng sản. Sau này tên Vạn đã bộ trốn). ” (văn bản 4)

  1. Chú ruột bị đổi sang một người khác.

Hồ và Võ Nguyên Giáp là quỷ! (Ta đã nghiên cứu rõ ở quyển 1 và quyển 6). Như vậy, kẻ “Tham gia đưa 2000 Việt kiều về nước” không thể là một cán bộ Cộng sản kỳ cựu! mà chính là lũ quỷ, vì “Tham gia đưa 2000 Việt kiều về nước” mà thực chất là lũ quỷ đưa tay chân từ Tàu về, bằng chứng: “Số Việt kiều lên tàu hỏa về Hà Nội và được đón về trường Trưng Vương. Ông Võ Nguyên Giáp cử đặc phái viên Phan Tử Lăng ra đón gần 1000 lính khố xanh, khố đỏ, cảnh sát trong số hồi hương bổ sung ngay cho các đơn vị chiến đấu.”! (văn bản 3)

            Nhận xét:       Ở đây cũng lại nhiều cái tình cờ: Tình cờ vợ Đào Phúc Lộc chết, rồi lại tình cờ “hồ sơ hoạt động cách mạng của  nữ tình báo bị thất lạc.”, tình cờ người được cho là Đào Phúc Lộc cũng chết, rồi lại tình cờ bị cho là: “ông còn là một “gián điệp”, “kẻ phản bội Tổ quốc””, tình cờ người chị gái ruột của ông “chị gái là Đào Hải (mang mật danh ZT)” như là mất tích vậy, rồi tình cờ người chú ruột của ông lại bị cho là người đưa “gần 1000 lính khố xanh, khố đỏ, cảnh sát ” về Việt Nam trong khi lại Tình cờ quy người bạn cùng hoạt động Cộng sản với ông chú là: “Mạc Trường Vạn đương kiêm Bí thư chi bộ từ tháng 3-1930 bị Xứ ủy Nam Kỳ phát hiện là một tên A.B”!

            Sao lại lắm chuyện “Tình Cờ” như vậy?

            Mà như Voltaire đã nói: “Tình cờ là một từ vô nghĩa; không gì có thể tồn tại mà không có nguyên nhân. – Chance is a word void of sense; nothing can exist without a cause.

Sự thật là gì?

Sự thật là: vẫn cùng một kịch bản gần như các kỳ cựu Cộng Sản khác:

Đào Phúc Lộc chết nó cũng giống với kịch bản các cuộc diệt kỳ cựu CS khác là phao tin “Phản bội…”: “Nhưng đau đớn hơn, khi trong mắt của một số người, ông còn là một “gián điệp”, “kẻ phản bội Tổ quốc”. ”. (văn bản 1)

Giết kỳ cựu Cộng Sản là Đào Phúc Lộc, rồi giết người thân để bịt miệng: giết vợ (Con 2 tuổi không biết gì thì thoát – không hẳn là sinh 1948 – mà có thể là đã sinh trước đó, sau bọn quỷ nói như thế), giết Chị, (Không thế thì bà là ai?), giết Chú ruột rồi đánh tráo vào một người khác.

Sau đó gán cho Đào Phúc Lộc là Hoàng Minh Đạo – Một người đã chết!

Thế mới thật là:   Cộng thật nó giết cả nhà

                                    Để cho hợp lý – gán vào lung tung.

  1. Tài liệu nghiên cứu.

(Văn bản 1)

Anh hùng Hoàng Minh Đạo: Nhà tình báo huyền thoại

15:00 18/11/2010

http://cand.com.vn/Nhan-vat/Anh-hung-Hoang-Minh-Dao-Nha-tinh-bao-huyen-thoai-313301/

Nhà tình báo ấy có thật nhiều tên gọi. Đào Phúc Lộc – tên huý do cha mẹ đặt cho lúc chào đời gần như sau này không mấy ai còn nhớ. Đồng đội gọi ông là Hoàng Minh Đạo, Năm Thu, Năm Đạo, Năm Đời, Ông Bộ Đời. Mỗi tên gọi mang một ý nghĩa và tất cả đều ngợi ca đức độ, tài năng thao lược, cả những chiến công oanh liệt của nhà tình báo chiến lược “sinh Bắc tử Nam” đã trở thành huyền thoại.

…Thế nhưng, trái với “đam mê” của người cha, Đào Phúc Lộc lại mang trong mình dòng máu họ Đào nổi tiếng năm xưa, một lòng hướng đến cách mạng và lựa chọn cho mình một con đường riêng. Sau bao biến cố của gia đình, Đào Phúc Lộc đã cùng chị gái thuê một căn nhà nhỏ ở ngõ “cô Ba Chìa” (Hải Phòng) để trọ học. Cũng kể từ đây, cuộc sống của cậu bé 7 tuổi bước sang một trang khác.

Những ngày đầu tham gia cách mạng cùng chị gái là Đào Hải (mang mật danh ZT) trong việc giữ đường dây liên lạc bí mật của Khu ủy với phong trào vùng mỏ, Đào Phúc Lộc đã sớm bộc lộ những tố chất của một “đồng chí Cộng sản” (tên gọi sau này đồng chí Tô Hiệu đã dùng để gọi Đào Phúc Lộc hay Đào Lộc) nhỏ tuổi.

Dưới sự chỉ đạo của Tô Hiệu, Đào Phúc Lộc đã bước những bước đi tiếp theo trên con đường cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản ViệtNam khi vừa tròn 16 tuổi. Căn nhà trọ của hai chị em trở thành điểm liên lạc tạm thời của cơ quan bí mật Khu ủy những năm 1936 – 1939 tại Hải Phòng.

Cách mạng tháng Tám thành công, Hoàng Minh Đạo nhận lệnh về Hà Nội. Sau khi Phòng Tình báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu được thành lập (25/10/1945) dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, Hoàng Minh Đạo được phân công giữ chức Trưởng phòng Quân ủy Hội, nhiệm vụ nắm bắt tình hình quân Pháp, Nhật, Tưởng và bọn Việt Quốc, Việt Cách thân Tưởng.

Với một nhóm cán bộ ít ỏi cùng những phương tiện liên lạc thô sơ, Hoàng Minh Đạo đã tổ chức mạng lưới tình báo rộng khắp từ nhà hàng, khách sạn, rạp hát, bưu điện đến cả “cài cắm người” trong hàng ngũ các cơ quan của người Pháp, người Hoa.

…Đầu năm 1948, Hoàng Minh Đạo (lúc này lấy bí danh là Năm Thu) nhận được lệnh điều động của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào Nam với nhiệm vụ – Đặc phái viên của Bộ Tổng Tham mưu đi kiểm tra tình hình công tác phản gián, tình báo, quân báo từ khu IV vào đến Nam Bộ. Trên đường đi, Hoàng Minh Đạo đã tổ chức được 6 lớp tập huấn ngắn hạn từ khu IV đến khu IX, mỗi lớp trên 30 người để bổ sung lực lượng cho ngành Tình báo còn non trẻ ở miền Nam lúc bấy giờ.

…Vào một đêm Noel lạnh giá (24/12/1969), người con đất mỏ Hoàng Minh Đạo cùng 17 người đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất bên dòng sông Vàm Cỏ Đông vì bất ngờ hứng chịu trận mưa đạn của ba chiếc tàu Mỹ. Đồng đội của ông đã tổ chức tìm kiếm nhưng đều rơi vào vô vọng và tin Năm Thu hy sinh được giấu kín trong một thời gian dài.

Nhưng đau đớn hơn, khi trong mắt của một số người, ông còn là một “gián điệp”, “kẻ phản bội Tổ quốc”. Hành trình đi tìm người cha thân yêu của những người con không nhớ rõ mặt cha kéo dài suốt 30 năm đã được toại nguyện. Thời điểm 10 giờ 5 phút, ngày 4/4/1998, người Anh hùng Đào Phúc Lộc đã trở về với đồng đội, gia đình và quê hương…

Anh hùng Đào Phúc Lộc có một người con gái tên là Đào Thị Minh Vân. Minh Vân lớn lên trong lúc cha đi chiến trường xa, mẹ lại hy sinh khi chưa tròn 2 tuổi. Giờ đây Minh Vân không còn trẻ nữa, chị đã bước sang tuổi làm bà. Bà đã và đang thực hiện những ước mơ còn dang dở của người cha với những việc làm đầy ý nghĩa, mà gần đây nhất là xây dựng trường mẫu giáo cho trẻ em nghèo ở Củ Chi…

Trong bài viết chúng tôi có sử dụng tư liệu của đồng chí Lê Thanh Hải (tức Mười Hải), nguyên Khu ủy viên Sài Gòn – Gia Định

Nguyễn Kim Thành

(Văn bản 2)

HAI VỢ CHỒNG TÌNH BÁO  “TRAI TÀI GÁI SẮC”

              Thạc sỹ. Nguyễn Kim Thành – Bảo tàng Lịch sử quốc gia

              http://hoangminhdao.net/default.asp?type=portal&tab=detail&menu_1=148&id=109&path=HAI%20V%E1%BB%A2%20CH%E1%BB%92NG%20T%C3%8CNH%20B%C3%81O%20%E2%80%9CTRAI%20T%C3%80I%20G%C3%81I%20S%E1%BA%AEC%E2%80%9D

      Hoàng Minh Phụng và Hoàng Minh Đạo – Đôi Trai Tài Gái  Sắc

Người tình báo tài năng…

Người tình báo ấy có thật nhiều tên gọi. Đào Phúc Lộc – tên huý do cha mẹ đặt cho lúc chào đời gần như sau này không mấy ai còn nhớ. Đồng đội gọi ông là Hoàng Minh Đạo, Năm Thu, Năm Đạo, Năm Đời, Ông Bộ Đời, Ba Bắc… Mỗi cái tên là một ý nghĩa nhưng tất cả đều ngợi ca đức độ, tài năng thao lược và cả những chiến công oanh liệt của Nhà tình báo anh hùng “sinh Bắc tử Nam” đã trở thành huyền thoại.

Anh hùng Đào Phúc Lộc sinh ra trong một dòng họ nổi tiếng về truyền thống yêu nước, dòng họ vinh dự được nhà chí sĩ Phan Bội Châu tặng đôi câu đối, đại ý: Lòng yêu nước thương dân của họ Đào như viên ngọc quý giữa đời thường. Phật ngồi trên toà sen sẽ phù hộ cho cả gia tộc...  Khi mới tròn 13 tuổi, cùng với chị gái, cậu bé Lộc sớm giác ngộ, đi theo cách mạng. Dưới sự chỉ bảo của đồng chí Tô Hiệu, hai chị em đã bước những bước đi tiếp theo trên con đường cách mạng. Sớm phát hiện ra tố chất thông minh của người thanh niên trẻ tuổi, Nhà cách mạng Tô Hiệu đã giác ngộ và kết nạp Đào Phúc Lộc vào Đảng cộng sản Việt Nam khi mới 16 tuổi. Căn nhà trọ của hai chị em trở thành điểm liên lạc tạm thời của cơ quan bí mật Khu uỷ năm 1936 – 1939 tại Hải Phòng.

Năm 1940, Đào Phúc Lộc bị bắt và bị kết án tù hai năm, bị tra tấn dã man nhưng kẻ thù không khai thác được gì ở người thanh niên dũng cảm này. Chúng đưa Lộc về quản thúc tại Móng Cái quê ông trong thời gian 5 năm. Chính tại Móng Cái, Đào Phúc Lộc đã bộc lộ năng khiếu thiên bẩm của một nhà tình báo tài giỏi. Ông đã khôn khéo lừa bọn mật thám, vượt biên sang Trung Quốc để bắt liên lạc với tổ chức của Đảng và được đồng chí Trường Chinh trực tiếp giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở ở Móng Cái và thành lập đường dây liên lạc hải ngoại từ Hải Phòng qua Móng Cái sang Quảng Đông, Quảng Tây để đưa cán bộ của Đảng ra nước ngoài hoạt động. Con đường bí mật bằng đường bộ, đường thuỷ đã đưa các đồng chí Hoàng Văn Thái, Hoàng Quốc Việt, Đào Chính Nam (chú ruột của Lộc) ra nước ngoài do chính Lộc tạo dựng.

Năm 1940, Đào Phúc Lộc đã lập Chi bộ đầu tiên của Móng Cái ở thị trấn Đông Hưng (Trung Quốc) mang tên Trần Hưng Đạo do ông làm Bí thư (lấy tên là Hoàng Minh Đạo). Năm 1943, Hoàng Minh Đạo chủ trì thành lập huyện bộ Việt Minh Móng Cái và sau đó chính ông đã trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở đây.

Cách mạng tháng Tám thành công, Hoàng Minh Đạo nhận lệnh về Hà Nội. Ngày 25 tháng 10 năm 1945, tại số nhà 16 đường Riquier (hiện là số nhà 18 phố Nguyễn Du), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đã tuyên bố thành lập Phòng Tình báo Bộ Tổng Tham mưu. Hoàng Minh Đạo được phân công là Trưởng phòng. Nhiệm vụ của Phòng là nắm tình hình bọn Tưởng, Việt Quốc, Việt Cách thân Tưởng, tình hình Pháp, Nhật… Ngày 19 tháng 11 năm 1946, Quân uỷ Hội thống nhất với Bộ Quốc Phòng thành Bộ Quốc Phòng – Tổng chỉ huy và Phòng Tình báo – Quân uỷ Hội được đổi thành Phòng Tình báo – Bộ Tổng Tham mưu thuộc Bộ Quốc Phòng, Hoàng Minh Đạo được đề bạt làm Trưởng phòng Tình báo và gọi tắt là phòng 5 Quân Uỷ Hội.

 Đầu năm 1948, Hoàng Minh Đạo nhận được lệnh điều động của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Hoàng Văn Thái cử vào Nam với tư cách Đặc phái viên của Bộ Tổng Tham mưu với nhiệm vụ quan trọng là rà soát lại toàn bộ công tác tổ chức về quân sự, quân báo, tình báo, dân quân; bố trí người vào công tác nội thành, hoạt động trong lòng địch và sắp xếp lại tổ chức trong ngành tình báo, thống nhất từ Trung ương Bộ Tổng Tham mưu đến các địa phương. Quá trình vào Nam, Hoàng Minh Đạo còn tổ chức nhiều lớp học ngắn hạn để bổ sung lực lượng cho ngành tình báo quân sự Việt Nam. Tại Quân khu V, ông mở lớp học đào tạo cán bộ tình báo, quân báo bao gồm các cán bộ của Quảng Nam – Đà Nẵng, Khánh Hoà, Phan Thiết, Bình Thuận…

 Tên tuổi và sự nghiệp của Đào Phúc Lộc với bí danh Hoàng Minh Đạo, Năm Thu gắn liền với sự ra đời của ngành Tình báo quân sự. Ông chính là người đầu tiên xây dựng nền móng cho sự thành lập của ngành, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và ngày càng phát triển mạnh mẽ trong mấy cuộc kháng chiến của dân tộc. Đồng thời cũng là một trong những nhân vật chủ yếu sáng lập ra Ban địch tình Xứ uỷ và ngành Binh vận vào thời điểm gay go ác liệt nhất của cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ (1954-1955), trở thành một trong những mũi giáp công lợi hại của Cách mạng miền Nam. Ông đã từng giữ chức ủy viên thường vụ Khu ủy Sài Gòn Gia Định; Bí thư kiờm Chớnh ủy Phân khu 5; Bí thư Phân khu 1 Khu Sài Gòn Gia Định và Chính ủy lực lượng biệt động Sài Gòn.

Vào một đêm Noel lạnh giá, đêm 24 tháng 12 năm 1969, thuyền của Năm Thu cùng toàn thể đồng đội 17 người bất ngờ hứng chịu trận mưa đạn của ba chiếc tàu Mỹ và nổ tan thành từng mảnh nhỏ trên mảnh đất bên dòng sông Vàm Cỏ Đông. Ông đã ra đi trong sự im lặng cùng với lá thư vừa nhận được của con gái do giao liên chuyển đến mà chưa kịp đọc trước khi lên đường. Trung ương Cục và đồng đội đã tổ chức tìm kiếm nhưng tất cả đều vô vọng. Từ đó, tin Năm Thu hy sinh được giấu kín trong một thời gian dài. Và dòng sông Vàm Cỏ đã ôm ấp, vỗ về người con đất mỏ trong suốt 30 năm.

Ngày 4 tháng 4 năm 1998, một ngôi mộ nhỏ ở ấp An Thới, xã An Hoà, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh được khai quật sau một chặng đường tìm kiếm dài hơn một phần tư thế kỷ. Vậy là sau 30 năm lưu lạc, bao nghi ngờ về kẻ “phản bội Tổ quốc” mới được gột rửa. Người Anh hùng Đào Phúc Lộc đã trở về với gia đình, đồng đội và quê hương.

Ngày 8 tháng 8 năm 1998, lễ truy điệu Liệt sĩ Đào Phúc Lộc được tổ chức long trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Và sau đó hai ngày Bộ Quốc phòng đã tổ chức lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân và Huân chương Hồ Chí Minh cho Liệt sĩ Đào Phúc Lộc (tức Hoàng Minh Đạo, Năm Thu, Năm Đời, Năm Đạo).

         Cô tình báo… tiểu thư

Hoàng Minh Phụng xuất thân là con gái của vị quan phủ nổi tiếng và giàu có ở Móng Cái thời bấy giờ. Nhưng trái với mong muốn của người cha, cô tiểu thư lá ngọc cành vàng đã bí mật tham gia đội du kích Ba Chẽ ở Hải Ninh (Quảng Ninh) và trở thành chiến sĩ tình báo của Quân ủy hội Bộ Tổng Tham mưu. Cô tiểu thư khuê các ấy đã phá vỡ cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối” do gia đình sắp đặt để đi theo cách mạng mà chàng trai trẻ Hoàng Minh Đạo (Đào Phúc Lộc) đã chỉ lối. Một ngày mựa đông giá lạnh tháng 12 năm 1945, đôi trai tài gái sắc đã gắn kết với nhau trước sự chứng kiến của đồng đội ngay tại Phòng Tình báo (huyện Đại từ, Tỉnh Thái Nguyên)

 Sau ngày cưới, vì nhiệm vụ công tác, Hoàng Minh Đạo luôn phải xa nhà. Người vợ dịu hiền, xinh đẹp được chồng dìu dắt, đó trở thành cụ giao liên tình báo. Một mình vừa nuôi con nhỏ, vừa hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao và lại được đồng đội quý mến. Năm 1948, “người phụ nữ vắn số” hy sinh khi đang thực hiện nhiệm vụ, con gái Minh Vân chưa tròn 2 tuổi, may mắn được đồng đội của cha đưa về Hà Nội giao cho bà Nguyễn Thị Kíu (cơ sở mà Hoàng Minh Đạo đó cấy) nuôi dưỡng, theo nguyện vọng của ông trước ngày vào miền Nam.

Vì đặc thù công tác của ngành, trong suốt thời gian dài, sự hy sinh của đồng chí Hoàng Minh Phụng được giữ bí mật. Sau ngày hòa bình lập lại, do có nhiều thay đổi trong công tác tổ chức nên hồ sơ hoạt động cách mạng của  nữ tình báo bị thất lạc. Tất cả đồng đội, gia đình đều hy vọng, tin tưởng một ngày nào đó, sự hy sinh thầm lặng của người chị, người mẹ, người đồng đội ấy sẽ được ghi nhận.

Ngày 27-4-2012, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 507/ QĐ – TTg, Tặng Bằng Tổ quốc ghi công cho Liệt sĩ Hoàng Minh Phụng – Chiến sĩ tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam, hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ngày 1/3/1948 ….

Chúng tôi xin kết thúc bài viết về hai vợ chồng tình báo “trai tài gái sắc” này bằng những vần thơ đầy xúc động của con gái Minh Vân – người con duy nhất cả đời khao khát được gọi hai tiếng “Thưa Mẹ – Thưa Cha”:

Cha Mẹ ra đi chỉ để lại tấm hình

Đồng đội chụp cho trước giờ ra trận

Tấm hình đã mờ thời gian xa lắm…”

                                        N.K.T

(Văn bản 3)

Chuyện ít biết về chiến sĩ quốc tế Đào Chính Nam

Thứ tư, ngày 23 tháng tư năm 2008

http://uttroibackup.blogspot.com/2008/04/chuyen-it-biet-ve-chien-si-quoc-te-ao.html

Đại tá Đào Chính Nam (1908-1987) – một trong 20 học viên Hoàng Phố (1926-27). Như Nguyễn Sơn, Lý Ban, Phùng Chí Kiên… ông là 1 chiến sĩ quốc tế. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, xin có bài viết như một nén tâm nhang tưởng nhớ!

Đào Chính Nam người chiến sĩ quốc tế

Năm 1925-26, cả nước sục sôi phong trào yêu nước ủng hộ hai cụ Phan. Trong dòng họ chịu ảnh hưởng của ông chú Đào Quang Thể mà đầu 1927, Đào Chính Nam vận động một số thanh niên tâm huyết sang Trung Quốc tìm đường cứu nước. Qua giới thiệu của các bậc tiền bối, ông Nam được về học ở Quân sĩ Giáo đạo Đoàn, sau 5 tháng thì được tuyển về trường Quân sự Hoàng Phố. Trường do cụ Tôn Trung Sơn sáng lập, có cả cố vấn Liên Xô và nhiều giáo viên là đảng viên cộng sản Trung Quốc. Đồng chí Chu Ân Lai từng là Chính ủy. Tại đây, Đào Chính Nam được gặp cụ Hồ Tùng Mậu, rồi tham gia “Quảng Châu Công xã” cùng các thành viên trong “Đảng Thanh niên” như Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Trương Văn Lĩnh… Có một lần, cụ Mậu bị chính quyền Tưởng bắt giam ở Quảng Đông Pháp viện. Ông Nam cùng ông Mạc Trường Vạn không sợ nguy hiểm, lấy danh nghĩa đồng hương, vào thăm nuôi.

Hết 3 năm học, vì muốn mở rộng kiến thức, ông Nam cùng ông Trần Văn Phát, Hoàng Nam Thịnh nhờ bậc tiền bối Đặng Tư Mạc (một nhà Nho, bạn cụ Phan) giới thiệu với Kỳ Ngọai hầu Cường Để cho qua Nhật học tiếp. Chuyện không thành, ông Nam lại nhờ cụ Đặng giới thiệu với cụ Hồ Học Lãm cho đi học Nam Kinh. Tới Thượng Hải được vài ngày, gặp lúc quân Nhật nổ súng, ông liền tham gia đánh Nhật trong “Cảm tử Đội” của các truờng đại học. Sau đó gia nhập Quân đoàn thứ 19 của Sái Đình Nhai và được giao làm đội trưởng với cái tên Đào Bá Long. Tháng 2/1932, Hiệp định đình chiến Trung-Nhật được kí kết, ông lưu lại nhà một người bạn cùng học ở Hoàng Phố, chờ thời cơ đi Nam Kinh. Không may bị lộ, cả hai bị mật thám bắt tại tô giới Anh-Pháp. Biết ông là người Việt, sau 4 tháng tạm giam, chúng tống xuống tàu đưa về Sài Gòn rồi đưa ra Hải Phòng, cuối cùng giam ở Hỏa Lò (Hà Nội). Mật thám Pháp cố tra hỏi xem ông đã làm gì, quan hệ với ai ở Trung Quốc, ai giới thiệu đi học Hoàng Phố… nhưng không được. Chúng đưa ông về giam ở Hải Phòng, Kiến An và cuối cùng là Hải Ninh với án tù 3 năm. Đến tháng 2/1934 mới được tha và bị quản thúc ở Hải Phòng.

Không chịu khuất phục, tháng 4/1934, Đào Chính Nam bí mật xuống tàu đi Hương Cảng rồi vòng về Quảng Đông. Ông đã viết thư cho Cường Để nhờ giúp đỡ. Rồi qua hai người bạn từng học Hoàng Phố đang là cán bộ Quân Giải phóng, ông được giới thiệu đi dự lớp huấn luyện cán bộ chỉ huy rồi về đơn vị kháng Nhật ở tỉnh Sán Đầu. Đầu năm 1939, ông gặp lại đồng chí Phùng Chí Kiên và được giới thiệu vào tổ chức “Thanh niên kháng Nhật Hội” cùng các ông Nguyễn Sơn, Lý Ban… Phùng Chí Kiên giao cho ông việc giảng dạy quân sự. Tháng 6 năm đó, các hội viên tham gia đơn vị do ông chỉ huy khi quân Nhật tấn công vào Sán Đầu.

Ở Triều An, trong một trận đánh không cân sức, quân Nhật bao vây đơn vị tới nửa tháng, ông đã bị thương do mảnh pháo găm vào đầu. Chúng bắt ông. Sau 8 tháng giam và cho đi điều trị, chúng cho đi học sĩ quan rồi giao ông chỉ huy một đơn vị liên quân. Để giấu tung tích, ông khai tên mình là Đào Nhất Dân. Viên sĩ quan họ Đào chấp hành mệnh lệnh nhưng trong lòng nung nấu cơ hội chạy về căn cứ Hồng quân Công nông. Nhờ anh em hội viên kháng Nhật mà ông liên lạc được với đồng chí Phùng Chí Kiên. Đồng chí Kiên chỉ thị: tiếp tục họat động nội gián! Ông nhiều lần cung cấp thông tin của địch hay bí mật chuyển vũ khí cho phía cách mạng. Có lần lực lượng cách mạng phá kho vũ khí của Nhật bị phát hiện, bao vây, anh em chạy vào đơn vị. Ông cho thay quần áo, cải trang thành lính đơn vị rồi tạo điều kiện trốn thóat. Lần khác, quân Nhật tổ chức vây ráp quy mô lớn vào chiến khu nhưng thất bại, chúng đã nghi ngờ ông. Vì thế tháng 2/1943, ông bí mật đưa đơn vị chạy về chiến khu. Thời gian này, Đảng Cộng sản vẫn hợp tác với Quốc dân Đảng chống Nhật, đơn vị ông nằm trong địa bàn của quân Tưởng nên ông được điều lên tỉnh Hưng Ninh, biên chế vào Ban Tác chiến Bộ Tham mưu Khu. Cuối năm 1944, một bạn học Hoàng Phố nhận nhiệm vụ thành lập quân khu mới có mời ông cùng về; nhưng nhận thấy thời kì “Quốc-Cộng hợp tác” sắp kết thúc, chuẩn bị nội chiến, nên ông kiên quyết giải ngũ, tìm đường hồi quốc. Vì giao thông ách tắc mà chưa về được, ông nằm chờ thời cơ…

Tham gia đưa 2000 Việt kiều về nước

Ngày 15/8/1945, Trung Quốc và Nhật kí hiệp định đình chiến. Qua báo chí biết tin Pháp đang tạo sức ép buộc 2000 Việt kiều ở Thượng Hải trả cho chính phủ bù nhìn Lê Văn Họach ở miền Nam Việt Nam, trong khi bà con kiên quyết đấu tranh để được hồi hương về miền Bắc. Ông vội viết thư ủng hộ và vạch trần âm mưu của thực dân Pháp bắt đồng bào về Nam làm bia đỡ đạn. Bà con có thư trả lời và mời ông lên Thượng Hải. Lúc này Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đã thắng lợi nên việc đấu tranh để bà con Việt kiều về miền Bắc cũng là ủng hộ tích cực cho công cuộc cách mạng. Tổ chức của bà con Việt kiều được củng cố thành một khối, kẻ địch phải nhượng bộ, không thực hiện đuợc âm mưu đã vạch. Bà con thêm tin tưởng vào cách mạng. Tháng 6/1946, Chính phủ cử đại diện Bộ Ngọai giao (ông Nguyễn Sĩ Túc và ông Thế) sang cùng ông Nam làm việc với Chính phủ Thượng Hải. Tháng 7/1946, họ phải cho tàu đưa 2000 bà con về Đồ Sơn. Tại đây, giặc Pháp cho tàu chiến ra uy hiếp, ngăn cản không cho cập bến. Ông cùng đại diện của ta hội ý rồi cho tàu vào sát chân núi thả neo; mặt khác điện cho Chính phủ. Sau cuộc điều đình suốt từ sáng cho tới 4g chiều, chúng mới cho tàu vào cảng Hải Phòng. Số Việt kiều lên tàu hỏa về Hà Nội và được đón về trường Trưng Vương. Ông Võ Nguyên Giáp cử đặc phái viên Phan Tử Lăng ra đón gần 1000 lính khố xanh, khố đỏ, cảnh sát trong số hồi hương bổ sung ngay cho các đơn vị chiến đấu.

Góp sức cho công cuộc cách mạng

Tại Hà Nội, ông Nam gặp lại người cháu ruột là Đào Phúc Lộc (Trưởng phòng Tình báo Quân ủy Hội) và Hồ Ngọc Lan (con gái nhân sĩ cách mạng Hồ Học Lãm). Ông Nguyễn Sơn Khu trưởng Khu V ra họp, được chị Lan báo tin, đã lại thăm và mời bạn cũ về Khu V làm việc. Đã nhận lời nhưng khi đến Bộ Tư lệnh Tiếp phòng Quân thì gặp cụ Hồ Tùng Mậu (Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ) và Thiếu tướng Lê Thiết Hùng. Cụ Mậu giữ lại, giao nhiệm vụ mở lớp Sơ cấp quân sự ở Quần Ngựa cùng Chính ủy Trần Văn Quang.

Tới tháng 11/1946, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp lại giao nhiệm vụ vào Khu IV làm Chủ nhiệm Tham mưu cùng Khu trưởng Lê Thiết Hùng và Chính ủy Trần Văn Quang. Khi đi thị sát chiến trường phát hiện trình độ tác chiến của bộ đội còn thấp, ông đề nghị mở gấp lớp Bổ túc quân sự Đoàn Kỳ và thành lập Trung đoàn chủ lực. Trung đoàn do ông chỉ huy đã phá tan cuộc tấn công của giặc Pháp ở Hồi Xuân, La Hán và Bắc Mọt. Năm 1948, ông nhận nhiệm vụ Khu trưởng Phân khu Bình-Trị-Thiên kiêm Phó tư lệnh Khu IV (khi Nguyễn Sơn về làm Khu trưởng). Năm 1949, ông được điều ra Bắc làm Phó giám đốc trường Trung, cao quân sự Soi Mít, Thái Nguyên với quân hàm đại tá. Từ 1950-60, ông là Hiệu phó trường Lục quân Việt Nam tại Vân Nam, Quế Lâm (Trung Quốc) rồi Quần Ngựa, Sơn Tây, kiêm Cục phó Cục Quân huấn cùng Thiếu tướng Giám đốc Lê Thiết Hùng (từ 1954 là Lê Trọng Tấn) và Thiếu tướng Chính ủy Trần Tử Bình.

Sau đó, ông về Tổng cục Chính trị công tác, đến 1969 thì nghỉ hưu tại Sơn Tây.

Suốt 80 năm cuộc đời với gần 20 năm là chiến sĩ cộng sản quốc tế và hơn 20 năm là cán bộ cao cấp trong quân đội, tên tuổi ông đã làm rạng danh cho lớp người tiên phong trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ông được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người cùng nhiều huân, huy chương cao qúy. Năm 2002, Đào Chính Nam được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng II. Ông là thân phụ của bạn Đào Bá Thanh k7 chúng ta.

Còn ít ngày nữa là tới 15/5/2008 – kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của ông. Tiếc rằng đến hôm nay, chính quyền Hà Tây vẫn chưa thực hiện bất kì đãi ngộ nào với gia đình!

(văn bản 4)

Những di tích lịch sử cách mạng ở Bình Dương

12/09/2006

http://123.30.190.42/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30646&cn_id=48437#

http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30646&cn_id=48437

(ĐCSVN)- Ngoài những khung cảnh thiên nhiên độc đáo và hấp dẫn, Bình Dương còn được biết đến với nhiều địa chỉ di tích lịch sử – dù đã được tôn tạo làm khu di tích hay đã phát triển nhanh chóng với nhiều thay đổi – vẫn luôn là niềm tự hào của người dân nơi đây và mang ý nghĩa giáo dục truyền thống sâu sắc. 
Khu di tích nhà tù Phú Lợi – điểm dừng chân của tuyến du lịch văn hóa lịch sử

Nhà máy toa xe lửa Dĩ An – Di tích lịch sử đấu tranh cách mạng

…Tháng 5-1930, công nhân xe lửa Dĩ An lại tiến hành một cuộc bãi công lớn. Cuộc bãi công kéo dài 5 ngày. Kết quả chủ nhà máy phải chấp nhận các yêu sách. Sau đó, 3 công nhân ưu tú được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam đưa số lượng đảng viên của Chi bộ lên 6 người. Hoạt động của chi bộ đang hồi sôi nổi thì Mạc Trường Vạn đương kiêm Bí thư chi bộ từ tháng 3-1930 bị Xứ ủy Nam Kỳ phát hiện là một tên A.B (tên viết tắt Anti Bolchévik, là nhóm gián điệp chống Cộng sản. Sau này tên Vạn đã bộ trốn). Đồng chí Ngô Gia Tự thay mặt Xứ ủy ra chỉ thị thanh lọc chi bộ này. Song cơ sở chưa kịp thực hiện thì đồng chí Ngô Gia Tự bị Pháp bắt vào đầu tháng 6, sau đó đồng chí Nguyễn Đức Thiệu trên đường đi công tắc đến Cầu Bông – Sài Gòn cũng bị bắt ngày 14 – 7. Trước tình hình đó, đồng chí Mão- Xứ ủy viên- quyết định các đảng viên ở đây phân tán đi các nơi khác. Từ đó (11 -1930), Chi bộ Dĩ An ngừng hoạt động cho đến mấy năm sau mới tái lập. …

Ban Chuyên đề.

Đã xem 9 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments