Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 16) “Nhứt phá sơn lâm…”

1 (2)Tôi rời trại vào đợt ba, không hẳn là đợt chót.

Dziệt Cộng đến đem chúng tôi đi là “Công An Bò Vàng” (tên thường gọi hồi đó). Xe đưa chúng tôi đi là loại xe tải dân sự của Saigon vẫn thấy trước nay, có cả hơn chục chiếc, nên số lượng người đi chuyến nầy cũng đông. Loại xe nầy có mui thiếc, phía sau là cửa song sắt chứ không bít bùng như Molotova.

Chúng tôi, những người cùng đi từ Trảng Lớn phần nhiều “rơi rụng” dọc đường, số đông bị đày ra Bắc. Số còn lại chỉ còn mấy “ngoe” như Trần Phú Trắc, Bùi Xuân Toàn, Nguyễn Đạo, Đào Sơn Bá… và tôi.

Nhờ xe không đóng bít bùng nên chúng tôi theo dõi được đường đi. Xe hướng ra Xuân Lộc, hơi mừng vì Xuân Lộc cũng gần Saigon. Nhưng qua khỏi Xuân Lộc rồi, xe còn đi tiếp trên quốc lộ 1. Tới ngã ba Ông Đồn, xe quẹo vào hướng về phía ga xe lửa Gia Rây. Qua khỏi Gia Rây, xe lại đi nữa. Đoạn đường nầy không trải nhựa, bụi lên mù mịt.

Mù mịt như đường tù!

Bên nầy là núi Chứa Chan, ngọn núi từng nghe tên nhưng trước nay chưa thấy bao giờ. “Chứa chan, Chán chưa?”, “Chứa chan, Chan chứa?”, “Chan chứa, Chưa chán!” Có ai đó nói mấy câu như trên! Nói đi nói lại, khi xuôi khi ngược cũng là “Núi Chứa Chan?”

Tình cảm của người Việt khá nhạy bén.

Chứa Chan nguyên là một ngọn núi lửa, đỉnh núi là một cái hồ còn chứa nước, là dấu tích miệng núi lửa xưa kia. Từ một cái hồ còn chứa nước trên đỉnh núi, người xưa đã nói đi, nói lại, về một hồ nước, như một thứ tình cảm của con người với con người hay con người với thiên nhiên!?

Thời kháng chiến chống Pháp, có phải đây là nơi quân du kích ẩn núp. Thời chế độ cũ, trên đỉnh núi có căn cứ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Dĩ nhiên, đây là một cao điểm có thể quan sát và kiểm soát toàn vùng, Quân Đội VNCH không thể bỏ qua. Vai trò của nó, tương tự như núi Bà Rá ở Phướng Long, Bà Đen ở Tây Ninh vậy!

Trên con đường đi vào, bên phải là “Đồi Phượng Vĩ”. Có người đưa tay chỉ chỏ, giải thích: Hậu cứ của Trung Đoàn 54 hay 56 (tôi không nhớ rõ), thuộc Sư Đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo. Thấy bóng người trên đồi, nhưng chúng tôi không nghĩ rằng nơi đó nay là trại tù.

“Đồi Phượng Vĩ” đi đánh nhau với bọn vô sản mà còn lãng mạn tiểu tư sản dữ, làm như đây là sân Trường Đồng Khánh không bằng!

Xe qua khỏi đồi Phượng Vĩ.

Đi đâu nữa mà xa vậy?

Con đường rừng mới mở. Xe chạy gập ghềnh.

Hình như đây là khu trại mới. Có ngôi nhà lá với tấm bảng đề “Nhà Thăm Nuôi” ở bên trái. Vậy là về đây, hy vọng được thăm nuôi. Qua một đoàn đường bằng phẳng, không xa lắm, xe dừng lại.

Một lúc sau, Công An ra lệnh xuống xe, sắp hàng.

Anh “Công An Bò Vàng” nầy tên Bảy, người thì nhỏ mà họng thì to, la mắng, nạt nộ om sòm, khiến nhiều người sợ. Anh ta biểu mọi người sắp hàng một, anh đếm từng người, đếm đi đếm lại những mấy lần mà không xong, không rõ vì anh ta “hoc hành tí chút” nên “đếm không ra” hay vô ý đếm lộn.

Công An Bảy là người Nam, trốn quân dịch, từng theo làm “đệ tử” Trung Úy Việt Cộng Nguyễn Ngọc trước 1975. Ngọc, cũng làm cán bộ ở trại nầy, nguyên là cán bộ miền Bắc xâm nhập, làm tình báo, ngụy trang chạy xe ba gác ở Chợ Cầu Muối, chưa từng bị Cảnh Sát Công An VNCH phát hiện vì anh ta có đủ giấy tờ căn cước, thẻ trưng binh, giấy hoãn dịch… “Có tiền mua tiên cũng được” huống chi thứ mấy giấy tờ vớ vẩn nầy. Sau 1975, Ngọc và Bảy trở thanh Công An Bộ Nội Vụ, được điều về Giá Rây coi tù cải tạo. Được mấy năm, Công An Bảy “tự ý xuất ngũ” về làm lơ xe chạy đường Saigon – Tây Ninh. Nhiều anh em tù cải tạo tình cờ gặp anh ta, anh lủi mất. “Cán bộ Cách Mạng” cũng thấy “xấu hổ” khi làm “lơ xe”, không “ngon bằng làm Công An” đấy hay sao?!

Phía bên hàng rào cây là trại giam.

Đối diện là một đám thanh niên nam nữ tò mò ra đứng xem? Họ là ai?

Sau mới biết bên phía đó có trại giam đang xây, do Công Ty Xây Dựng Số 1 đảm trách. Những thanh niên nam nữ đó là công nhân của công ty nầy, phần đông là dân Saigon, còn trẻ lắm, không có ai từng tham gia chế độ cũ cả.

Sau một thời gian ngắn, gặp một vài người quen trong “Tổ Kỹ Thuật”, tổ đảm trách về kỹ thuật xây dựng như kỹ sư Hồ Phùng, một người cùng xóm, quen thân từ khi còn đi học, thẩm phán Đoàn Cảnh Thúy, mới hay rằng, đây là khu trại giam mới thành lập của bộ Nội Vụ Dziệt Cộng.

Xin nói rõ thêm về anh bạn Hồ Phùng nầy một chút.

Khi còn học ở trường Quốc Học, tôi ngụ ở Xóm Chợ Xép, phía trong Cửa Đông Ba. Xóm nầy có nhiều “quái kiệt”, quậy cũng dữ mà học giỏi thì “vô song”.

Hồ Phùng học sau Huỳnh Hữu Tuệ một lớp nhưng trước Huỳnh Hữu Ủy hai lớp. Hai ông họ Huỳnh nầy là con ông chú tôi.

Hồ Phùng học giỏi, “thi đâu đậu nấy”. Bẵng đi mấy chục năm sau khi tôi rời Xóm Chợ Xép, tình cờ gặp Hồ Phùng ở đây, trong trại Tù Cải Tạo. Vì anh là kỹ sư lâm nghiệp, nên Việt Cộng chọn anh vào “Toán Kỹ Thuật” lo việc lập kế hoạch phá rừng, trồng bắp, trồng mì, đắp đập, làm cầu, v.v…

Ông kỹ sư lâm nghiệp cũng trãi qua nhiều “tầng địa ngục”, mặc dù thời gian tù của anh chỉ hơn ba năm chút ít, đủ để chính phủ Mỹ chọn cho rời VN theo “Chương Trình HO” (gọi theo cách Dziệt Cộng, là “diện HO”).

Hồ Phùng qua Mỹ cuối năm 1989. Trong số anh em đồng nghiệp Thủy Lâm, Hồ Phùng làm lại nghề cũ: Thủy Lâm, cho tiểu bang Washington, miền Tây Bắc Hoa Kỳ, là nơi có tiềm năng lâm nghiệp nổi tiếng. Mỗi mùa hè là mùa cháy rừng (fire season) Hồ Phùng tình nguyện đi chữa lửa rừng (wildland firefighter). Nay tuổi đã lớn, kỹ sư Phùng làm việc trong các trại chữa lửa (Fire camp helper).

Tháng 6 năm 1975, cũng như tôi, anh vào Tabert, ăn cơm nhà hàng Continental, rồi lên xe Molotova mà lên “Trại Tù Binh Phiến Loạn Biên Hòa” (tên chế độ cũ). Chỉ ít lâu sau, gần ngày đưa ông Táo, lần đầu tiên anh được đi tàu thủy, lên HQ 403 ra “thăm” (?!) Phú Quốc. Cũng là lần đầu tiên anh ta đến đây. Chưa đủ thời gian để ngắm “đất nước ta rừng vàng biển bạc” thì anh lại xuống tàu HQ 502 để về Trảng Lớn, rồi lên Đồng Ban, cũng ở Tây Ninh. Thế rồi Hồ Phùng và các bạn được giao cho “Công An quản lý”, anh bị đưa về Z30-A, chuyển vô Trại-B.

Khi tôi chuyển về Trại-B Xuân Lộc, một buổi sáng thấy Hồ Phùng, vai mang bị, tay cầm cuốc xếp hàng “đi lao động”. Chúng chỉ kịp ngoắt tay nhau ngẩn ngơ mà thôi. Về sau thì có thể ngoắt tay nhau mỗi sáng khi ra sân tập trung, chuẩn bị nhận cuốc để cùng “lao động là vinh quang”.

Ít lâu sau, Hồ Phùng được tha. Khi đó, “trại đá” tức là trại bên cạnh, do xí Nghiệp Xây Dựng Số 1 xây chưa xong. Các nhà “biệt giam” ở phía sau cũng đang xây nửa chừng.

Phùng kể:

Một bữa nọ, Công An xuống trại hỏi ai biết đo rừng, đo đất, gọi là điền địa. Cùng đi tù, trong nhóm học Nông Lâm Súc, ai lại không biết Hồ Phùng là Kỹ sư Thủy Lâm, lại có làm cho Ty Điền Địa Gia Định nữa.

Được dịp khỏi vác cuốc và nhân cơ hội này móc kéo thêm vài anh em khác đồng nghiệp trước đây cũng khỏi vác cuốc, bắt đầu “công tác”. Toán này được giao cho một bản đồ tọa đồ ngày xưa và một cái địa bàn cũ.

Bấy giờ, không có giấy khổ lớn nên công an cắt một bao giấy xi-măng và một cây viết chì để vẽ bản đồ ranh giới hai bên đơn vị. Ngoài ra chặt hai ba cây để làm cây tiêu (jetons) để nhắm hướng. Sau khi dùng địa bàn nhắm hướng cho mấy cây tiêu thì toán chặt cây căn cứ vào đó chặt, đốn cách xa mỗi bên 5 mét.

“Khi cầm giấy tha do Trịnh Văn Thích ký xong rồi, tui đi một mạch, dù biết trong lệnh tha, ghi sai địa chỉ: Nhà tôi ở Thị Nghè, thuộc Quận Bình Thạnh, nhưng giấy tha lại ghi thuộc Quận Tân Bình. Về nhà đã, sai tính sau. Xin điều chỉnh, không chừng có khi không có giấy tha mà về, như trường hợp ông kỹ sư Khôi vậy.

Anh chàng Khôi là kỹ sư tốt nghiệp bên Tây về nước, được tha về sớm. Khôi hí hửng ôm khăn gói rời trại giam, đi được một đoạn đường thì Công An đuổi theo gọi trở lui. Về sau, khi nhiều người đã được tha về rồi, Khôi cũng không thấy gọi tên mình được tha lần nữa. Người ta “quên hồ sơ” kỹ sư Khôi hay vì anh ta du học ở Pháp, trở thành “tay sai của Đế Quốc Tư Bản” hay cái gì khác. Thôi thì “Giết lầm hơn bỏ sót”, cứ cho anh chàng kỹ sư Khôi ngồi thêm năm, bảy năm tù cho chắc chuyện.

Có một thời gian ngắn. Hồ Phùng cùng một toán vài ba người, gọi là “Toán Kỹ Thuật” đi chặt cây, phát quang, tìm đất, tìm gỗ quí…

Mục đích Trại Trưởng Trung Tá Dziệt Cộng Trịnh Văn Thích là cái gì?

Trước hết là “tư lợi”.

“Nhất phá sơn lâm…”

Chỉ ba bốn năm sau là Thích giàu có.

“Giàu đổi bạn…”

Y mua xe Fiat cho vợ bé, “ăn trắng mặc trơn”, đẹp như “tấm kính dựng”, người miền Nam;

“Sang đổi vợ” là thay cho bà nhà quê răng đen mõ quạ, xưa kia là “cô du kích” ngủ với cả chục thằng du kích trước khi về làm vợ Thích. Chuyện nầy, bọn Công An Z30-A đều biết cả đấy, chính “cán bộ” nói lại cho “tù Cải Tạo” nghe chớ không ai vô đây cả!

Thứ hai là mục đích “chiến lược”

Một, sau này Hồ Phùng nói cho tôi biết Trại Tù Z30-A làm ranh giới giữa trại tù do công an quản lý và một đơn vị không quân bên cạnh.

Hai, trại tù Cải Tạo Z30-A thành lập chưa được bao lâu, Công An cho một đội đi rừng, đội do Bùi Bá Dành làm đội trưởng, chuyên lo công việc phát quang một vòng đai quanh trại để kiểm soát và ngăn chận tù Cải Tạo trốn thoát.

Ba, nhìn vào bản đồ Miền Đông Nam Phần, người ta thấy một vùng rừng dày đặc nối tiếp nhau như sau:

            -Vùng Mỏ Vẹt của Kampuchia, vượt biên giới, Cộng Sản có thể đến mật khu Ba Thu vùng Lương Hòa, Hậu Nghĩa; từ đây Dziệt Cộng xâm nhập phía Nam thành phố Saigon, như chúng đã thực hiện trong Tết Mậu Thân.

-Cũng từ Vùng Mỏ Vẹt, Việt Cộng vào mật khu Dương Minh Châu. Từ Dương Minh Châu, Dziệt Cộng có thể đi Phước Long, Bình Long. (Từ phía biên giới Kampuchia, Việt Cộng cũng có thể vào hai tỉnh nầy), đi về vùng Trị An, La Ngà,- phía đông-bắc Saigon, liên kết với vùng Định Quán, (Quốc Lộ 15). Trong cuộc chiến tranh trước – 1945-54 – Việt Minh đánh bại quân Pháp ở Định Quán.

Từ Định Quán, Cộng Sản có thể tiến về Võ Đắt, Võ Xu. Cũng từ nơi đây, chúng vượt qua Rừng Lá để vào mật khu Mây Tàu.

-Nhìn chung, từ Khu Mỏ Vẹt của Kampuchia, Việt Cộng có một vùng rừng núi chằng chịt với nhau, ra tới biển đông ở Long Hải, Đất Đỏ. Đây là vùng Miền Đông Nam Bộ.

-Để ngăn chận hoạt động của Cộng Sản, chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập các khu trù mật, định cư chia cắt vùng hoạt động của chúng.

Các khu định cư gồm có:

-Định Quán, Gia Kiệm, Võ Dõng… thuộc huyện Thống Nhất, (tên mới của Việt Cộng) không cho Việt Cộng mở được các trận đánh lớn trên Quốc Lộ 15 như cuộc chiến tranh trước.

-Khu định cư Phước Tỉnh (phía nam mật khu Mây Tầu) và Bình Tuy (Phía bắc mật khu nầy), thu hẹp vùng hoạt động của mật khu Mây Tầu. Không như vùng Cà Mâu, Chương Thiện, thuyền tầu của Việt Cộng không vào vùng bờ biển mật khu Mây Tầu được vì rất dễ bị dân chúng phát giác.

Việt Cộng không còn khu vực “tiếp tế hậu cần” ở Miền Đông Nam Bộ ngoài cánh đồng lúa ở Võ Đắt, Võ Xu và dân chúng thiên Cộng ở vùng Đất Đỏ.

Sau khi “tù Cải Tạo” về, tôi từng đi từ Trị An, La Ngà qua đến Sóc Lu, Võ Dõng, Gia Kiệm. Rừng ở khu vực nầy bị triệt hạ hoàn toàn, trồng ca-phê và cao-su, không còn rừng rậm nữa.

-Hai bên Quốc Lộ 15, từ Định Quán trở xuống ngã ba Dầu Giây, là vùng “khai thác trắng”, có nghĩa là phá sạch rừng.

Để làm chi?

Cộng Sản không tin tưởng đồng bào di cư vùng Giốc Mơ Gia Kiệm, Định Quán… phá sạch rừng để không còn nơi ẩn núp, hoạt động của “Phục Quốc”. Vùng nầy, nếu có “Phục Quốc”, họ sẽ được sự hỗ trợ, tiếp tế từ các khu vực đồng bào di cư nói trên.

Vị trí vùng núi Chứa Chan, khi còn chiến tranh, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa lập bản doanh một trung đoàn ở “Đồi Phượng”. Từ đó, các đơn vị quân đội có thể mở các cuộc hành quân chung quanh.

Tuy nhiê, nhờ địa thế là vùng rừng rậm, dù có một trung đoàn QLVNCH đóng ở đây, cũng không tiêu diệt Dziệt Cộng được. Đóng ở khu vực nầy, Dziệt Cộng đu đưa như đưa võng. Quân đội VNCH đánh phía nầy, bọn chúng chém về qua phía kia. Đánh phía Nam, Dziệt Cộng rút về bắc, hướng Phước Long, Bình Long. Đánh cả bốn phía thì không đủ quân, v.v…

Từ kinh nghiệm của chúng, những trại tù Dziệt Cộng lập ra đều ở trong rừng sâu, có tính cách chiến lược: Không cho những lực lượng chống Cộng như Phục quốc ẩn núp ở đó.

Tôi thuộc Đội 19, quản giáo tên là Chinh (không rõ họ), đội trưởng là Trương Đình Gòn; và người theo tôi suốt cả quãng đường ra đi từ trường Taberd là Trần Phú Trắc, anh bạn cũ từ hồi học tiểu học nay mới gặp lại là Trần Văn Diệm. Diệm và tôi gặp nhau, ai cũng mừng, chọn chỗ nằm bên cạnh nhau.

Những người sau nầy lần hồi quen thân gồm có ông Âu Văn Minh, cựu đại úy Cảnh Sát, chồng trước bà Bích Vân, vợ tướng Bùi Thế Lân, và chị bà Thẩm mỹ viện Bích Ngọc (Xem thêm ở bài “Rối loạn đường tiêu hóa”), Lê Văn Tân (thầy đấm bóp kiêm coi tướng, xem thêm bài cuối), Trần Vạng Phước, Nguyễn Quảng Thành (Trắc đặt tên là Thành gù) Đỗ Văn Kim (gọi là Kim voi, vì to con, quê ở Bình Dương), Huỳnh Văn Kim (gọi là Kim nhí, vì nhỏ con, quê ở Chợ Lớn, gốc Tầu), Lê Viết, Vũ Công Ruệ, “dân ri-cư”, cụ Lê Văn Ất; người có “gan cóc tía” là nhà thơ Nguyễn Hoàng Thu, tác giả tập thơ “Nét Gầy và Mây” – gầy như thi sĩ vậy – Lê Văn Cầu, Trần Đình Châu… mỗi người có một chuyện… vui.

Vũ Công Ruệ, nhân viên cục Trung ương Tình báo của ông tướng Bình, nhận nhiệm vụ “lọt” vô bộ tham mưu tranh cử của tướng Kỳ khi ông nầy tranh cử tổng thống năm 1971. (Người trong ban tham mưu nầy, tôi còn biết, – biết chớ không quen -, là đại úy không quân Nguyễn Đức Miễn, cử nhân luật).

Chính Ruệ là người cầm hồ sơ, đi với đồng bọn, đến Tối Cao Pháp Viện nạp đơn xin ứng cử tổng thống của tướng Kỳ. Về sau, thấy không “xơ múi” gì được, ông Kỳ rút lui.

Một nhân viên tình báo (thuộc phe ông Thiệu), lọt vô ban tham mưu phe tướng Kỳ, hoạt động như thế mà phe của tướng Kỳ mù tịt, không biết gì cả. Thế thì ông Kỳ không thua ông Thiệu thế nào được?! Khi Ruệ đi tù cải tạo, theo lệnh Dziệt Cộng, khai hết ra, y lại còn khoe việc ấy với nhiều người. “Chính chị chính em” của miền Nam như vậy đó, lo chống nhau hơn chống Cộng?!

Nhân viên tình báo, ngoài Ruệ, còn cụ Ất.

Khi còn ở quân đội, ông phục vụ ở đơn vị Công Binh Tạo Tác tại Huế, từng “thi đua dựng cột cờ cao” với Cộng Sản Bắc Việt.

Sau khi nước ta bị chia cắt ở vĩ tuyến 17, ngang sông Bến Hai, mỗi bên bờ sông, ngang cầu Hiền Lương, có một cột cờ. Ban đầu, cột cờ miền Nam treo cờ vàng quốc gia, cao hơn cột cờ Bắc Việt, treo cờ đỏ sao vàng. Năm 1957, Bắc Việt thay cột cờ cao hơn miền Nam. Tức thì đơn vị Công Binh Tạo Tác của cụ Ất được lệnh dựng một cột cờ cao hơn cột cờ phía Bắc. Cụ Ất tham gia việc dựng cột cờ nầy, cột cờ làm bằng hộp sắt tròn đựng đạn 105 và 155 ly. Bắc Việt địch không lại, đành chịu thua.

Giải ngũ, cụ Ất về làm “tù trưởng” ở Cục Trung Ương Tình Báo. Gọi cụ là “tù trưởng” vì công việc của cụ là coi sóc tù, cho ăn, cho ngủ, chăm sóc y tế, và dẫn lên dẫn về giữa phòng khai thác tù nhân và phòng giam. Do đó, cụ biết hầu hềt những người bị bắt giam ở đây. Hỏi cụ Ất có tay Dziệt Cộng nào ở tù mà “ngon lành” không? Cụ lắc đầu.

Cụ Ất thuộc hạng người “xưa”, gốc “Rân ri cư”, còn “lói” ngọng, “nàm” gì thì phải “nàm” cho đàng hoàng, không “nàm” thì thôi. Thành ra chúng tôi bị ông cụ chê là “nao động nu nơ” (lao động lu lơ), có nghĩa là làm cầm chừng, “nấy nệ”, không chăm chỉ. Vì vậy, khi mệt, cụ tự động nghỉ tay tại chỗ, quản giáo Chinh không cự nự ông cụ. Cũng được mấy năm, cụ yếu sức, xếp vào hàng người già, được ở nhà quét phòng, quét sân, hốt rác, không đi lao động ngoài bãi nữa.

Mới vô trại có vài hôm đã tranh nhau chỗ nằm, vì nhà giam “quá tải tù cải tạo”.

Trần Đình Châu, người Huế, có ông cậu ruột là tỉnh ủy viên tỉnh Đồng Nai, nên thái độ “anh trọ trẹ” nầy đi tù cải tạo mà làm như “công chúa hạ giá”, xa cách, coi thường anh em trong đội. Lê văn Cầu, chỗ nằm sát bên. Hai người thường khiếu nại nhau vì chỗ nằm bị lấn qua lấn lại. Việc khiếu nại đưa ra họp đội xử. Anh chàng “Cầu Bắc kỳ, rân ri cư” thì khôn khéo, mềm mỏng, thường nhỏ nhẹ than vản bị chèn ép, bị thua thiệt. Châu thì thái độ xa cách, “hách xì xằng” nên việc thưa qua thưa lại chẳng đi tới đâu! Cũng may, chưa được vài tháng thì ông Châu được tha về nhờ ông cậu bảo lãnh cho.

Mỗi nhà giam dài khoảng ba chục mét, lợp “tôn ximăng”, vách ván. Sàn nằm bằng gỗ có hai tầng trên dưới, nhốt 3 đội, khoảng 120 người, chật ních. Cuối phòng có chỗ đi tiêu, đi tiểu. Mỗi chiều, ăn xong, kẻng đánh, tập trung trước cửa phòng theo từng đội. Công An trực trại điểm danh xong, cho vào phòng, khóa cửa lại.

Sáng, có kẻng đánh thức. Công An trực trại tới mở cửa cho tù ra, sắp hàng điểm danh. Sau đó, tù đi rửa mặt, “ăn điểm tâm” (khoai lang một củ, hay khoai mì một khúc, hoặc khoai mì xắt lát được nửa chén). Ăn rồi tập trung ở sân trại. Từng đội được gọi ra cổng đi “lao động là vinh quang, cuốc là số một”, hoặc lo “học tập tốt, lao động tốt để cách mạng xét cho sớm về sum họp với gia đình”, “an tâm học tập cải tạo”, v.v…

“Mỗi ngày như mọi ngày”, thường lao động luôn cả ngày thứ bảy, có khi cả ngày chủ nhựt, tùy theo “yêu cầu của cách mạng”, “mừng thắng nợi” gì đó, hoặc “mừng ba ngày “nễ nớn”, v.v…

Khi Phạm Tuân ngồi “póc ba-ga” để phi hành gia Gô-Rơ-Bátx-Cô của Liên Xô đưa lên không gian, nghiên cứu bèo hoa dâu trở về thì chủ nhật nào chúng tôi cũng phải đi cuốc đất “mừng thắng nợi” của “đồng chí Phạm Tuân”. Do bực mình và khổ cực, cứ một lát cuốc, cuốc xuống đất là chúng tôi kêu tên Phạm Tuân chưởi một tiếng. Bị chưởi đến thế mà thằng nầy vẫn sống dai!

Tới trại ngày đầu, qua ngày hôm sau, đội tôi đi lao động liền.

Việc trước tiên là đi khiêng cây rừng bên phía Trại Đá. Cây đã hạ xuống, thân to hơn cột nhà, chặt cành, nhưng còn nằm ngổn ngang, nay gom lại, đem đốt. Sau đó là đi đào gốc cây trong vòng rào trại. Cây đã hạ xuống rồi, chỉ còn gốc. Đội tôi được lệnh “bứng” các gốc cây ấy đi, lấp đất lại, bằng phẳng. Đào cả chục gốc cây, gốc nào gốc nấy to hơn người ôm, không phải là không nặng nhọc, khổ nhất là với những gốc cây có cái rễ cái to, đâm thẳng xuống đất, ngay giữa đám rễ cây um tùm

Diệm, cũng như tôi, cũng như phần đông anh em trong đội xuất thân “dài lưng tốn vải”, “học trò trói gà không chặt, buộc lạt không xong” nên khi lao động rất dễ gặp tai nạn, tự cuốc vào chân mình, dập chân, gãy tay, v.v…

Diệm là nạn nhân đầu tiên. Hôm ấy, anh ta và tôi khiêng một cái cây khá lớn. Đầu gộc là tôi, đầu ngọn dành cho anh ta. Vô ý khi bước xuống đống cây, tay anh đập nhằm một cành cây nằm sẵn dưới đất. Tay Diệm bị dập, máu chảy dữ. Diệm buông cây, la to: “Đau quá Hải ơi! Đau quá!” Thấy tay anh ta bị dập, quản giáo Chinh cho tôi đưa Diệm về Trạm Y tế của bác sĩ Trần Đình Đôn.

Bấy giờ thuốc cũ đang còn, Diệm được băng tay và cho thuốc, khỏi phải dùng Xuyên Tâm Liên là thứ thuốc sau nầy mới sáng chế ra, do “tính ưu việt của chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam muốn nằm (ngủ).”

Cũng buồn về ông Diệm nầy tí chút. Cùng quê, học với nhau từ tiểu học, tới năm đệ lục, ông vô trường kỹ thuật Huế, rồi mỗi người một ngã, bây giờ mới gặp nhau. Hoàn cảnh Diệm rất đáng thương. Vợ sinh đứa con thứ hai thì qua đời vì giải phẩu, mặc dù anh của Diệm là bác sĩ Trần Văn Tích, cũng cứu nỗi cô em dâu, thành ra khi vô tù, bố anh phải lo chăm sóc cho hai đứa con nhỏ của Diệm. Thân sinh của Diệm là ông Thầy Thạnh, khi chúng tôi còn nhỏ, Thầy làm việc ở Ty Công Chánh Quảng Trị. Ông là người “thiệt thà” đến nỗi khi Diệm gởi thư về xin bố mua cho một đôi giày để “đi lao động”, ông ra Chợ Trời mua “hai chiếc giày một chân” nên Diệm không dùng được, chờ kỳ thăm tới lại phải gởi về.

Về trại nầy, chủ nhật mới được phát một chén cơm. Thường ngày ăn bắp, nấu luôn vỏ. Hột bắp cứng làm cho Diệm đau răng. Một đêm, thấy anh ta không ngủ, hỏi, Diệm bảo đau răng quá, ngồi cho bớt đau, bảo tôi: “Mày ngủ đi”.

Gần sang, Diệm thức tôi dậy, nói: “Tau ngồi lắc cái răng suốt đêm, bây giờ, tau nhổ ra được rồi, đỡ quá!”

Về sau, nhiều khi nghĩ tới việc Diệm ngồi suốt đêm lắc cái răng đau, để nhổ nó đi, tôi thấy sợ, thấy kinh hoàng vì cái chế độ “xã hội chủ nghĩa ưu việt” nầy. Hành động của Diệm không là ưu viêt hay sao?

Diệm là anh em chú bác (hay anh  em ruột?) với bác sĩ Trần Văn Tích, có ông chú “tập kết” ở ngoài Bắc mới về Nam, đậu bằng “kỹ sư gạch chịu lửa”, đã làm đơn bảo lãnh cho Diệm. Vì vậy, Diệm thường nói: “Tau mới “gia đình cách mạng”. Mi có cha đi kháng chiến, chết trên chiến khu, nhưng ông chưa vô đảng, thành ra mi không được chi mô!”

Tôi buồn vì thái độ của bạn, không phải vì có “cách mạng” hay không “cách mạng”. Cha tôi theo kháng chiến chết bệnh ở Ba Lòng năm 1948. Anh cả tôi là Hồng Quang, chủ báo Ý Dân ở Huế, chống Pháp, bị Tây thủ tiêu năm 1950. Tôi ít thấy tự hào về cha, anh tôi tham gia kháng chiến chống Pháp. Những hy sinh ấy, đối với Cộng Sản chẳng là cái gì nên tôi không khai quá trình của cha và anh tôi trong lý lịch.

Tôi lại khai trong hồ sơ tôi có em là “Hùng móm”, đại đội trưởng 112, Tiểu Đoàn 11 Dù, hy sinh ở Cầu Lòn, gần ga xe lửa Quảng Trị, ngày 14 tháng 7 năm 1972. Nếu không khai, tôi thấy xấu hổ với em của tôi và “tội nghiệp” cho Hùng, đứa em út. Cái chết anh dũng của Hùng, với gia đình là sự vinh dự, nhất là với con cháu, không thể nào quên!

Chưa được bao lâu thì đội tôi bị sai đi phá rừng. Cây lớn, cây nhỏ hạ xuống hết, chất đống, vài bữa khô, châm lửa đốt, lấy đất trồng bắp. Tôi cùng khoảng 10 người khác thuộc nhóm hạ cây lớn, là những cây to bằng cột nhà trở lên. Những người còn lại thì hạ, chặt những cây nhỏ. Chúng tôi dùng loại dao mới rèn, có lẽ bằng loại “nhíp” xe hơi nên cũng bén, nhưng chặt lắm, dao sắc mấy cũng cùn.

Lê Văn Tân, chân bị thương ở xương, “cặp i-nôx bắt vít”, đi lại khó khăn nên được Đội Trưởng Trương Đình Gòn giao nhiệm vụ mài dao. Cứ gom lại năm bảy cây dao, đưa cho Tân xuống suối mài. Khi mệt quá, tôi cũng đưa dao cho Tân đi mài. Không có dao, ngồi nghỉ được một chút.

Một hôm, Tân thấy từ đống cây đang cháy có chú rùa, to bằng cái nón sắt của lính, từ trong đống lửa chạy ra. Tân vội vàng chạy tới, lật ngữa chú rùa, rồi bắt lấy, hy vọng hôm nay có món thịt rùa ngon, bù cho lâu ngày thèm thịt.

Tân lén đem về rùa trại, tính làm thịt.

Tôi nói đùa:

– “Ông không nên ăn thịt rùa. Rùa thuộc tứ linh, ăn vào gặp xui.”

Tân thiệt thà, hỏi lại:

– “Thiệt không?”

Tôi nói:

– “Sao không. Tui phục vụ ở miền Tây. Dân dưới đó, ông nào “điếc không sợ súng” mới dám nhậu rùa, cần đước. Rùa thuộc loại chậm chạp. Không sợ ăn vô lâu được tha về sao? Xui lắm!”

Gòn cũng nói:

– “Tui thuộc dân nhậu chì nhưng chẳng nhậu rùa bao giờ!”

Bản tính thật thà, Tân nghe lời tôi, nhốt rùa lại, sáng hôm sau “đi lao đông”, sẽ thả về rừng. Trước khi thả, Tân khắc vào mu rùa: Lê Văn Tân, đội 19.

Khi anh ta thả rùa ra, Vệ Binh, tức là mấy công an mang súng đi theo giữ tù, bắt được.

Vệ Binh và Quản Giáo gọi Tân lại, “khiển trách”:

– “Anh muốn báo tin cho ai núp lén trong rừng nầy mà ghi tên họ và số đội của anh vào rùa?”

Tân không trả lời được, bèn xin cán bộ đem rùa về trại. Hôm đó, Tân cũng còn sợ, không dám làm thịt rùa, nhưng sửa mấy chữ khắc trên mu rùa như sau: Lê Văn Txxx (xóa chữ â và chữ n). Chữ đội 19 thì anh sửa là 1937, năm sinh của anh, rồi lại đem vào rừng, thả ra.

Vài hôm sau, một anh ở đội khác, bắt được con rùa ấy làm thịt. Tôi hỏi Phan Thành Long, người cùng đội bên đó.

Long nói: “Tui có phụ làm rùa với thằng đó, cùng ăn với nó, thịt rùa ngon như thịt gà, có thấy xui gì đâu!”

Biết chuyện ấy, Tân nói với tôi, giọng không vui:

– “Tự vì anh mà tui mất ăn bữa thịt rùa!”

Tôi chỉ biết “cười trừ” chứ nói gì bây giờ!!!

Mùa mưa sắp tới, chúng tôi được lệnh cuốc đất, chuẩn bị gieo bắp. Năm đầu, đất tốt lắm, trái bắp to. Cũng không ít người lận trái bắp vào bụng, che áo lại, đem về nướng “cải thiện” cho… đỡ đói.

Được vài năm, đất bạc mầu, trái bắp chỉ bằng ngón chân cái. Còn gì để mà ăn, coi như…mất mùa. Xoay qua trồng mì, củ khoai mì nào to lắm, cũng chỉ bằng cán cuốc. Cũng coi như xong!

Có một loại cây không trồng nhưng mọc đầy, xanh um, rất tốt là cây thầu dầu mọc hoang. Khổ nỗi, trái thầu dầu rất độc, chỉ dành cho những ai không muốn ăn nữa thì ăn nó, để làm bữa ăn chót mà thôi!

Khi mùa mưa tới, ở những nơi đất rừng mới cuốc, có nhiều trùn đất. Những con cua nhỏ bằng ngón tay cái ra ăn trùn, bị chúng tôi nắm được, đem về nấu canh rau muống, “ngon đáo để” như có người khen vậy!

Tôi về trại nầy được mấy hôm thì cho viết thư. Lần thăm đầu tiên, gia đình lên thăm đông lắm: vợ tôi và các con, các anh chị và các cháu gọi bằng chú, bằng cậu. Những lần sau thì chỉ có nhà tôi và các con. Có khi vì bận học, chỉ có nhà tôi lên thăm hàng tháng, chỉ đôi khi thì vài tháng. Mỗi khi lên thăm, ngoài thịt cá làm khô, còn có gạo, mì gói, đậu mè, bánh kẹo… và “thuốc bổ”. “Thuốc bổ” là những tin tức người ta đồn thổi ở Saigon, như tin tướng Kỳ kéo quân về “giải phóng Saigon”, tướng Nam đang còn sống, chỉ huy “Mặt trận  miền Tây”… Thật ra, những tin nầy là tin vịt, chẳng ai tin, chẳng mấy hy vọng, nhưng cũng có những anh em tù tin nó, như đang trôi giữa dòng nước lũ mà nắm được cọng lau.

Ở ngoài, những người bạn cũ, lâu lâu đến thăm gia đình tôi, như anh Đoàn Công Lập, cựu trưởng ty Cảnh sát Huế, hay nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Với những người nầy, họ nói thẳng là khuyên nhà tôi nên đem con vượt biên.

Anh Đoàn Công Lập trốn cải tạo, bị Công An từ Huế vào Saigon truy lùng. Họ bắt được anh, tra khảo đến nỗi khi cho gia đình nhận về thì anh đang hấp hối. Nhạc sĩ Trần Tử Thiêng vượt biên cũng bị bắt. Khi tôi được tha thì anh còn ở trong tù.

Đó là những thứ “thuốc bổ” mà không bổ chút nào cả.

Một năm nhà tôi lên thăm, tôi gởi về cho mẹ mấy miếng vỏ cây, tôi lấy khi đi phá rừng, thường gọi là cây vỏ, người xưa thường ăn nhém với trầu để miếng trầu được dẻo. Nhà tôi nhận mấy miếng vỏ cây mà mấy giọt nước mắt lăn trên má. Tôi hỏi:

– “Má mất rồi à?”

Nhà tôi cố giữ bình tĩnh, trả lời:

– “Không, má còn sống.”

Tôi biết nhà tôi dấu tin, sợ tôi biết tin thêm buồn rầu mà thôi. Tuy nhiên, tôi chẳng hỏi thêm. Hỏi thêm, biết rõ thêm có ích gì đâu! Tôi chỉ tiếc một điều, những người sinh ra tôi và nuôi dạy tôi khôn lớn như cha mẹ, khi họ qua đời, không có tôi bên cạnh. Nỗi đau đớn ấy là do đâu?!

Thời gian cay đắng nhứt là tết năm Kỷ Mùi (1979), nhà tôi dẫn các con vượt biên ở Bình Tuy bị bắt. Vậy là cha mẹ ở tù cả, nhà chỉ còn lại 6 chị em ở với nhau, đứa lớn nhứt mới 15 tuổi, con gái, phải lo chăm sóc cho các em và thăm nuôi cả cha lẫn mẹ ở trong tù.

Các con tôi vẫn dấu kín, không nói với tôi là mẹ bị tù./

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: