Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Đỗ Thành – HÀ NỘI TRƯỚC, HÀ NỘI SAU (Phần 1)

1Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê

Tóc huyền thả gió lê thê, biết đâu ngày ấy anh về

 (Hoàng Dương)

Sau mấy bài viết về Sè Goòng, anh bạn vốn thân cự nự tôi : cậu chả công bằng tí nào, toàn đi ca tụng cái đất tạm dung mà bỏ rơi quê cha đất tổ.  Tôi vốn hơi ương ngạnh nên có vẻ lờ lờ, anh bạn lại dồn thêm mẻ nữa : thế là cậu con yêu con ghét, huống chi cậu khoe ông cụ vốn xuất thân từ phu mộ cao su, chả lẽ rồi cậu chóng quên đi mảnh đất bên nội bên ngoại cậu đã từng chen sống.

Vậy là trốn không được tôi đành phải viết thêm về Hà Nội.  Như loáng thoáng có lần tôi đã khoe bố tôi không mấy hâm mộ quê nội vì thuở ấy bố tôi sống hàn vi nên thường hay bị coi rẻ.  Thậm chí có người còn đoan chắc khả dĩ bố tôi chẳng dám cất bước ra khỏi làng là vì chắc chắn sẽ không làm nên cơ đồ gì hết.

Có lẽ vì vậy mà khi nghe có đợt tuyển mộ phu đi vào đồn điền cao su thì bố tôi lẳng lặng đầu quân ngay.  Thuở ấy, dân sống đâu chỉ biết một nơi đó, có khi cả đời không đặt chân ra khỏi rặng tre đầu làng.  Thế mà bố tôi nghe nói đi “ tân thế giới “ thì vui vẻ điền tên xin đi, có khi chả biết cái đất ấy nó ở nơi nào chăng nữa !

Bố tôi kể, người ta xem tướng xem hình, thu thẻ thuế thân và dặn dò chờ ngày tập trung lên tàu hỏa vào một cuộc đời mới.  Dạo ấy, đầu máy chạy bằng củi đốt, khói đen xì, chạy túc tắc những 3 ngày 2 đêm mới tới.  Ngồi trên toa, người cứ nhao nhao vì đường sắt gập ghềnh và đơn điệu, gật gà gật gù, nghe mãi một âm thanh uỳnh uỳnh, nghe cũng chán.

Tàu qua bao chặng đường, khí hậu đổi thay, cảnh vật khác lạ.  Dăm thì mười họa, tàu ghé những cái ga nghe tên lạ hoắc, lí la líu lo dăm giọng lơ lớ chẳng ra sao.  Đôi khi tàu leo đèo cao, dốc cả, phải độn thêm một đầu máy phía trước và thêm một đầu máy đun phía sau, con tàu mới bò lên xong cái đèo Hải Vân cao ngất.

Được cái tàu đến đâu đều thấy nhiều cảnh lạ, từ cầu Hàm Rồng Thanh Hóa, đến bãi biển Sa Huỳnh, Lăng Cô, hay những rừng lá âm u, đêm như nghe tiếng ma Hời than khóc.  Bố than chưa chi đã thấy nhớ nhà, giá có phép màu, chắc cụ đã nhảy ngay khỏi tàu trở lại nơi làng cũ.

Thế nhưng cái câu cạnh khóe chê bai lại ám ảnh khiến cụ vội níu chân đi, trong lòng ngầm chứa nếu không tạo nên một sự nghiệp, nhất định chẳng quay về.  Vậy rồi cũng đến cái ga cuối rơi đúng vào ngày hè nóng ôi là nóng.  Nhìn đâu cũng thấy lạ, tiếng nói cũng không quen, cảm tưởng đầu tiên cụ nói nghe như tiếng chim râm ran líu ríu.

Cụ bước ra khỏi ga Saigon cùng đoàn phu mới mộ, chỉ sợ chậm chân bị lạc thì không biết ăn đâu, ngủ đâu.  Cụ nhớ cái ngầy ngật say sóng và tai còn ùng ùng tiếng tàu băng băng xé gió làm cụ như bị choáng váng, lờ đờ.

Được cái nhà cai lo chu đáo mọi việc nên từ việc chân ướt chân ráo đến nơi đất lạ quê người đã sẵn xe chờ bốc đi ngay về nơi đồn điền.  Cơn say tàu chưa tan thì lại vương thêm cơn say xe lẳng nhẳng, cụ ngồi bó gối bên cái địu tay nải mà bỏ mặc cuộc sống muốn ra sao thì ra.

Đến nơi, phu được phân chia về từng lán, không kể cùng cảnh hay khác quê, tất cả đều nháo nhác ngầm hỏi nhau liệu sẽ sống, tiền nong được trả thế nào.  Ai cũng than giấy tờ tùy thân bị thu sạch, kiểu này có chán cảnh muốn trốn cũng không yên.  Phương chi con đường độc đạo vào ra đồn điền là đoạn đường sắt đơn côi luồn lách qua bao khu rừng già chằng chịt.

Tất cả giới chức phục vụ đều là người của đồn điền.  Họ được nuôi ăn chỗ ở, trả công hậu hĩ chỉ để có mỗi một việc trông chừng đừng để phu trốn.  Lại thêm những cái tên địa phương nghe càng lạ hẫng, chi mà Hớn Quản, Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Bù Đăng, Bù Đốp, Bà Rá, Ông Yệm, Lộc Ninh, bố tôi bảo dẫu có muốn thoát đi cũng không biết đâu mà lần.

Huống chi rừng hồi đó lại còn nguyên sinh huyền bí, cọp thả rông như dạo chốn không người, đêm kêu à uôm mà phát sợ.  Tàu dừng ga thì mật thám, a giăng nhảy lên đi soát, nhìn mặt từng người, xem có ai là phu định chuồn thì giữ chẹt.  Mà dấu sao cho xuể, mười anh đã ăn cơm nhà lèn thì chín anh nước da bủng bang tái mét.  Cái con vi trùng sốt rét ngã nước nó lậm vào người, chả cần là chuyên viên, nhìn sơ cũng đã nhận được mặt.

Thế nên ai đã đi phu thì đừng hòng dễ dàng thoát đi mà chỉnh.  Người bị bắt lại, chẳng những phải làm không công mà còn bị hành hạ, răn đe cho khiếp.  Lâu đần rồi đành thả cho số kiếp lênh đênh, cưới vợ, sinh con thành dân lưu cữu hết đời này sang đời khác.

Vậy mà chẳng hiểu sao bố tôi lại giã từ được kiếp phu mộ chỉ sau vài năm rất ngắn.  Tôi hỏi thì bố vẫn dấu không kể ra.  Sau này bố tôi đi buôn hàng tơ lụa, đeo bị lệt xệt đi rao bán khắp vùng, và ngẫu nhiên gặp mẹ tôi kết hợp thành một gia đình lủ khủ 6 mặt con.

Nhờ phúc đức ông cha để lại hay nhờ gặp được vận may, chẳng bao lâu bố tôi xoay đủ nghề và có nên tài sản khá.  Vào những năm 36-40 của thế kỷ 20, bố tôi đã sắm được ô tô riêng.  Lần cùng với gia đình anh ruột, bố tôi vênh vang lái xe về thăm lại quê làng.  Hai anh em bố lái phom phom hai chiếc xe từ Saigon về xứ Bắc.

Tiếng còi ti toe làm ngỡ ngàng cả xóm, ai cũng túa ra xem, đến khi nhìn thấy bố tôi, ai cũng gãi đầu gãi tai thắc mắc.  Bố tôi không giận hờn gì, trái lại còn tỏ ra niềm nở với tất cả mọi người.  Chuyến ấy bố tôi về tuyển được một lô thợ quấy sơn, đẽo guốc mộc để chủ trương mở hãng guốc tại miền Nam.  Nhiều người đã nghe lời bố nên cũng mong thử thời vận may ra cũng sẽ được như bố biết đâu.

Đó là lần đầu tôi theo xe nhà của bố cùng tất cả gia đình về quê Đình Bảng, Chợ Dầu, Phù Lưu, xứ Bắc, quê hương thánh Gióng khi vừa được 4 tuổi.  Trí nhớ tôi còn lưu đậm về gian đình làng đò sộ và hình ảnh bác Cả, có tiếng phong lưu và lịch lãm nhất làng.

Làng tôi thuở ấy đã có nhà lên gạch.  Ngay hai bên cổng làng là hai ngôi nhà to đùng của hai ông chú cũng tạo nghiệp từ cái đất Saigon xa xăm.  Tôi về làng trong ký ức nhỏ nhoi nên chỉ nhớ lem bem về những buổi ra đình tụ năm tụ ba chơi với đám đồng lứa.  Tôi chỉ nhớ lúc đó bố mẹ thường diện cho tôi cái quần soóc và cái áo sơ mi bỏ lùa vào lưng quần, còn bà chị thì mặc bộ áo bà ba Saigon mà bọn trẻ thấy lạ nên rao inh rao ỏi : ra mà xem ông tây, bà đầm chúng mày ơi !

Lần đầu về thăm đất bên nội, phần tôi còn quá nhỏ, phần lại đi thẳng một lèo về Bắc ninh nên tôi chẳng biết mảy may gì về Hà Nội.  Bố có hứa sau khi ở quê sẽ cho đi thăm một vòng ông bà, các cậu, các dì ở Hà Nội trước lúc quay lại miền Nam, thế nhưng lưu luyến bận bịu thế nào mà việc ấy không thực hiện được.

Cho nên ngày vào lại Saigon thì Hà Nội vẫn là một hình ảnh mờ mờ trong sự suy đoán của tôi.  Sau này bà tôi vào thăm, khi tiến chân bà lên tàu ở ga, tôi đã khóc, quyết đi theo bà về Hà Nội (dạo ấy bà tôi có môn bài bán thuốc phiện ở phố Blockhaus Nord, sau đổi là phố Phó Đức Chính), nhưng bố tôi không cho, chỉ hứa hẹn sẽ cho tôi ra Hà Nội gần đây.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: