Bài 7. Phạm Quỳnh ăn cơm với NAQ nên 1945 Hồ phải giết đi – Đớn đau con của Phạm Quỳnh viết “ Như có Bác trong ngày đại thắng , Đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng…”

A. Bằng chứng và phân tích.

  1. Phạm Quỳnh ăn cơm với NAQ.

            “Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật ký tùy thân nhỏ bằng bốn ngón tay. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobeli).” (Văn bản 1)

  1. Nên 1945 đã chết bí ẩn.

            “Vì vậy, sau đó anh em TNTT cách ly bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám 2 cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập), theo lời anh Hoàng Ngọc Diệu là dân địa phương (Hiền Sĩ), kể sau này.

…Mà lúc ấy trong dân chúng, buổi đầu cách mạng, cũng là trong ngày đầu chính quyền mới do dân làm chủ thì mấy tiếng Việt Gian, diệt Việt gian kèm theo hành động lan truyền… khắp mọi nơi, nhất là đối với những người có “thành tích” thân pháp.

Mà hai cụ họ Phạm là Ngô thì rõ ràng quá, tránh sao lúc trong dân, chỉ mới hưởng 1 ngày đầu chính quyền cách mạng, còn căm thù bọn thống trị Pháp và đám tay chân người bản xứ của chúng, có hành động manh động. Đó hẳn là “nỗi uẩn khúc” cuối cùng của ông chủ báo Nam Phong… cho nên dù cái ngày đó là ngày 23 tháng Tám năm 1945 hay ngày 6 tháng 9, nghĩa là trên 10 ngày sau cũng chỉ là trong phạm vi giai đoạn thời gian của sự việc.” (Văn bản 2)

  1. Lê Thiệu Huy có mặt trong vụ giết Phạm Quỳnh.

            “Ba TNTT được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy (con cụ Phó bảng Lê Thước, tuy nhà ở Đức Thọ, Hà Tĩnh vẫn vô Huế tham gia TNTT bảo vệ cách mạng).

…Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện. Hai tên ở ngoài hiên vội chạy vào nhà. Tên Castella, thiếu tá chỉ huy ra nói chuyện, hỏi ngay: “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh.

Lê Thiệu Huy nói: “Tôi được chỉ thị của Chính phủ tôi là bắt giữ các anh lại!”. Tên Castella vặn: “Chính phủ nào”. Đáp ngay: “Chính phủ lâm thời!”. Castella nói xấc: “Quel drôle de… gouvernment!”. Các anh rạo rịt tay súng, nhưng Lê Thiệu Huy vẫn bình tĩnh: “Chính phủ là thiêng liêng, dù là Chính phủ lâm thời…”.

Nhưng anh em đã ào xông vào… Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tùy lãnh đạo, ngoài ra không biết gì.

Vì vậy, sau đó anh em TNTT cách ly bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám 2 cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập)… ” (Văn bản 2)

  1. Lê Thiệu Huy chết bí ẩn ngay sau đó.

            “Ngày 21 tháng 3 năm 1946, vì lực lượng quân ta ít, không đủ chống đỡ với một lượng mạnh hơn, tinh nhuệ hơn của giặc Fap được quân Anh giúp sức, Thakhet bị thất thủ. Tỉnh thế nguy ngập, tôi và một số anh em trong chính quyền cùng với anh Lê Thiệu Huy xuống xuồng vượt sông Mê công sang Xiêm đề tạm tránh. Khi xuồng ra quá nửa giòng sông thì máy bay địch đến đồng thời với lực lương địch đang tràn vao Thakhet, chúng xả súng bắn theo những xuồng của zân chúng và thuyền của chúng tôi đang lênh đênh trên mặt sông. Nói đến đây tôi thấy uất giận và căm tức quân zã man giặc Fap. Đang fang fang vượt cơn nguy hiểm thì bỗng trong thuyền thốt lên một tiếng “ối”, tôi quay lại thì than ôi ! anh Lê Thiệu Huy đã trúng đạn rồi. Đạn trúng ngay zữa bụng xuyên ra sau lưng, máu chảy nhiều. Anh em vội băng bó lại cho cẩn thận, nhưng thuyền chưa sang đến bờ thì mặt anh Huy tái dần, chỉ kịp thốt ra máy câu lẩm bẩm và tắc thở. ” (Văn bản 4)

            Nhận Xét:

Lê Thiệu Huy chết bên Lào có bằng chứng là bức thư của Hoàng Thân Su Pha Nu Vông ư? Nếu chúng ta biết rằng Hoàng Thân Su Pha Nu Vông chỉ là một con quỷ mà Hồ đã xuất khẩu sang lào (Xem quyểnQuyển 39. Hồ xuất khẩu quỷ sang Lào như thế nào.) thì chúng ta sẽ biết đây là một chuyện láo lếu!

(Bức thư đó xuất hiện (Ngày 7 tháng 11 năm 1951) đây là một chuyện hợp lý hóa cái chết cho thêm phần long trọng của Lê Thiệu Huy mà thôi!)

Sự thật là:

Hồ giết Phạm Quỳnh Vì PQ biết NAQ!

Hồ giết Lê Thiệu Huy để bịt miệng vì đã sai Huy giết PQ!

Đó là sự thật! (Xem thêm tại quyển Quyển 23. Dùng xong là giết – 3 ngày giết 2 Thứ và Bộ trưởng bộ Công An – Bán mạng cho quỷ 5 Bộ trưởng bộ Y tế chết khi đang tại vị. (Dùng tay chân giết Cộng Sản và trí thức Việt sau đó thì quay lại giết họ.))

  1. Con rể Phạm Quỳnh – Giáo sư Tôn Thất Bình – Hiệu Trưởng trường Tư Thục Thăng Long – (Nơi quỷ Giáp và quỷ Hoàng Minh Giám nói là dạy ở đó) thì 1945 đã mất tích “Chồng bà Gía là Tôn Thất Bình, dậy Thăng Long cùng ông Giáp, Đặng Thái Mai, năm 1945 thì “mất tích”, ”! (Văn bản 5)
  1. Điều gì đây?

Hãy đọc bài: “LỊCH SỬ ĐÔI KHI TRỚ TRÊU NHƯ VẬY ĐÓ” (Văn bản 6) để thấy một điều gì đó!

  1. Đớn đau con của Phạm Quỳnh viết “ Như có Bác trong ngày đại thắng , Đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng…” (Văn bản 7)
  1. nghiên cứu.

            (văn bản 1)

http://phamquynh.wordpress.com/2010/02/05/t%C6%B0-li%E1%BB%87u-s%C6%A1n-tung-ph%E1%BA%A7n-3-2/

TƯ  LIỆU CỦA NHÀ VĂN SƠN TÙNG

VỀ MỐI THÂN TÌNH GIỮA

NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI

THƯỢNG CHI PHẠM QUỲNH

…PHẦN 4: NGUYỄN ÁI QUỐC ĐÍCH THÂN TỔ CHỨC “BỮA CƠM BẮC, THẾT KHÁCH BẮC”

Lời dẫn của Phạm Tôn: Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật ký tùy thân nhỏ bằng bốn ngón tay. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobeli). Còn trên tạp chí Nam Phong, khi đăng Pháp Du Hành Trình Nhật Ký, ông viết công khai: “Thứ năm 13 tháng 7 năm 1922: (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện tathật là vui vẻ thỏa thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỷ niệm dân quốc (tức ngày quốc khánh Pháp 14/7-PT chú)…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội của Paris thế nào

—-o0o—-

Hà Nội – Chiếu Văn

8-12-2008

12/11 Mậu Tý

(Chữ ký và con dấu của nhà văn Sơn Tùng)

…Địa chỉ liên hệ blog chúng tôi là:

PHẠM TUYÊN: N2  P305 Ngõ 40 Vạn Bảo, Ba Đình, Hà Nội

Điện thoại: (+84) – 4 – 3832.5283

Mobile: (+84) – 913.043.580

Email: phamtuyen1930@yahoo.com.vn

hoặc

TÔN THẤT THÀNH: 82 Lý Chính Thắng, Phường 8, Quận 3, Tp.HCM

Điện thoại: (+84) – 8 – 3848.0803

Email: thanh.phamton@gmail.com

(văn bản 2)

Về cái chết của ông chủ bút tạp chí Nam Phong

17/12/2005

http://www.tienphong.vn/Van-Hoa/32173/Ve-cai-chet-cua-ong-chu-but-tap-chi-Nam-Phong.html

Tôi cũng ngạc nhiên đi đến phân vân khi trên số 46 báo TPCN, nhà báo Xuân Ba ghi trên đầu cột số 5 là… “Nhờ hỏi thăm các chứng nhân còn sống mới biết Phạm Quỳnh mất ngày 6 tháng 9 năm 1945…”

…Thiếu tướng Phan Hàm sau này, lúc đó được chú Trần Hữu Dực phụ trách Việt Minh Trung bộ, chỉ định làm chủ tịch Thanh niên tiền tuyến (TNTT).

…Nhà các quan có bảo vệ trên 20 người là đông, nên “bên mình” cũng phải lo… tác chiến. Đã hẹn trước với anh Phan Tử Lăng chỉ huy đồn lính khố xanh (là Việt Minh TNTT) để lo 2 xe và mấy anh thanh niên sẽ cùng hướng cầu An Cựu. Trước khi đến nhà cụ Thượng, 2 anh cũng đã xin ý kiến của Việt Minh Thuận Hóa là anh Lê Tư Đồng: Nếu họ chống cự hay có triệu chứng bỏ chạy thì… bắn. Đến 1g trưa, tức 13g (1), nhanh nhẹn và “oai hùng” thẳng tiến. Xe đỗ gần cổng vào, 2 vị “thừa phái” ung dung đi vào không ai hỏi gì.

…Bắt xong Phạm Quỳnh, mới họp lính bảo vệ, giải thích và vận động họ, vì chính quyền chưa thuộc về cách mạng. Trưa đó Phạm Khuê và Phạm Giao đều đi vắng.

…Đến trường hợp Tổng đốc Ngô Đình Khôi! Kể về tội thì Khôi đâu có lớn bằng Quỳnh, nhưng nguy hiểm hơn Quỳnh nếu phải bảo vệ cách mạng. Năm 1985 đó, nhiều người ở Huế vẫn ủng hộ Khôi, cụ thể là một số anh em trong trường TNTT: có tin là đám ủng hộ Khôi sẽ chống lại cách mạng.

Ngay sau đó, anh em TNTT đưa Phạm Quỳnh đến giam ở lao Thừa phủ, có cả Nguyễn Tiến Lãng cũng mới bị bắt. Đó là lệnh của Việt Minh Trung bộ.

…Phan Hàm buồn buồn: “Một cái chết khó đoán, nhưng đúng là Huân bị… chết oan”. Bắt xong thì tin ở Huế loan đi là đã cướp chính quyền. Cách mạng tháng Tám thành công: Đó là ngày 23 tháng Tám năm 1945.

…Và cũng tình cờ làm sao, khi mấy tên biệt kích nhảy dù an toàn, đang đi… về Huế, bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không biết gì đã đành, báo cáo về Huế mấy vị lãnh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.

Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và 6 tên biệt kích dù chỉ cách có… 1 hàng rào!

Anh em TNTT đã “hốt” thực sự. Anh Phan Hàm kể tiếp: “Tin đó làm anh em TNTT hốt, vội đi xe có đầy đủ vũ khí ra gấp Hiền Sĩ, vừa đi vừa bàn kế hoạch”.

Ba TNTT được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy (con cụ Phó bảng Lê Thước, tuy nhà ở Đức Thọ, Hà Tĩnh vẫn vô Huế tham gia TNTT bảo vệ cách mạng).

Anh Lê Thiệu Huy giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi bí mật tiếp cận hàng rào, anh Lâm Quang Minh nấp, kê súng lên vai anh bạn sẵn sàng như đã bàn là “nếu chúng trở chứng thì đánh”. Lúc ấy 2 tên biệt kích Pháp ngồi ngoài hiên, bọn còn lại ở trong nhà.

Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện. Hai tên ở ngoài hiên vội chạy vào nhà. Tên Castella, thiếu tá chỉ huy ra nói chuyện, hỏi ngay: “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh.

Lê Thiệu Huy nói: “Tôi được chỉ thị của Chính phủ tôi là bắt giữ các anh lại!”. Tên Castella vặn: “Chính phủ nào”. Đáp ngay: “Chính phủ lâm thời!”. Castella nói xấc: “Quel drôle de… gouvernment!”. Các anh rạo rịt tay súng, nhưng Lê Thiệu Huy vẫn bình tĩnh: “Chính phủ là thiêng liêng, dù là Chính phủ lâm thời…”.

Nhưng anh em đã ào xông vào… Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tùy lãnh đạo, ngoài ra không biết gì.

Vì vậy, sau đó anh em TNTT cách ly bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám 2 cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập), theo lời anh Hoàng Ngọc Diệu là dân địa phương (Hiền Sĩ), kể sau này.

Sự thật quá rõ ràng, vì ngày 23/8, sau khi tuyên bố chính quyền Cách mạng được thành lập, chỉ mới vừa đúng 1 ngày, người ta đang lo bao việc lớn, khi quân Nhật đầu hàng còn “bảo vệ các cơ sở” để bàn giao cho quân Tàu Tưởng vào giải giáp, lại tin quân Pháp theo quân Anh đang có âm mưu chiếm lại Sài Gòn, đánh Việt Nam.

Cũng là lúc Bảo Đại còn đó, đang ngồi ở điện Kiến Trung, mọi việc đều cấp bách thì cái chuyện giải 2 cụ ra xa thành phố cũng chỉ là việc nhỏ, tránh những người chống đối phá quấy.

Mà lúc ấy trong dân chúng, buổi đầu cách mạng, cũng là trong ngày đầu chính quyền mới do dân làm chủ thì mấy tiếng Việt Gian, diệt Việt gian kèm theo hành động lan truyền… khắp mọi nơi, nhất là đối với những người có “thành tích” thân pháp.

Mà hai cụ họ Phạm là Ngô thì rõ ràng quá, tránh sao lúc trong dân, chỉ mới hưởng 1 ngày đầu chính quyền cách mạng, còn căm thù bọn thống trị Pháp và đám tay chân người bản xứ của chúng, có hành động manh động. Đó hẳn là “nỗi uẩn khúc” cuối cùng của ông chủ báo Nam Phong… cho nên dù cái ngày đó là ngày 23 tháng Tám năm 1945 hay ngày 6 tháng 9, nghĩa là trên 10 ngày sau cũng chỉ là trong phạm vi giai đoạn thời gian của sự việc.

Ngày 02-12-2005

Nhà văn Thái Vũ

(1) Bà Phạm Thị Ngoạn ghi 14h

(văn bản 3)

Chương II

Ngày 21/5/2012. Cập nhật lúc 10h 30′

LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO, LÀO- VIỆT NAM TRONG 30 NĂM CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG (1945-1975)

  1. LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 – 1954).

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT2251236554

…Tiêu biểu cho tình đoàn kết và liên minh chiến đấu của Liên quân Lào- Việt trong năm đầu của cuộc kháng chiến là trận chiến đấu bảo vệ Thà Khẹc ngày 21 tháng 3 năm 1946. Đây là trận đánh lớn nhất của Liên quân Lào – Việt kể từ ngày thành lập, đã nêu một tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm, một biểu tượng cao đẹp về tình đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào. Tinh thần chiến đấu và sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Liên quân Lào- Việt, trong đó có chiến sĩ Việt Nam Lê Thiệu Huy đã “nhắc nhở cho thanh niên Lào, cho nhân dân Lào, luôn luôn bền bỉ chiến đấu để giết đế quốc xâm lăng và giành độc lập thực sự cho đất nước”5….

Chú thích

  1. Ký ngày 16 tháng 10 năm 1945.
  2. Ký ngày 30 tháng 10 năm 1945.
  3. Chỉ thị kháng chiến kiến quốc, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8 1945-1947, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 26.
  4. 4.Từ năm 1948,đổi thành Liên khu 4.
  5. Thư của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông gửi cụ Lê Thước đề ngày 7 tháng 11 năm 1951. Phòng Tư liệu Viện nghiên cứu Đông Nam Á.

(văn bản 4)

Thư của hoàng thân Su Pha Nu Vông

 Thứ Sáu, ngày 18 tháng 3 năm 2011

http://tinhlaclethuoc.blogspot.com/

                                                        PADHETLAO
                                            Độc lập – Thống nhất – Fú cường
                                              ======================
Chính Fủ Lào Kháng Chiến
              *******                                                                          Ngày 7 tháng 11 năm 1951
                                                             Kính gửi : Cụ Lê Thước,
                                                                               Thân sinh của Chiến sỹ Lê Thiệu Huy.
          Tôi nhận được thơ ngài kèm theo bản điếu văn kỷ niệm ngày từ trần của anh Lê Thiệu Huy. Tôi xin cảm ơn ngài và cùng gia quyến nghiêng mình trước anh linh của chiến sỹ đã hy sinh anh zũng cho đất nước, cho nhân loại và cho 2 zân tộc Lào-Việt nói chung.
          Thưa ngài, anh Lê Thiệu Huy người con yêu quý vào bậc nhất của ngài mất đi, không những riêng trong gia quyến mất một ngươi con yêu dấu mà nước Việt Nam và nhân dân Lào mất một chiến sỹ đầy tinh thần hy sinh vì công lý. Riêng tôi cái chết của anh Lê Thiệu Huy không khỏi làm cho tôi bùi ngùi và . Anh Lê Thiệu Huy đã sát cánh cùng tôi chiến đấu để giải fong cho nước Lào, cho zân tộc Lào. Tinh thần hy sinh cao cả ấy đã nhắc nhở cho thanh niên Lào, cho nhân dân Lào luôn luôn bền bỉ chiến đấu để ziệt đế quốc xâm lăng và giành Độc lập thực sự cho đất nước.
          Và sau đây, với lòng mong mỏi của quý quyến, tôi xin tường thuật cái chết anh zũng của anh Lê Thiệu Huy để quý quyến rõ và khi có zịp găp ngài tôi sẽ kể rõ hơn vì tôi được chứng kiến cái chết cao cả của anh Lê Thiệu Huy. Ngày 21 tháng 3 năm 1946, vì lực lượng quân ta ít, không đủ chống đỡ với một lượng mạnh hơn, tinh nhuệ hơn của giặc Fap được quân Anh giúp sức, Thakhet bị thất thủ. Tỉnh thế nguy ngập, tôi và một số anh em trong chính quyền cùng với anh Lê Thiệu Huy xuống xuồng vượt sông Mê công sang Xiêm đề tạm tránh. Khi xuồng ra quá nửa giòng sông thì máy bay địch đến đồng thời với lực lương địch đang tràn vao Thakhet, chúng xả súng bắn theo những xuồng của zân chúng và thuyền của chúng tôi đang lênh đênh trên mặt sông. Nói đến đây tôi thấy uất giận và căm tức quân zã man giặc Fap. Đang fang fang vượt cơn nguy hiểm thì bỗng trong thuyền thốt lên một tiếng “ối”, tôi quay lại thì than ôi ! anh Lê Thiệu Huy đã trúng đạn rồi. Đạn trúng ngay zữa bụng xuyên ra sau lưng, máu chảy nhiều. Anh em vội băng bó lại cho cẩn thận, nhưng thuyền chưa sang đến bờ thì mặt anh Huy tái dần, chỉ kịp thốt ra máy câu lẩm bẩm và tắc thở. Sau đó không được mấy phút, tôi cũng bị trúng đạn…Thuyền vào đến bờ, anh em đem tử thi anh Huy lên và tổ chức mai táng. Đứng trước thi hài anh Huy có đông dủ anh em việt kiều và người Lào ở Xiêm thăm viếng và tỏ lòng mến tiếc…Ngáy 21 tháng 3, ngày kỷ niệm cái chết anh zũng của anh Huy và là ngày căm hờn của toàn nhân dân Lào và riêng gia quyến ngài.
               Đến đây tôi xin thành thật cảm ơn ngài và chúc quý quyến luôn luôn mạnh khoẻ.
                                                                          Ký tên
                                                                 Su Pha Nu Vông

Bản gốc bức thư.

https://sites.google.com/site/tinhlaclethuoc/liet-si-le-thieu-huy-1/thu-cua-hoang-than-xu-pha-nu-vong-gui-than-phu-ls-le-thieu-huy

(văn bản 5)

Lan man Huế 2

http://nguoibangia.blogspot.com/2010/08/to-e-la-phai-keo-dai-cai-oan-lam-quen.html

Chien Tran nói…

Cái blog Phạm Quỳnh là của Phạm Tôn. Tôn là cháu, có thể hiểu là “cháu ông Phạm”, vì tác giả là Tôn Thất Thành, anh Tôn Thân, con bà Giá nói ở bài 1. Chồng bà Gía là Tôn Thất Bình, dậy Thăng Long cùng ông Giáp, Đặng Thái Mai, năm 1945 thì “mất tích”, cho nên cũng có thể hiểu là họ mẹ – Phạm- ghép với họ bố – Tôn. ÔNg Thành làm báo Nhân dân, về hưu rồi, đang sống SG
Đường chính trị của PQ còn nhiều điều phải bàn. Nhưng đóng góp về văn hoá thì lớn lắm.

(văn bản 6)

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 3 tháng 7 năm 2012.

LỊCH SỬ ĐÔI KHI TRỚ TRÊU NHƯ VẬY ĐÓ

http://phamquynh.wordpress.com/2012/07/13/l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD-doi-khi-tr%E1%BB%9B-treu-nh%C6%B0-v%E1%BA%ADy-do/

Khoan

Đây là toàn văn bài Tiến sĩ Sử học Khoan gửi cho chúng tôi và đã lên Blog PhamTon tuần thứ 3 tháng 4 năm 2012. Vậy mà tính đến ngày 28/6/2012 đã có 18.076 lượt bạn đọc truy cập. Xin mời các bạn đọc và suy nghĩ vì sao lại có nhiều người truy cập như vậy:

Theo của Tỉnh ủy Thái Bình (Sách Thái Bình, NXB Văn hóa – Thông tin, 2010, trang 1043), Vi Văn Định (1880-1975) người thôn Bản Chu, xã Khuất Xá, châu Lộc Bình, phủ Trường Khánh, tỉnh Lạng Sơn (Nay thuộc huyện Lộc Bình – Lạng Sơn), là con của cựu Tổng đốc Lạng Sơn Vi Văn Lý. Phạm Quỳnh sinh sau Vi Văn Định 13 năm. Năm 1908, Trường Đông Kinh Nghĩa Thục của Cụ Cử Can ở phố Hàng Đào bị Pháp đóng cửa. Chàng học sinh con cháu nhà nho nghèo đến mấy đời ấy đã cùng các bạn tham gia đấu tranh phản đối nhà đương cục. Bị Pháp bắt, nhưng rồi được thả vì còn tuổi vị thành niên. Năm 1920, 40 tuổi, Vi Văn Định “làm” tuần phủ Cao Bằng. Trước đó ba năm, năm 1917, Phạm Quỳnh chớp lấy thời cơ Pháp muốn mở tạp chí Nam Phong, đã nhận lời làm chủ bút phần quốc ngữ của tạp chí ấy, cốt có phương tiện để truyền bá chữ quốc ngữ mới phôi thai, luyện dần thành quốc văn, làm vũ khí đấu tranh cho dân tộc, xây dựng nên nền quốc học vững chắc làm cơ sở cho độc lập về tinh thần, tiến đến độc lập về chính trị. 1922, Vi Văn Định là tuần phủ Phúc Yên. Cũng năm 1922 ấy, Phạm Quỳnh đi Pháp dự Hội chợ Đấu xảo Đông Dương tại Marseille, có tranh thủ lên Paris ba tháng. Tại đây, ít nhất ông gặp và trò chuyện với Nguyễn Ái Quốc ba lần. Một lần được Nguyễn Ái Quốc đích thân tổ chức “bữa cơm Bắc thết h Bắc” ở nhà Phan Văn Trường, số 6 Rue Des Gobeli. Một lần tại h sạn Monparnasse do Lê Thanh Cảnh và Trần Đức mời, cùng Phan Châu Trinh. Nguyễn Ái Quốc, Vĩnh, Cao Văn Sến bàn việc nước, mỗi người trình bày chủ thuyết của mình. Ông còn nhờ các bạn bè người Pháp quen biết từ hồi họ còn ở Việt Nam, tìm được đường lên đến tận diễn đàn Viện Hàn Lâm Pháp. Phạm Quỳnh dõng dạc nói trước giới tinh hoa của nước Pháp là dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng mà ai muốn viết gì lên cũng được. Mà là một quyển sách cổ, đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai. Nếu muốn, cũng chỉ có thể đóng quyển sách ấy lại theo lối mới cho hợp thời trang, chứ không thể viết một thứ chữ lên những trang đã đầy chữ rồi. Bài diễn thuyết của ông thuyết phục đến nỗi các viện sĩ nhất loạt đứng dậy vỗ tay, một hiện tượng chưa từng xảy ra tại đây. 1925, Vi Văn Định làm tuần phủ Hưng Yên. Cũng năm 1925 đó, bị đưa ra xét xử ở Tòa Đề hình Hà Nội. Nhà báo Phạm Quỳnh viết bài trên báo Indochine Républicaine (Đông Dương Cộng Hòa) bênh vực nhà chí sĩ “chỉ có một tội là tội yêu nước” như tất cả người Pháp yêu nước Pháp chống giặc ngoại xâm xưa nay. Ông cốt nói rõ với những người Pháp còn có lương tri ở Đông Dương và càng muốn nói thẳng với người Pháp ở ngay chính nước Pháp. Phạm Quỳnh đã góp phần cùng nhân dân ta hồi ấy đấu tranh đòi khoan hồng cho . Kết quả là, từ một án tử hình, tám án chung thân hạ dần xuống mức cụ chỉ còn bị quản chế ở Bến Ngự xứ Huế. Trước đó một năm, năm 1924 nhân kỷ niệm ngày giỗ , Phạm Quỳnh (1893-1945), 31 tuổi, đã nói “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Năm 1929, Vi Văn Định vinh thăng Tổng đốc Thái Bình.

Thời kỳ Vi Văn Định làm Tổng đốc Thái Bình, phong trào cách mạng ở tỉnh này bị khủng bố khốc liệt nhất. Trong nhiều bài báo, cuốn sách – Vi Văn Định được miêu tả là một viên quan khét tiếng gian ác, thẳng tay đàn áp, bắt bớ những người trong “hội kín”, quần chúng yêu nước chống đối chính quyền, điển hình là các vụ đàn áp tháng 2 năm 1930 tại huyện lỵ Phụ Dực; tháng 5 năm 1930 trong vụ nhân dân Duyên Hà – Tiên Hưng biểu tình; tháng 10 năm 1930, tại Tiền Hải. Vi Văn Định có một đội quân bảo vệ toàn là người dân tộc Tày, do một thầy Tàu (Trung Quốc) dạy võ, chỉ huy. Trên mui xe ô tô của Tổng đốc có lá cờ thêu “Thái Bình đốc bộ đường”.

Tháng 5 năm 1930, tỉnh ủy Thái Bình do Tống Văn Phổ làm Bí thư, quyết định phải xử tử Vi Văn Định, giao trách nhiệm cho Tô Thúc Rịch t bản án (Tô Thúc Rịch (1900-1980) quê Thư Điền, Tiền Hải, bị bắt khi tiếp cận Vi Văn Định, trong người có súng lục, sau năm tháng chịu đòn tra tấn, nhận án tù khổ sai chung thân, bị đày ra Côn Đảo. Tháng 9 năm 1945 tham gia kháng chiến Nam Bộ. Năm 1954, ra Bắc làm chánh văn phòng Bộ Y Tế). Công việc bại lộ, Tô Thúc Rịch bị bắt, Vi Văn Định vẫn an toàn.

Trong thời gian làm “cha mẹ dân” Thái Bình, nói cho công bằng Vi Văn Định cũng có cho xây được một số công trình thủy lợi, đào mới hàng chục con sông, tu sửa đê sông, đê biển, làm mới nhiều cầu nối liền các huyện với nhau, dựng mới một số nhà thương, trường học.

Ngày 4/12 năm 1931, nhà báo Phạm Quỳnh đã đưa ra trước Hội đồng Cấp cao Đông Dương về Kinh tế – Tài chính, đòi bãi bỏ chế độ độc quyền tàn bạo về sản xuất rượu gạo ở Bắc Kỳ. Cuộc vận động này đã thành công, mở ra thị trường rượu ở Bắc Kỳ có cạnh tranh ở mức độ nhất định, khai thông phong trào cải cách ở Đông Dương và những nỗ lực bải bỏ độc quyền cả ở các mặt kinh tế lẫn chính trị. Năm 1932, Phạm Quỳnh vào Huế làm Thượng thư Bộ Quốc dân kiêm Tổng lý đại thần ngự tiền văn phòng. Thì ngay cuối năm sau, ông viết thư cho Louis Marty Chánh mật thám Pháp, đề nghị khoan hồng cho người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Công Nghi bị kết án đầy ra Côn Đảo hoặc nước ngoài vì tội “âm mưu cộng sản ở Kiến An”.

Năm 1942, Vi Văn Định nghỉ hưu, về sống ở Lạng Sơn. Sau chín năm làm Thượng thư Bộ Quốc dân , cũng năm 1942 ấy, Phạm Quỳnh làm Thượng thư Bộ Lại, giữ chức tương đương Thủ tướng sau này. Nhưng, ngay cả ở cương vị có quyền sinh quyền sát trong tay này, ông cũng không có hành động nào chống phá cách mạng, làm hại đồng bào. Ngày 8/1/1945, trước vụ Nhật đảo chính Pháp có mấy tháng, viên Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn đã viết công văn mật, tối khẩn gửi Toàn Quyền Đông Dương Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant nêu rõ: “Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó (chỉ Phạm Quỳnh) là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay, đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng…”

Sau năm 1945, Vi Văn Định bị nhiều tù chính trị cũ yêu cầu “xem xét” hành vi của ông. Bấy giờ ông có hai con rể là Tiến sĩ ên và giáo sư Hồ Đắc Di, một cháu rể là bác sĩ Tôn Thất Tùng tham gia công việc trong chính phủ Cụ Hồ. Một số thông tin cho biết Chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã chỉ thị phải “bảo vệ” ông. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc sắp nổ ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Con cháu cụ Vi đều đi với Cách mạng cả. Hãy mời cụ về Hà Nội.” Rồi Chủ tịch nước giao cho Ngọ, một cán bộ cách mạng từng bị Vi Văn Định bắt giam, cầm giấy mời của Chính phủ trân trọng giao tận tay cụ Vi, để cụ thấy Chính phủ ta “không lấy tội cũ làm án mới”, thực tâm đại đoàn kết. Sau đó, Chính phủ ta đã đưa cụ lên Việt Bắc tham gia kháng chiến. ( Ngọ (1906-1954) quê Vĩnh Bảo, Hải Phòng, gia đình theo đạo Thiên Chúa. Tháng 3/1926 tham gia bãi khóa để tang Phan Chu Trinh. Cuối 1929 vào Đảng Cộng Sản. Tháng 10 năm 1930 bị bắt, nhận án 20 năm khổ sai, bị đầy ra Côn Đảo. Sau 1945 được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình; 1949 là Khu Ủy viên Liên khu III).

Tuy là hai con người hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng có điểm giống nhau (như cùng có con cháu tham gia kháng chiến…), mà sao số phận lại nhau một trời một vực, kẻ thì “được”, người lại “mất”, mất quá nhiều!

Lịch sử đôi khi trớ trêu như vậy đó.

N.V.K

(văn bản 7)

Phạm Tuyên http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Tuy%C3%AAn

Phạm Tuyên (sinh năm 1930) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng, cựu Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội,[1] tác giả của bài hát “Như có Bác trong ngày đại thắng“, một bài hát cộng đồng được nhiều người hát tại Việt Nam.

…Các tác phẩm tiêu biểu

1. Pham Quynh an com cung NAQ 2. PQ an com cung NAQ 3. Le Thieu Huy chu tri vu thu tieu PQ 4. Le Thieu Huy chet bi an 5. Con re PQ cung mat tich

Đã xem 12 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
3 Comments
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments