Bài 5. Bác Hồ tiêu diệt Tiểu Đoàn 307 cũ như thế nào?

 Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang, Cửu Long Giang sóng trào nước xoáy, Cửu Long Giang sóng trào nước xoáy. Ai đã từng nghe tiếng tiểu đoàn, tiếng tiểu đoàn 307….

A. Bằng chứng và phân tích.

A1. Có 2 Tiểu Đoàn 307 khác nhau.

“Tiểu đoàn 307 là tiểu đoàn chủ lực cơ động đầu tiên tại Nam bộ của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Tiểu đoàn được nhiều người biết đến một phần cũng do một bài hát cùng tên của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí viết về tiểu đoàn này. Trên thực tế, vẫn còn một tiểu đoàn 307 khác cũng từng tham chiến tại miền Nam. Cả 2 tiểu đoàn này về sau đều được tuyên phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.(Văn bản 1)

Lưu ý: Trong quân đội thường không có hiên tượng này xảy ra, ở đây là chúng đã thủ tiêu 307 cũ rồi hình thành 307 mới.

A2. Hồ thủ tiêu tiểu đoàn 307 cũ như thế nào.

  1. Tư lệnh Khu 8 Trần Văn Trà

“Cuối năm 1949, Tư lệnh Khu 8 Trần Văn Trà phát động sáng tác ca khúc ca ngợi Tiểu đoàn 307 mới thành lập nhưng đã đánh thắng nhiều trận lớn. ” (Văn bản 1)

Sự thật “Tư lệnh Khu 8” cũ đã bị giết! Trần Văn Trà là quỷ mạo tên (Xem Quyển 26. Hồ phá hiệp định Gionevo, Mượn tập kết để điệu hổ lý sơn rồi giết các kỳ cựu Cộng Sản Miền Nam – rồi cho quỷ giả tên, hoặc cho ngồi chơi ngoài Miền Bắc.)

  1. Nhà thơ Nguyễn Bính

“Nhà thơ Nguyễn Bính sáng tác bài thơ “Tiểu đoàn 307” đăng trên báo “Tổ quốc” – Khu 8” (Văn bản 1)

Lưu ý: Nguyễn Bính đã bị giết bí ẩn (Xem Quyển 13. Giết các trí thức lớn của Việt Nam. )

  1. nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí

“nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc thành bài hát nổi tiếng “Tiểu đoàn ba lẻ bảy”.” (Văn bản 1)

Lưu ý: Sau thành người lang thang và chết bí ẩn:

“cưới vợ và sống ở đây khá lâu (từ những năm cuối 1950 đến cuối những năm 1960). Sau đó lên Sài Gòn (làm công cho một số hãng sản xuất thương mại). Sau giải phóng, gia đình ông lại trở về Vĩnh Mỹ A (quê vợ của nhạc sĩ). Mấy năm sau, ông bị ngã dẫn đến tai biến, bị liệt một phần chân tay và mất vào tháng 2-1979.” (Văn bản 2 – ảnh 2)

  1. Sư đoàn trưởng Đồng Văn Cống.

“Tính đến năm 1954, Tiểu đoàn 307 đã hơn đánh 110 trận lớn nhỏ. Sau Hiệp định Geneve, Tiểu đoàn 307 hành quân về tiếp quản thị xã Cà Mau và thị trấn Tắc Vân, sau đó xuống tàu tập kết ra Bắc, được tái tổ chức lại thành Tiểu đoàn 7, thuộc Trung đoàn 3, Sư đoàn 330[3] đóng quân tại Thanh Hóa dưới quyền chỉ huy của Sư đoàn trưởng Đồng Văn Cống.” (Văn bản 1)

Sự thật “Sư đoàn trưởng” cũ đã bị giết! Đồng Văn Cống là quỷ mạo tên (Xem Quyển 27. Đồng Khởi 1960 là giết nốt Cộng sản và trí thức Nam bộ rồi đưa Quỷ vào thành lập Mặt Trận Giải Phóng miền Nam việt Nam.)

  1. Lãnh đạo tiểu đoàn 307 với rất nhiều dấu hỏi (?).

Đỗ Huy Rừa, Tiểu đoàn trưởng 1948-1949

Nguyễn Văn Sỹ, Tiểu đoàn phó 1948-?

Hồng Long hay Nguyễn Sĩ Thao, Chính trị viên từ 1943,

Nguyễn Văn Tiên, Tiểu đoàn trưởng 1949-1952

Đào Quốc Xới, Tiểu đoàn phó ?-?

Phạm Hồng Sơn, Tiểu đoàn trưởng 1952-1954

Vũ Đình Thông, Tiểu đoàn phó ?-?

Nguyễn Văn Tiên, Chính trị viên kiêm Bí thư Đảng ủy 1952-1954” (Văn bản 1)

Lưu ý: Vì sao có nhiều dấu hỏi? Vì quỷ đã giết hết Cs thời đó nên không nhớ hết!

A.3 Có 3 người tiểu đoàn trưởng thì.

1 Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 307 là ông Ðỗ Huy Rừa. “ông hy sinh năm 1949.”

“Lịch sử của Tiểu đoàn 307 thời chống Pháp có 3 người tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 307 là ông Ðỗ Huy Rừa quê ở làng La Ngạn xã Yên Đồng huyện Ý Yên Tỉnh Nam Định. Ông đã chỉ huy Tiểu đoàn tại các trận Mộc Hóa, La Bang, ông hy sinh năm 1949. ” (Văn bản 1 – ảnh 1)

  1. Nguyễn Văn Tiên, Tiểu đoàn trưởng 1949-1952 “người về sau trở thành một trong những chỉ huy không quân nổi tiếng, được thăng đến hàm Trung tướng.” (Văn bản 1)

Thì đã bị quỷ giết cả 2 vợ chồng rồi một cặp vợ chồng quỷ mạo tên.

“Trong suốt 2 năm từ 1954 đến 1956, bà không được về thăm con. “Sau 2 năm vềm nhìn thấy con đang chơi ở sân khu tập thể, gọi con lại thì con nhìn với ánh mắt xa lạ, chạy về phía bà bảo mẫu và hỏi: “Cô này là cô nào vậy bà? Khi ấy, nước mắt tôi trào hết ra ngoài vì con mình không nhận ra mình”…” (văn bản 3, ảnh 3)

Lưu ý: “Con” không nhận ra vì là quỷ đóng giả, chứ không phải chỉ xa cách 2 năm! (Dấu hiệu này có ở rất nhiều gia đình quỷ: Võ Nguyên Giáp (Quyển 6), Mười Hương (Quyển 33)…)

  1. Tiểu đoàn trưởng cuối cùng ông Phạm Hồng Sơn.

 “Tiểu đoàn trưởng cuối cùng trước lúc Tiểu đoàn 307 lên đườngtập kết ra Bắc là ông Phạm Hồng Sơn, quê ở Hà Tây.[4]” (Văn bản 1)

Thì:

“Phạm Hồng Sơn đang dẫn đầu đội hình truy kích địch thì trúng đạn ngay cột sống. Hai ngày sau đó thì Hiệp định Giơ-ne-vơ được công bố. Phạm Hồng Sơn được đưa ra Hà Nội trong chuyến bay đầu tiên. Anh được cứu sống nhưng bị liệt nửa người….Anh mất năm 1966, để lại những tác phẩm dịch như: Lời thề danh dự, Mặt trời trên thảo nguyên, Những mẩu chuyện về Tsa-pa-ép…Hơn 12 năm nằm liệt trên giường bệnh, mọi sinh hoạt đều có người chăm sóc…” (Văn bản 4 – ảnh 4)

Lưu ý: “Hơn 12 năm nằm liệt trên giường bệnh” thì sự thật của 307 cũ ở đâu?

Ông có dich được thật không? KHÔNG! Toàn là lũ quỷ tạo nên rồi cho qua tay ông để nó có vẻ thần thánh mà thôi – như nhà văn Sơn Tùng bị bệnh não ở cấp cao nhất – mất 81% sức khỏe mà vẫn viết “Búp Sen Xanh” vậy! (Xem Quyển 14. Biến Hồ Chí Minh thành Nguyễn Ái Quốc – Bọn quỷ bịa láo rồi dùng Sơn Tùng – nhà văn bệnh não mất 81% sức khỏe để công bố.)

Còn ai nữa? Tiểu đoàn phó thì sao??? (Độc giả có thì cung cấp thêm nhé)

Hồ diệt như thế đó! Nguyễn Tấn Dũng đã rõ chưa?

Chưa rõ xem tiếp chương 2.

  1. tài liệu nghiên cứu.

(Văn bản 1)

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%83u_%C4%91o%C3%A0n_307

Tiểu đoàn 307 là tiểu đoàn chủ lực cơ động đầu tiên tại Nam bộ của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Tiểu đoàn được nhiều người biết đến một phần cũng do một bài hát cùng tên của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí viết về tiểu đoàn này. Trên thực tế, vẫn còn một tiểu đoàn 307 khác cũng từng tham chiến tại miền Nam. Cả 2 tiểu đoàn này về sau đều được tuyên phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tiểu đoàn 307 thời chống Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu đoàn được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1948 tại vùng căn cứ Đồng Tháp Mười gồm lực lượng của Khu 8 và một bộ phận quan trọng của Trung đoàn 99 Bến Tre hợp thành, với tên “Tiểu đoàn liên quân lưu động”. Tiểu đoàn làm lễ xuất quân ngày 5 tháng 7 tại căn cứ Giồng Luông, xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Sau đó, vì thấy tên gọi “Tiểu đoàn Liên quân lưu động” dài, dễ lộ bí mật, trên cho đơn vị đổi tên thành Tiểu đoàn 307

Trong năm đầu tiên, Tiểu đoàn đã đánh thắng hai trận nổi tiếng ở Mộc Hoá và La Bang (Trà Vinh), mỗi trận tiêu diệt một tiểu đoàn địch[1].

Cuối năm 1949, Tư lệnh Khu 8 Trần Văn Trà phát động sáng tác ca khúc ca ngợi Tiểu đoàn 307 mới thành lập nhưng đã đánh thắng nhiều trận lớn. Nhà thơ Nguyễn Bính sáng tác bài thơ “Tiểu đoàn 307” đăng trên báo “Tổ quốc” – Khu 8, nhạc sĩNguyễn Hữu Trí phổ nhạc thành bài hát nổi tiếng “Tiểu đoàn ba lẻ bảy”. Khi đó tiểu đoàn đang đóng trên bờ sông Nhị Mỹ, Cao Lãnh, Long Châu Sa. Bài hát có xuất xứ ở vùng Cao Lãnh, Ðồng Tháp sau phổ biến khắp Nam Bộ, lan rất nhanh trong bộ đội và cả trong nhân dân. Tối 1 tháng 10 năm 1950, lần đầu tiên bài hát được phát sóng trên Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến do Tổ quân nhạc Khu 8 trực tiếp biểu diễn.[2] Nổi tiếng với ca từ “Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang, Cửu Long giang sóng trào nước xoáy. Ai đã từng nghe tiếng Tiểu đoàn, tiếng Tiểu đoàn 307! Buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy, cả Tiểu đoàn thề dưới sao vàng, người chiến sĩ tiếc gì máu rơi, buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy nguyện một lòng gìn giữ non sông…“, bài hát đã đi vào lòng nhiều thế hệ người Việt Nam.

Tính đến năm 1954, Tiểu đoàn 307 đã hơn đánh 110 trận lớn nhỏ. Sau Hiệp định Geneve, Tiểu đoàn 307 hành quân về tiếp quản thị xã Cà Mau và thị trấn Tắc Vân, sau đó xuống tàu tập kết ra Bắc, được tái tổ chức lại thành Tiểu đoàn 7, thuộc Trung đoàn 3, Sư đoàn 330[3] đóng quân tại Thanh Hóa dưới quyền chỉ huy của Sư đoàn trưởng Đồng Văn Cống.

Lịch sử của Tiểu đoàn 307 thời chống Pháp có 3 người tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 307 là ông Ðỗ Huy Rừa quê ở làng La Ngạn xã Yên Đồng huyện Ý Yên Tỉnh Nam Định. Ông đã chỉ huy Tiểu đoàn tại các trận Mộc Hóa, La Bang, ông hy sinh năm 1949. Kế nhiệm ông là Nguyễn Văn Tiên, người về sau trở thành một trong những chỉ huy không quân nổi tiếng, được thăng đến hàm Trung tướng. Tiểu đoàn trưởng cuối cùng trước lúc Tiểu đoàn 307 lên đườngtập kết ra Bắc là ông Phạm Hồng Sơn, quê ở Hà Tây.[4]

Tiểu đoàn 307 thời chống Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 7 năm 1967, Bộ tư lệnh Quân khu 9, Quân Giải phóng miền Nam đã cho thành lập một tiểu đoàn chủ lực lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 307, tại xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau. Tiểu đoàn được phiên chế trong đội hình Trung đoàn 1, trung đoàn chủ lực của quân khu[5]. Từ cuối năm 1967 đến năm 1975, tiểu đoàn đã tham gia nhiều trận đánh khắp vùng miền Tây Nam Bộ.

Tháng 10 năm 1976, cùng với các đơn vị chủ lực khác của miền Tây Nam Bộ, tiểu đoàn được phiên chế vào đội hình của Sư đoàn 330. Năm 1978, tiểu đoàn trong đội hình của Sư đoàn, tham chiến trong Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam trên tuyến biên giới An GiangKiên GiangĐồng Tháp. Năm 1979, tiểu đoàn sang Campuchia truy quét quânKhmer Đỏ cho đến khi rút về nước năm 1989.

Sau khi về nước, Tiểu đoàn 307 được tái tổ chức lại, thay đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 2, thuộc Trung đoàn 1, Sư đoàn 330 – Quân khu 9.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Điều khá trớ trêu là Sư đoàn 330 có cả 2 tiểu đoàn 307 khác nhau. Tiểu đoàn 307 thời chống Pháp nay là Tiểu đoàn 7, thuộc Trung đoàn 3; tiểu đoàn 307 thời chống Mỹ nay là Tiểu đoàn 2, thuộc Trung đoàn 1.

Ngày 22 tháng 12 năm 1979, Tiểu đoàn 307 thời chống Mỹ (từ năm 1989 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 2) được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tuy nhiên, mãi đến ngày 2 tháng 9 năm 2005, Nhà nước Việt Nam mới phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Tiểu đoàn 307 thời chống Pháp (nay là Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 3).

Ngày 5 tháng 7 năm 2008, tỉnh Bến Tre đã tổ chức kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống của Tiểu đoàn 307.[6]

(Văn bản 2)

Những điều chưa biết về tác giả bài hát “Tiểu đoàn 307”

Chủ nhật, 27 Tháng bảy 2003

http://vietbao.vn/Van-hoa/Nhung-dieu-chua-biet-ve-tac-gia-bai-hat-Tieu-doan-307/20022258/181/

Tráng ca Tiểu đoàn 307 sống mãi với thời gian nhưng về tác giả, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí, vẫn còn nhiều điều chúng ta chưa biết. Từ năm 1954 trở về sau, ông không sáng tác (hoặc không công bố) thêm tác phẩm nào. Và cũng từ đó, không ai biết rõ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí làm gì và ở đâu. Cho đến cuối năm 1997, ông Phạm Hữu Lộc (nguyên Trung đội trưởng – đại đội 933 – Tiểu đoàn 307) được câu lạc bộ cựu chiến binh Tiểu đoàn 307 phân công nhiệm vụ và đã tìm ra được gia đình nhạc sĩ ở xã Vĩnh Mỹ A, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Nhưng nhạc sĩ đã ra đi trước đó 18 năm.

Theo bà Phan Thị Đượm (vợ cố nhạc sĩ), ông dạy học ở xã và dạy nhạc trong nhà thờ, cưới vợ và sống ở đây khá lâu (từ những năm cuối 1950 đến cuối những năm 1960). Sau đó lên Sài Gòn (làm công cho một số hãng sản xuất thương mại). Sau giải phóng, gia đình ông lại trở về Vĩnh Mỹ A (quê vợ của nhạc sĩ). Mấy năm sau, ông bị ngã dẫn đến tai biến, bị liệt một phần chân tay và mất vào tháng 2-1979.

Cũng theo bà Đượm, mặc dù ông có đến điểm tập kết song bị bệnh, không ra Bắc được. Theo một số thông tin khác thì ông được phân công ở lại, nhưng làm nhiệm vụ gì thuộc cơ quan, tổ chức nào thì không ai rõ. Là một trí thức (rất giỏi tiếng Pháp, lưu bút của ông cũng toàn ghi bằng tiếng Pháp), yêu nước, thông minh, làm công việc dạy học, lại không phải người địa phương, lý lịch không rõ ràng (đối với ngụy quyền) nên suốt thời gian 1955-1975, ông luôn bị mật thám theo dõi, rình rập. Điều này có thể lý giải tại sao sau năm 1954 ông không có hoặc là không công bố tác phẩm nào khác. Mà trước đó, ngoài Tiểu đoàn 307, ông còn có nhiều tác phẩm khác như: Phá đường, Ba người chiến sĩ năm 40, v.v.. Nếu như trong điều kiện khác hoàn cảnh khác thuận lợi hơn thì có thể Nguyễn Hữu Trí sẽ cho ra đời nhiều ca khúc nữa.

Do luôn phải giấu kín về nguồn gốc và với bản chất khiêm tốn, ít nói về mình nên sau ngày giải phóng cũng rất ít người biết ông, kể cả vợ và các con cũng không biết ông là tác giả của Tiểu đoàn 307. Riêng ông, mãi đến năm 1978 khi bệnh tình nặng, gia đình đã bán hết cả ruộng đất và cái xe máy cũ lo thuốc thang và bạn bè người thân khuyên nhủ, ông mới gửi thư về Đài Tiếng nói nhân dân TP. HCM đề nghị nhận nhuận bút.

Về năm sinh, quê quán tác giả cũng như thời gian và hoàn cảnh ra đời của bài Tiểu đoàn 307 cũng có những thông tin chưa khớp nhau lắm. Nhưng tài liệu đáng tin cậy là ông sinh năm 1917 tại Sài Gòn. Thời niên thiếu, sống ở thành phố Mỹ Tho. Tốt nghiệp tú tài năm 17 tuổi. Được học nhạc trong trường dòng Mỹ Tho. Ông có năng khiếu âm nhạc và chơi vi-ô-lông rất hay. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được biên chế trong Tiểu đoàn 307, chức vụ đại đội phó, Phó ban quân nhạc Khu 8.

Cuối năm 1949, Thượng tướng Trần Văn Trà (lúc đó là Tư lệnh Khu 8) phát động sáng tác ca khúc ca ngợi Tiểu đoàn 307 – mới thành lập nhưng đã đánh thắng nhiều trận lớn. Từ bài thơ Tiểu đoàn 307 của Nguyễn Bính (lúc đó là cán bộ tuyên truyền) đăng trên báo “Tổ quốc” – Khu 8, Nguyễn Hữu Trí đã phổ nhạc phỏng theo lời thơ. Tại hội nghị của tỉnh Long Châu Sa tổ chức tại thị trấn Mỹ Tho (Đồng Tháp ngày nay), tổ quân nhạc Khu 8 đã tập và hát phục vụ bài hát này. Ngay lập tức được mọi người hoan nghênh. Sau đó bài hát Tiểu đoàn 307 lan đi rất nhanh ra các đơn vị khác, anh em trong tổ quân nhạc phải chép và tập cho cơ sở. Tối 1-10-1950, lần đầu tiên bài hát được phát sóng trên Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến do Tổ quân nhạc Khu 8 trực tiếp biểu diễn.

Lúc đầu bản nhạc có hai bè, sau khi tập kết ra bắc, ca sĩ Quốc Hương hát, đã nhập lại một bè. Nhạc sĩ Lưu Cầu sửa lại nhịp để phát sóng. Có thể vì lý do đó mà các bản phát sóng và in ấn về sau có sự sai lệch so với nguyên tác. Chính điều này làm cho tác giả rất khó chịu, ông đã có lần đề nghị Đài Tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh sửa lại. Đối chiếu với bản in của Nhà xuất bản âm nhạc Giải phóng (đã được tác giả Nguyễn Hữu Trí thừa nhận) chúng tôi thấy đúng như vậy. Để yên lòng người đã khuất, cũng là để tôn trọng tính lịch sử, chúng tôi nghĩ rằng Tiểu đoàn 307 phải được in phát sóng theo đúng bản gốc.

(Theo QĐND)

Việt Báo (Theo_VietNamNet)

(Văn bản 3)

Cuộc đời vợ chồng Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307

Phunutoday.vn – 16/08/2012

http://phunutoday.vn/kham-pha/cuoc-doi-vo-chong-tieu-doan-truong-tieu-doan-307-17120.html

…Bà từ chối khéo cuộc trò chuyện với tôi bằng cách đưa cho tôi hai cuốn sách về Tiểu đoàn 307, nơi Trung tướng Nguyễn Văn Tiên từng làm Tiểu đoàn trưởng và luôn miệng nói rằng, bà đã lớn tuổi nên nhiều không còn nhớ được chính xác. Thế nhưng khi câu chuyện đã vào mạch, một cuộc đời hào hùng và đẹp đẽ được bà nhớ lại đến từng chi tiết.

Mối lương duyên của bà Trần Thị Nguyệt Anh và Tướng Nguyễn Văn Tiên một phần liên quan đến những thành tích hào hùng của Tiểu đoàn 307 trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ.

Khi ấy, bà đang là ủy viên thường vụ Hội phụ nữ cứu quốc tỉnh Trà Vinh, cũng là một người mỹ nữ duyên dáng nổi tiếng lúc bấy giờ còn ông đang là tiểu đoàn trưởng kiêm chính trị viên Tiểu đoàn 307. Mối quan hệ giữa bộ đội và phụ nữ thời bấy giờ rất mật thiết.

Trước khi chuyển quân về Đồng Tháp Mười, ông Tiên đến chia tay Hội phụ nữ. Bà Nguyệt Anh nhớ lại:

“Trước đó, tôi đã có sẵn cảm tình đặc biệt với Tiểu đoàn 307 oai hùng, nên khi anh Tiên nhờ bạn gửi bức thư ngỏ lời, tôi dễ… cảm mến. Từ đó, tôi kín đáo theo dõi bước chân của đơn vị anh. Vậy mà không qua nổi mắt các chị cùng cơ quan nên thỉnh thoảng bị chọc: Sao dạo này “mình” nhớ Tiểu đoàn 307 quá”.

…Nhưng tình yêu lẫn sự kính phục đã khiến bà nhận lời làm vợ ông mà không đắn đo suy nghĩ, hôn lễ được tổ chức ngay sau đó không lâu tại trường Đảng Trung ương cục miền Nam.

…Năm 1954, sau khi hòa bình lập lại, đất nước tạm chia cắt hai miền theo hiệp định Giơ ne vơ, cả hai ông bà cùng theo tàu tập kết ra Bắc. Thế nhưng ngay từ những giây phút ấy, họ đã không được ở chung trên một chuyến tàu.

Bà theo đoàn tàu dân sự di chuyển ra Bắc trước, còn ông theo tàu quân sự cùng những người lính của chiến trường miền Nam tập kết ra Bắc.

Ngay khi vừa ra tới Hà Nội, bà Trần Thị Nguyệt Anh phải gửi cậu con trai đầu lòng khi đó còn chưa cai sữa cho bà bảo mẫu để theo đoàn cải cách ruộng đất đi xuống các địa phương ở Hải Dương, Thái Bình….

Trong suốt 2 năm từ 1954 đến 1956, bà không được về thăm con. “Sau 2 năm vềm nhìn thấy con đang chơi ở sân khu tập thể, gọi con lại thì con nhìn với ánh mắt xa lạ, chạy về phía bà bảo mẫu và hỏi: “Cô này là cô nào vậy bà? Khi ấy, nước mắt tôi trào hết ra ngoài vì con mình không nhận ra mình”…

(Văn bản 4)

Phạm Hồng Sơn Pa-ven Coóc-sơ-ghin Việt Nam

Thứ bảy, 24/03/2012

http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&id=466213

(CATP) Những năm từ 1960, thanh niên miền Bắc rộn lên về một tấm gương kiên cường rất đáng thán phục. Anh trở thành ngọn cờ cho các đoàn viên và thanh niên phấn đấu vượt khó khăn tham gia xây dựng đất nước.

Đó là Phạm Hồng Sơn với một số thông tin ban đầu: người tiểu đoàn trưởng trẻ trung của Tiểu đoàn 307 nổi tiếng của Nam bộ, bị thương nặng trước ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ có hiệu lực, liệt nửa thân người nhưng vẫn kiên trì học tiếng Nga và đã dịch thành công một số sách được phát hành rộng rãi trên miền Bắc.

Từng đoàn, từng tốp thanh niên kéo về Bệnh viện 103 Hà Đông để thăm Phạm Hồng Sơn, trò chuyện và nghe anh kể về những năm tháng chiến đấu trên chiến trường Nam bộ và đặc biệt những ngày tháng vượt khó học tiếng Nga để dịch sách trong lúc liệt nửa thân người. Nhiều bài báo viết ca ngợi anh, xem anh như một Pa-ven Coóc-sơ-ghin trong “Thép đã tôi thế đấy” – người thanh niên Xô Viết liệt cả đôi chân vẫn kiên trì viết sách cho đến giây phút cuối cùng.

Cùng nằm viện với Phạm Hồng Sơn có một chiến sĩ trẻ của bộ đội Nam bộ, là Lý Hòa, chiến sĩ Tiểu đoàn 306 bị gãy một chân, điều trị trong nhiều năm. Sau này khi khỏi bệnh, Lý Hòa đã học tập trở thành giáo sư tiến sĩ và đã được phong danh hiệu Anh hùng. Cùng nằm chung với Phạm Hồng Sơn, Lý Hòa được biết thêm nhiều thông tin về anh.

Phạm Hồng Sơn quê ở làng Chuông của Hà Đông, bây giờ là Hà Nội. Anh tham gia khởi nghĩa ở Hà Đông, vào bộ đội giải phóng, xung phong “Nam tiến”, lên xe lửa đi thẳng vào Nam bộ. Những ngày đầu, các chiến sĩ khắp cả nước đều sát cánh bên các chiến sĩ Nam bộ đánh Pháp, bởi Nam bộ nổ súng kháng chiến từ 23-9-1945.

Do có trình độ văn hóa lại là sĩ quan qua đào tạo ở trường quân chính, Phạm Hồng Sơn được đưa về làm cán bộ Trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn phân hiệu Nam bộ do đồng chí Trương Văn Giàu (Tư lệnh Quân khu 9) làm Hiệu trưởng. Anh được giao nhiệm vụ “Tổng đội trưởng Tổng đội chiêu sinh”…

Năm 1951, Phạm Hồng Sơn được điều về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 cùng với chính trị viên Nguyễn Văn Tiên (sau này là trung tướng phụ trách Tổng cục Kỹ thuật). Từ 1952 đến 1954, Phạm Hồng Sơn đã chỉ huy Tiểu đoàn 307 đánh những trận nổi tiếng ở Nam bộ như Bảy Ngàn (Cần Thơ), An Xuyên và Nhị Nguyệt (Cà Mau), An Biên (Kiên Giang)… Từ tháng 4-1954, Tiểu đoàn 307 đánh ở đồng bằng sông Cửu Long phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ như trận đánh Tiểu đoàn 13 BVN của địch, giải phóng thị trấn An Biên đột nhập thị xã Rạch Giá đánh Tiểu đoàn 17 BVN… Tháng 7-1954, Tiểu đoàn 307 về gỡ đồn bót trên đất Long Châu Sa. Trong trận đánh cuối cùng, địch phải rút chạy nhưng bắn súng vu vơ vào đội hình của quân ta. Phạm Hồng Sơn đang dẫn đầu đội hình truy kích địch thì trúng đạn ngay cột sống. Hai ngày sau đó thì Hiệp định Giơ-ne-vơ được công bố. Phạm Hồng Sơn được đưa ra Hà Nội trong chuyến bay đầu tiên. Anh được cứu sống nhưng bị liệt nửa người.

Nằm điều trị trong Bệnh viện Quân đội 103 Hà Đông, lúc đầu anh rất bi quan vì phải nằm chết dí một chỗ mà trước đó chưa lâu là một người chỉ huy tài ba “ngang dọc trên chiến trường Nam bộ”. Bây giờ phải nằm tại chỗ chỉ lật nghiêng qua lại. Anh viết hồi ký, gọi những ngày ấy là “vực thẳm của cuộc sống tàn tạ, một cơn hấp hối kéo dài đầy dằn vặt…”. Anh không còn được chiến đấu, cũng không còn được học hành thêm trên miền Bắc thanh bình… nhưng Phạm Hồng Sơn đã đến với “Thép đã tôi thế đấy”, đến với tấm gương Pa-ven Coóc-sơ-ghin. Anh quyết tâm trở về đội ngũ chiến đấu bằng con đường khác: học tiếng Nga để dịch sách giáo dục thanh thiếu niên. Anh viết trên Báo Quân đội Nhân dân bài “Niềm hy vọng trở về đội ngũ”. Và để niềm hy vọng trở thành sự thật, suốt đêm ngày anh lật qua lật lại trên giường bệnh học tiếng Nga. Nằm nghiêng trên chiếc nệm bông, mùng phủ kín, một tay cầm tấm bìa cứng, tay kia cầm viết, Phạm Hồng Sơn miệt mài học có ngày chín, mười giờ, có ngày mười hai, mười ba giờ. Nhờ có vốn tiếng Pháp anh học tiếng Nga khá nhanh. Khi đã đọc thông viết thạo, Phạm Hồng Sơn bắt đầu dịch sách, trước hết là sách cho thiếu nhi. Năm 1959, Nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản cuốn sách đầu tiên do Phạm Hồng Sơn dịch “Lời thề danh dự” của L.Panteleev. Anh liên hệ với các nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Văn học, Văn hóa để dịch. Anh mất năm 1966, để lại những tác phẩm dịch như: Lời thề danh dự, Mặt trời trên thảo nguyên, Những mẩu chuyện về Tsa-pa-ép, Vài ngày, Đội dự bị của trống Pan-phi-lốp, Khuất Nguyên, Ngày và đêm, Suối thép, Viết dưới giá treo cổ…

*
* *

Hơn 12 năm nằm liệt trên giường bệnh, mọi sinh hoạt đều có người chăm sóc. Nhưng Phạm Hồng Sơn không nản chí, kiên quyết “đứng vững” trong cuộc đời tưởng như đã phế bỏ, ra sức rèn luyện và học tập để có “vũ khí” trở về đội ngũ những người chiến đấu. Phạm Hồng Sơn cũng như Pa-ven Coóc-sơ-ghin đều hiểu rõ “Không có gì khủng khiếp bằng phải xa đội ngũ” và “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho ra sống…”.

Cũng như Pa-ven Coóc-sơ-ghin, Phạm Hồng Sơn đã sống một cuộc đời dũng cảm, kiên cường để “… Trước khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng cả cuộc đời ta, tất cả sức ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao cả…”.

Phạm Hồng Sơn – người thanh niên cộng sản ra đi từ Hà Nội, người chiến sĩ anh hùng của chiến trường Nam bộ ấy, rất xứng đáng là một Pa-ven Coóc-sơ-ghin của Việt Nam.

ĐINH PHONG        

            “hồi ký được công bố sau khi anh qua đời năm 1967

60 năm truyền thống Tiểu đoàn 307 (tiếp theo)

Người viết: (Theo Tuổi trẻ Online)

08/07/2008

http://www.bentre.gov.vn/content/view/3616/180/

“…Cho đến lúc qua đời năm 1966, Phạm Hồng Sơn để lại hàng chục bản dịch đã xuất bản: Lời hứa danh dự, Mặt trời trên thảo nguyên, Những mẩu chuyện về Tsapaep, Vài ngày, Đội dự bị của tướng Panphilôp, Khuất Nguyên, Ngày và đêm, Suối thép, Viết dưới giá treo cổ

Người được mệnh danh là “Ôxtrôpxki của Việt Nam”

Thứ Sáu, 09/11/2007

http://antg.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=64683

“…Trong hồi ký được công bố sau khi anh qua đời năm 1967, anh đã viết: “Tôi tìm đọc một số truyện thiếu nhi, chọn lấy những truyện hay để dịch, phục vụ các em. Ước mơ dạy học không thành thì bây giờ dịch truyện cũng là một cách đóng góp vào việc vun đắp những mầm non của đất nước. Một tập gồm có 4-5 vở kịch thần thoại được tôi chú ý hơn cả. Tôi bắt tay vào dịch, trân trọng gọt giũa từng chữ, từng câu, mong sao những trang sách mình dịch đến được tay các em. Dịch xong 150 trang, tôi nhờ anh bạn thương binh mang đến tận nhà xuất bản (NXB) và ngong ngóng chờ đợi kết quả.

Ít lâu sau NXB trả lại tôi tất cả 5 vở kịch mà tôi đã cặm cụi dịch mấy tháng liền, kèm theo những nhận xét như sau: nội dung những vở kịch có ý nghĩa giáo dục tốt, dịch cũng tạm được, nhưng cách bố cục rườm rà nên các em thiếu nhi ta không có điều kiện đưa lên sân khấu. Qua những lời nhận xét ấy tôi thấy mình dịch chưa được tốt, nhưng anh em ở NXB thông cảm với hoàn cảnh bệnh tật và sự cố gắng của mình nên nói vậy để khích lệ mình thôi”. (Người chiến sĩ, NXB Thanh niên, 1977, trang 96-97)…

Thúy Toàn

1 2 3 4

Đã xem 51 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
2 Comments
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments