Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU (Phần 2)

1Bẵng đi một thời gian lâu mấy năm, kể từ khi cùng gia đình đi xe nhà về thăm quê xứ Bắc, tôi không nghe bố đả động gì đến việc cho tôi đi Hà Nội như đã hứa.  Tôi cũng không dám nhắc vì thấy bố càng ngày càng bận.  Bố không còn lễ mễ đi bán hàng xách với cái tay nải trên vai mà đã chịu trụ chân một chỗ.

Ngoài đại lý sản xuất guốc mộc và guốc sơn, đưa thợ từ Bắc vào làm trực tiếp tại nhà, bố còn xây dựng một cửa hàng bán giày dép cho mẹ tôi ở phía cửa Bắc chợ Bến Thành.  Hơn thế nữa, bố còn mở một chi nhánh bán sỉ lẻ guốc tại Cần Thơ để gia đình bà cô ruột của tôi trông nom và nhận phần giao hàng cho khắp các tỉnh miền Tây.

Vả lại chị em tôi đều đã đến tuổi đi học, mẹ tôi ghi danh cho cả hai vào học tại trường tư thục Hồng Bàng ở gần nhà, nên tôi càng tin việc đi Hà Nội như ước mơ chắc là không bao giờ còn có dịp nữa.  Dạo ấy, càng ngày bố tôi càng ăn nên làm ra nên bố xoay đủ nghề và có nhiều tham vọng là khác.

Những năm 40 của thế kỷ 20, tôi đã nghe loáng thoáng bố liều lĩnh thuê cả goong chở hàng vải từ Bắc vào Nam, và có một chuyến bị tóm, bố tôi phải đành bỏ của chạy lấy người, chịu lánh mặt để hàng bị tịch thu, rồi còn mong xoay sở gỡ gạc chuyến khác.

Sau đợt đó, mẹ tôi rất buồn vì bố phải bán căn nhà to đùng ở phía sau chợ Saigon và tạm đi ở nhờ nhà người bà con cùng làng.  Tôi nhìn tình hình gia đình có vẻ căng thẳng, nhưng bố tôi vẫn mạnh miệng hứa sẽ chóng vánh tìm thuê hay trưng căn nhà khác.

Vậy mà đúng mới hay.  Chỉ 2 hôm sau, đang khi gia đình bó rọ vì ăn nhờ ở đậu thì buổi tối bố tôi về hối dọn nhà.  Mẹ con lại lễ mễ tay bọc, tay ôm, lủ khủ theo chân bố, căn nhà mới của gia đình cũng ở ngay trên cung đường nhà cũ, cách nhau chỉ một con đường nhựa.  Từ đó tôi nghiệm ra bố là người năng nỗ, khéo léo và giỏi chạy việc.

Căn nhà này gia đình tôi trú ngụ mãi cho đến khi nhiều biến cố lịch sử ồ ạt xảy ra.  Có lẽ vì đất lành chim đậu, luôn ăn nên làm ra, nên bố mẹ tôi cũng không tính đến việc di chuyển làm chi.  Vả chăng ai cũng đều hiểu mỗi lần dọn nhà là một lần rất cực, nên ở đâu yên thì cố mà giữ lâu bền.

Thế rồi đùng cái năm tôi lên 8 tuổi và chị tôi lên 10 thì bố lại nhắc hỏi có còn giữ ý định đi Hà Nội nữa chăng.  Tôi xin xung phong ngay, chị tôi còn lưỡng lự thì mẹ tôi nhất quyết ngăn.  Bà sợ bố tôi nuôi con không được, phần lúc ấy lác đác đã có những chuyến tàu bị phi cơ đồng minh dội bom ngăn người Nhật chuyển quân, nên mẹ tôi sợ cảnh “ không phải đầu phải tai thì dại “.

Nhưng bố tôi đã quyết và ý tôi cũng ham, nên dẫu mẹ tôi có nói nhiều đến đâu thì coi như cũng không gỡ được nữa.  Sau Tết Nguyên Đán là 3 cha con đưa nhau đi tàu hỏa ra Bắc.  Khí hậu thay đổi dài suốt theo đoạn đường sắt, đối với tôi vẫn còn lạnh, nhưng với bố thì coi như ấm rồi.

Tôi còn nhớ những đêm nằm trên tàu, tôi ngủ thiếp đi, nhưng nghe cái lạnh lùa vào toa lắc lư, mở choàng mắt, thì đã thấy bố mở toang cửa toa và gió đang lồng lộng ùa vào.  Tôi co ro như con tôm luộc và nho nhoe than : bố, con lạnh.

Tôi thấy bố không nói năng gì nhưng khe khẽ đưa tay kéo đóng lùa cửa toa lại.  Cảm giác đi tàu thời ấy thu được ý tưởng lạ, có đêm tôi thấy mình như đang còn ở Saigon, nhưng khi tàu dừng ga, nghe lao xao tiếng người thì tôi không thể đoán được mình đang ở đâu nữa.

Có hỏi thì bố đọc cho những tên xem ra chẳng hiểu vì sao, chẳng hạn bố bảo tàu đang dừng ga Tourane, hay Faifo, hay Tourcham gì đó.  Lạ nhất khi tàu chui hầm, ngắn còn đỡ gặp hầm dài thì cả toa nghe khét lẹt mùi xỉ than, có khi lẫn nhưng vẫn bụi đỏ khè, nếu toa ở gần sát đầu máy.

Ký ức tuổi thơ của tôi cũng để lưu lại một vài dấu ấn trên con đường sắt xuyên Việt.  Tôi nhớ nhất hình ảnh đèo Hải Vân, một bên cao vòi vọi là núi quanh co bao viền mây từng cụm, còn một bên hun hút vực sâu, nơi lăn tăn có ngấn nước xanh của biển và những đợt sóng rì rào dưới đó.  Tôi không nghe rõ tiếng nhưng tôi biết chắc là con đường sắt độc đáo vô cùng cheo leo, lách luồn qua những eo đèo ngất ngưởng và giá có cảnh tai nạn xảy ra thì chỉ còn cách chịu đựng mà thôi, chứ không thể nào thoát khỏi hiểm nguy chờ chực.

Vậy rồi tàu cũng đến ga cuối, 3 cha con lốc thốc bò ra cửa ga Hàng Cỏ trong cái dáng mệt mỏi và chập chùng.  Bố có phần khỏe hơn, tôi thì uể oải, còn bà chị thì trông vô cùng thảm não, bởi liên tục trên toa chị tôi bị say tàu nôn nhiều, bụng lại đói nên càng óc ách, đi đứng rất nhọc.

Bố thuê xe tay dồn tất cả nhà lên và gọi chạy về đường Hàng Bông đệm.  Tôi ngồi tấm tắc vì chẳng hiểu bố thuê chỗ trọ từ hồi nào mà xem có vẻ thạo đường, thạo lối thế.  Tàu đến Hà Nội vào buổi sáng nên cũng dễ trong việc sắp đặt chỗ nghỉ ngơi.

Gia đình thuê cái gác xép con con, trơ vơ giữa khoảng sân sau, thoạt trông như cái chuồng chim câu lừng lững dựng đứng giữa trời.  Phía trước là một cửa hàng với hai tủ gương cao trấn hai bên,  nhường một lối đi vừa phải ở giữa.

Ông bà chủ trông nom một bên còn bố thuê một bên, tên gọi chung của cửa hiệu là AN PHONG.  Hai ông bà chừng đã có tuổi nhưng không có con, nên có vẻ thương chị em tôi lắm.  Bố tôi mở bán hàng da, ví tay, thắt lưng, găng, giày và có cả vài con cá sấu thuộc màu mận chín để rải rác trên nền sỏi làm gầm tủ kính.

Trước nhà là con đường trải nhựa rợp bóng cây, lại thêm một đường tàu điện chạy từ Bờ Hồ lên với tấm bảng con con ghi nơi đến là Ô Cầu Giấy.  Những ngày đầu mỗi khi chuông xe điện báo tàu sắp đến nghe kính coong cũng thấy vui tai.

Hà Nội là như thế, rất nhỏ nhoi, cổ kính và khoan thai, chứ không rộng, ồn và thênh thang như chỗ tôi ở trong Saigon.  Mỗi ngày sáng ra, dù còn đang nằm trong cái chuồng phía sau mà nghe tiếng rao hàng cũng có cảm tưởng như thành phố thức đã lâu và mọi người đang tất bật ngoài đó.

Tôi bắt đầu yêu đất Tràng An, Đông Đô, mặc dù tôi vẫn chưa đặt chân ra ngoài phố, hoặc có dịp nhìn tường tận bằng con mắt mình.  Sở dĩ tôi đã vội vàng có ý như thế có lẽ vì đêm đêm tôi đã nghe trong mùi gió thủ đô như có theo hơi hướm một chút gì kỳ lạ.  Nó như nhè nhẹ tỏa lan khắp hồn người và ru ta tan đi trong cái loãng loãng triền miên và một sự êm đềm rất khó định nghĩa.

Lại nữa, nhà tôi trọ ở gần ngôi nhà thờ chính tòa, nên dù chưa một lần ra thăm thú, song nghe tiếng chuông gióng giả mỗi sáng sớm đánh thức giáo dân đi lễ tôi đã mường tượng hẳn to lớn, uy nghi và trang nghiêm vô cùng.

Bố để chị em tôi nhàn nhã mấy hôm cho quen dần phong thổ, và đất đai con người nơi mới đến, nên rảnh rang tôi thường lân la xuống cửa hàng nhìn đường phố xe cô lại qua.  Hà Nội những năm 40 cũng nhỏ nhít, xe cũng thưa và người cũng ung dung.  Phần lớn là xe tay, một ít xe đạp, lác đác một vài ô tô, chuyến tàu điện tới lui và những con đường êm rợp bóng mát.

Tôi thích ngồi nơi ghế sa lông gỗ, nhìn qua cửa hàng lộng kính nhìn mọi sự trên đường.  Tôi đoán ra Hà Nội và Saigon khác nhau rất nhiều, hàng rong cũng đẫy nhưng mặt hàng và tiếng rao tôi chẳng hiểu được bao nhiêu.

Dần dà, có dịp mạnh dạn ra phố, bạo chân đi đây đi đó, nhận thức mở rộng ra và càng thấy gần Hà Nội và len lén như đã bắt đầu thấy nhớ nhớ Hà Nội dần lên.  Tôi đã dám một mình đi từ nhà qua Hàng Gai ra Bờ Hồ Hoàn Kiếm, mò mẫm đi Hàng Đào, Hàng Trống, Hàng Bạc, Hàng Đường, vòng sang Tràng Thi để nhìn Hà Nội trong nhiều vẻ.

Mắt tôi đã bắt đầu in đậm hình nhà Thủy Tạ, đền Hàng Trống, cửa hiệu Gô Đa, Phố Huyện, nhà thương Phủ Đoãn, Nhà Thờ Lớn và tòa báo Tin Mới, hiệu bán thuốc phiện An Po, nhất nhất đối với có vẻ lạ, từ cung cách cho đến hành động thường ngày.

Xa hơn nữa tôi đã bắt đầu đi ra miệt Hàng Da, Đường Thành, có hôm lẽo đẽo đi chân đến phố Hàng Bông Thợ Nhuộm để rồi thấy Hà Nội như vỡ lớn dần ra và con người Hà Nội có nhiều nét thanh lịch và dung nhan đạo mạo phải biết.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: