Bài 3. “Cộng sản” của Hồ thay sau năm 1960 – 7/7 bí thư Tỉnh ủy – không ai chết trận!

A. Bằng chứng và phân tích.

– Khảo sát 7 người có tên trong “Xứ ủy” mới sau đồng khởi.

“…Tây Nam Bộ khởi nghĩa đồng loạt từ 14 tháng 9 đến cuối năm 1960

…Lúc này, đồng chí Phạm Thái Bường được rút lên Xứ ủy. Xứ ủy chỉ định đồng chí Nguyễn Thành Thơ làm bí thư và đồng chí Bỉnh làm Phó Bí thư Liên Tỉnh ủy, các đồng chí Lâm Văn Thê Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá, Vũ Đình Liệu Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau tham gia Liên Tỉnh ủy. Liên Tỉnh ủy chỉ định đồng chí Phan Ngọc Sến làm Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau, đồng chí Nguyễn Tấn Thanh làm Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá.” (Văn bản 1 – ảnh 1)

Ta sẽ nghiên cứu 7 người này – ta nghiên cứu tất cho khép kín.

Có một điều lạ là: 7 người này đều sống tới sau 1975!

Chiến tranh ác liệt đến nỗi chỉ trong năm 1969, ở nguyên một tỉnh Hà Tiên, chúng ta đã thấy ít nhất có 2 quả bom vào đúng đầu não – “quả bom” tháng 4 giết Bố Nguyễn Tấn Dũng cùng ít nhất là 6 đồng đội nữa (Ông Nguyễn Tấn Thử, Phan Thái Quý và 3 chiến sĩ và Má Tư, bà Hồ Thị Chín).

Sau đó 7 tháng thì “quả bom” thứ 2 lại “. Đêm 22-11-1969, máy bay B52 đánh bom trúng ngay Văn phòng Tỉnh ủy ở rừng Ấp Khân, 9 cán bộ, nhân viên hy sinh, toàn bộ lưu trữ của Văn phòng Tỉnh ủy đều bị mất. ” (Xem bài 1)

Và đương nhiên là còn nhiều “quả bom” mà ta chưa thống kê hết được…

Ấy thế mà “Bom” lại tránh 7 người này!

Sự thật ở đây là gì?

Sự thật ở đây là Hồ đã lừa CS miền Nam phát động Đồng Khởi rồi tranh thủ khói bụi của Chiến Tranh đã giết hết CS Miền Nam (Xem Quyển 27.), lập ra một xứ ủy mới trong đó gồm 7 người này! (Tất nhiên lúc đó chưa giết hết được nên đến 1969 Hồ lại phát động Tổng Tiến công Mậu Thân rồi tranh thủ khói bụi của Chiến Tranh để giết tiếp Cs còn sót (Xem Quyển 28.)– trong đó có cánh bố Nguyễn Tấn Dũng ở “quả bom” đầu và “9 cán bộ, nhân viên hy sinh” ở quả bom sau cùng nhiều “quả bom” mà ta chưa thống kê hết được…)

Thế rồi sau 1975 – Khi viết sử – bọn bồi bút đã nhớ về giai đoạn này còn có CS Nguyễn Tấn Thử, Phan Thái Quý và “9 cán bộ, nhân viên hy sinh” nên chúng đã lồng họ vào đây thành một nồi lẩu tổng hợp – Cách mạng Miền Nam anh dũng – thành đồng! (Rất may cho NTD là cha ông ta không bị cho là Phản động- Không lẽ Phản động tất? – Không ít CS NAQ đã bị cho là Phản động!)

7 người này thế nào? Họ là ai?

Họ chính là người mới của quỷ Hồ, xuất hiện sau Đồng Khởi, gia danh Cán bộ kỳ cựu CS NAQ!

Nào ta cùng nghiên cứu:

  1. Phạm Thái Bường nguyên bí thư xứ ủy.

– Kỳ cựu thời NAQ?

“Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

…Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh” (Văn bản 2 – ảnh 2)

– Chết kỳ bí:

“Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.” (Văn bản 2)

  1. Nguyễn Thành Thơ bí thư xứ ủy.

– Kỳ cựu: “Cha ông vốn là một thầy thuốc đông y địa phương tên là Nguyễn Ngươn Hanh, sinh năm 1870, là một Đảng viên An Nam Cộng sản Đảng. Dưới ảnh hưởng của người cha, ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm. Năm 1935, ông là đoàn viên của Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương, làm công tác liên lạc, phục vụ, đưa đón các cán bộ Cộng sản hoạt động. Một trong những cán bộ trẻ ông từng đưa đó có tên Mười Tụy, người về sau được biết với tên Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam[2]. Năm 1942 ông chính thức vào Đảng.”  (Văn bản 3 – ảnh 3)

– Dấu hiệu quỷ (Người thân chết hoạc mất tích):

+ Bố đẻ – ky cựu CS chết thời kỳ 1942.

“Cha ông là thầy thuốc đông y địa phương Nguyễn Ngươn Hanh (1870-1942), là một Đảng viên An Nam Cộng sản Đảng, bí danh Xã Trinh. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, cha ông tiếp tục hoạt động cho đến khi bị thực dân Pháp bắt ngày 30 tháng 9 năm 1939, và bị kêu án 5 năm tù đày đi Côn Đảo. Cha ông qua đời tại đây ngày 9 tháng 9 năm 1942.” (Văn bản 3 – ảnh 3)

+ Vợ đầu chết (hoặc mất liên lạc) – cưới vợ 2 sau 1945.

“Ông có hai người vợ:

Người vợ đầu cưới tại quê nhà,bà Tư Nhàn,có với ông hai người con Nguyễn Kiến Phúc (nữ) và Nguyễn Kiến Công.

Người vợ thứ hai là bà Nguyễn Hồng Nga(1935),bí danh Mười Nga…5 người con là Nguyễn Kiến Quốc, Nguyễn kiến Lực, Nguyễn Kiến Khởi, Nguyễn Kiến Nghĩa, Nguyễn Kiến Hảo (nữ).” (Văn bản 3 – ảnh 3)

  1. Bỉnh phó bí thư xứ ủy.

– Kỳ cựu: “ Bỉnh (Bảy Thạng) sinh năm 1916, quê quán xã Tân Hưng Tây, quận Cà Mau (nay là huyện Phú Tân). Ông tham gia cách mạng năm 1940, vào Đảng năm 1944, trải qua các chức vụ: Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu,”

(Văn bản 4)

– Dấu hiệu quỷ – con chết hết

“Cháu Thiệu, thương binh loại 2, tập kết ra Bắc, làm việc trong hãng sửa xe Hòa Bình, cưới vợ cùng cơ quan ở đây. Năm 1967, nhân chuyến công tác ra miền Bắc, tôi xin cháu về Nam chiến đấu. Sau ngày toàn thắng mấy năm, cháu mới qua đời. Cháu Thạng, đi bộ đội chủ lực, gánh Tám Tùng; anh Ba Hương xin về ngành ảnh phụ trách, cháu hy sinh năm 1967, cháu chưa có gia đình.” (Văn bản 4.2 – ảnh 4)

  1. Lâm Văn Thê Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá.

– Kỳ cựu: “Là người sáng lập và phụ trách “Thanh niên tiền phong xã” An Trạch năm 1944”

– Dấu hiệu quỷ: “Ba má tôi sinh được 3 anh em. Anh Hai của tôi đã mất. Còn lại 2 anh em, tôi và em Lâm Dũng Tiến (SN 1964). Còn nhỏ anh em tôi đã được ba má dẫn lên chiến khu (Ban ANTW Cục miền Nam). 13 tuổi tôi đã thuộc “biên chế” Tiểu ban Bảo vệ chính trị. Vì ba má đều bận công tác (mẹ của Đại tá Lâm Dũng Nam là bà Trần Thị Phương) nên anh em tôi sống chủ yếu nhờ sự lo toan chăm sóc của các cô chú ở chiến khu, lúc ở trên rừng cũng như sau này đất nước giải phóng.”

(Văn bản 5 – ảnh 5)

(Xem thêm bài 4)

  1. Vũ Đình Liệu Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau tham gia Liên Tỉnh ủy.

– Cộng sản sau 1945: “tháng 10/1946 đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.”

(Văn bản 6 – ảnh 6)

  1. Phan Ngọc Sến làm Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau.

– Cộng sản sau 1945: “Năm 1946, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách chỉ huy trưởng dân quân, phân đoàn trưởng thanh niên xã Thới Bình.”

(Văn bản 7 – ảnh 7)

  1. Nguyễn Tấn Thanh làm Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá.

– Cộng sản sau 1945: “Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nguyễn Tấn Thanh tham gia Thanh niên cứu quốc. Năm 1947, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

…Năm 1987, làm Trưởng ban chỉ đạo Tứ giác Long Xuyên cho đến năm 1990 về hưu.” (Xem TL ở bài 4)

Nhận xét:

7 người bí thư tỉnh ủy, bí thư Xứ ủy của “Cộng sản” Hồ mới đề bạt sau Đồng Khởi 1960 – tất cả đều không ai chết trận!

Trong đó: 3 người sau thì đều “Kết nạp” từ 1946 về sau!

4 người đầu nói là kỳ cựu Cộng Sản từ 1945 về trước – thì tất cả đều có dấu hiệu của quỷ giả danh! (Xem thêm Quyển 7. Bầy quỷ và Quyển 27. Đồng Khởi 1960 là giết nốt Cộng sản và trí thức Nam bộ rồi đưa Quỷ vào thành lập Mặt Trận Giải Phóng miền Nam việt Nam.

Quyển 28. Tổng tiến công Mậu Thân là giết nốt Cộng sản và trí thức Nam bộ rồi đưa Quỷ vào thành lập Chính phủ Lâm thời giải phóng miền nam Việt Nam.)

DẤU HIỆU QUỶ của 4 người đầu ở đây là:

  1. Phạm Thái Bường – tên này đã đóng giả người kỳ cựu cộng sản “Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân” sau đó đến 1974 thấy không ổn, (Có thể lộ chân tướng) vì vậy mà “Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974”!
  2. Nguyễn Thành Thơ.

+ Bố đẻ – ky cựu CS chết thời kỳ 1942.

+ Vợ đầu chết (hoặc mất liên lạc) – cưới vợ 2 sau 1945.

Chắc chắn: Hai nười con của “Người vợ đầu”:hai người con Nguyễn Kiến Phúc (nữ) và Nguyễn Kiến Côngsẽ không cùng dòng máu với:5 người con là Nguyễn Kiến Quốc, Nguyễn kiến Lực, Nguyễn Kiến Khởi, Nguyễn Kiến Nghĩa, Nguyễn Kiến Hảo (nữ).

  1. Bỉnh.

Quỷ đã đóng giả Bỉnh – Bỉnh cũ có vợ và 2 con: Thiệu và Thạng! Đã giết 2 vợ c Văn Bỉnh cũ sau đó đưa 2 con ra Bắc, rồi quỷ mới đóng giả thay thế. Thiệu vì Thương Binh mà không nhớ gì thì được sống tới sau 1975! Còn Thạng thì đã khử từ 1967!

Đến sau 1975 thấy có thể lộ chuyện (Vì 2 cha con không giống nhau, hoặc Thiệu đã biết được điều gì đó nên Bỉnh quỷ thì bị diệt 1977, còn Thiệu cũng “… Sau ngày toàn thắng mấy năm, cháu mới qua đời.”!

Chắc chắn: “Cháu Thiệu, … Sau ngày toàn thắng mấy năm, cháu mới qua đời. Cháu Thạng, đi bộ đội chủ lực, gánh Tám Tùng; anh Ba Hương xin về ngành ảnh phụ trách, cháu hy sinh năm 1967…”

Không cùng dòng máu với: “cháu Liên và cháu Tâm. Cháu Liên có gia đình ở xa, còn cháu Tâm cùng ở với chị đây.”

  1. Lâm Văn Thê.

Quỷ đã đóng giả Lâm Văn Thê – Lâm Văn Thê cũ có vợ và 2 con: “Lâm Dũng Nam (SN 1958)” và anh trai! Đã giết 2 vợ chồng Lâm Văn Thê cũ sau đó giết người anh của “Lâm Dũng Nam (SN 1958) ” – vì lớn tuổi đã phân biệt được! “Lâm Dũng Nam (SN 1958) ” đến sau 1960 mới 2 tuổi nên còn được sống!

Chắc chắn: “Lâm Dũng Nam (SN 1958) ” sẽ không cùng dòng máu với “em Lâm Dũng Tiến (SN 1964).”!

(Xem thêm Quyển 7, Quyển 27, Quyển 28.)

  1. Nghiên cứu.

(Văn bản 1)

Cuộc đồng khởi kì diệu ở miền Nam Việt Nam 1959-1960

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=12185.85;wap2

Đầu năm 1960, đơn vị vũ trang tập trung tỉnh Cà Mau lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn U Minh 1, đơn vị Rạch Giá lấy tên Tiểu đoàn U Minh 10. Các tiểu đoàn đều dư biên chế. Tất cả các huyện đều đã có từ 1 trung đội đến 1 đại đội địa phương. Xã, ấp, thì có tiểu đội đến trung đội du kích.

Riêng Liên Tỉnh (Khu 9) với lực lượng từ Cà Mau, Rạch Giá, Cần Thơ, cùng lực lượng vũ trang có sẵn, thành lập một đại đội bảo vệ khu và hai Tiểu đoàn chủ lực 96 và 306.

…Tây Nam Bộ khởi nghĩa đồng loạt từ 14 tháng 9 đến cuối năm 1960

Thực hiện chỉ thị của Xứ ủy Liên tỉnh ủy miền Tây (Khu 9) phát động quần chúng nổi dậy đều khắp, bắt đầu nhất loạt từ 14 tháng 9 năm 1960. Chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy là chọn một số xã có điều kiện nổi dậy trước, từ dó lan rộng ra. Đối tượng là bọn tề xã, tề ấp, bọn kìm kẹp ở cở. Phương châm phương thức là phối hợp giữa quần chúng có gia đình binh sĩ nổi dậy, lực lượng vũ trang diệt ác ôn, bọn can viện, kết hợp với vận động bọn tề, bọn dân vệ, lực lượng bán vũ trang. Giải phóng tới đây, xây dựng ngay chính quyền tự quản để giữ vững an ninh trật tự, chuẩn bị kế hoạch đấu tranh chống càn. Riêng Cà Mau và một phần Rạch Giá, xây dựng và củng cố vùng đã giải phóng, tiến công ra vùng kìm, vùng yếu, thí điểm xây dựng chính quyền tự quản.

Lúc này, đồng chí Phạm Thái Bường được rút lên Xứ ủy. Xứ ủy chỉ định đồng chí Nguyễn Thành Thơ làm bí thư và đồng chí Bỉnh làm Phó Bí thư Liên Tỉnh ủy, các đồng chí Lâm Văn Thê Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá, Vũ Đình Liệu Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau tham gia Liên Tỉnh ủy. Liên Tỉnh ủy chỉ định đồng chí Phan Ngọc Sến làm Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau, đồng chí Nguyễn Tấn Thanh làm Bí thư Tỉnh ủy Rạch Giá.

Tỉnh ủy Cà Mau xây dựng Tiểu đoàn U Minh đánh đồn thị trấn Sông Ông Đốc để mở đầu đợt nổi dậy. Trận đánh giành thắng lợi nhanh chóng. Quần chúng nổi dậy phá tan toàn bộ máy kìm kẹp, tước vũ khí bọn dân vệ, bảo vệ hương thôn, giải tán mọi tổ chức phản động của địch. Thị trấn Sông Ông Đốc là thị trấn đầu tiên của tỉnh Cà Mau và cả miền Tây được giải phóng (14.9/1960).

(Văn bản 2)

Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

http://travinh.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c0/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3jHQHdHEzcPIwMDV09nAyMv7wALQw9fd28XE_2CbEdFAL4hKiA!/?WCM_PORTLET=PC_7_AQGA4FH2008PF02JMBN3SB1IF7_WCM&WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/Web%20Content/portaltravinh/timhieutravinh/connguoitravinh/pham+thai+buong

Phạm Thái Bường là một anh hùng đất Trà Vinh, tên ông được lấy làm tên một trường trung học phổ thông tại thị xã Trà Vinh, sau đây là đôi nét về ông

Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái Hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre – tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên Xứ ủy Nam bộ, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, có chân trong Trung ương Cục miền Nam.

Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ.

(Văn bản 3)

Nguyễn Thành Thơ.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Th%C3%A0nh_Th%C6%A1

Nguyễn Thành Thơ (sinh năm 1925), hay Mười Thơ, là một nhà hoạt động chính trị Việt Nam. Ông từng là Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV (1976)

…Ông tên thật là Nguyễn Kiến Lập, sinh ngày 3 tháng 10 năm 1925, tại xã Vĩnh Xuân, quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ông là con thứ 8 trong gia đình, nên còn có tên là Chín Bôn theo tục lệ vùng Nam Bộ.

Cha ông vốn là một thầy thuốc đông y địa phương tên là Nguyễn Ngươn Hanh, sinh năm 1870, là một Đảng viên An Nam Cộng sản Đảng. Dưới ảnh hưởng của người cha, ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm. Năm 1935, ông là đoàn viên của Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương, làm công tác liên lạc, phục vụ, đưa đón các cán bộ Cộng sản hoạt động. Một trong những cán bộ trẻ ông từng đưa đó có tên Mười Tụy, người về sau được biết với tên Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam[2]. Năm 1942 ông chính thức vào Đảng.

…Sau năm 1954, ông bí mật ở lại miền Nam hoạt động với bí danh Mười Khẩn. Trong 10 năm, từ năm 1959 đến 1969, ông được phân công làm Bí thư Khu ủy Khu miền Tây nam bộ (khu 9) kiêm Trưởng ban quân sự

…Sau khi Trung ương Cục miền Nam được thành lập năm 1961, ông được giao thêm chức vụ Trưởng ban Nông vận. Ông là một trong những người không tán thành chủ trương phát động quần chúng toàn diện và triệt để ở miền Nam của Bí thư Trung ương Cục Nguyễn Chí Thanh.[3]

Năm 1970, ông được phân công giữ chức Trưởng ban Binh vận với bí danh Nguyễn Thành Thơ, hay Mười Thơ. Một trong những tác động đáng kể nhất của ông là cùng Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam Dương Văn Nhựt, em ruột của tướng Dương Văn Minh, vận động tướng Minh và Lực lượng thứ ba xây

…Tuy vậy, mãi đến Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI, khi cấp trên cũ là Nguyễn Văn Linh đắc cử Tổng Bí thư, ông mới được tín nhiệm trở lại.

…Cha ông là thầy thuốc đông y địa phương Nguyễn Ngươn Hanh (1870-1942), là một Đảng viên An Nam Cộng sản Đảng, bí danh Xã Trinh. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, cha ông tiếp tục hoạt động cho đến khi bị thực dân Pháp bắt ngày 30 tháng 9 năm 1939, và bị kêu án 5 năm tù đày đi Côn Đảo. Cha ông qua đời tại đây ngày 9 tháng 9 năm 1942.

Các em ông là:

  • Nguyễn Tương Lai (1927-2001), bí danh Tám Lai, Ủy viên thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Trưởng ban bảo vệ, giao bưu, xây dựng căn cứ Trung ương Cục Miền Nam (1969-1975).Nguyên Giám đốc sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh
  • Nguyễn Thị Tính, bí danh Út Tính, nguyên Tỉnh ủy viên tỉnh Hậu Giang.

Ông có hai người vợ:

  • Người vợ đầu cưới tại quê nhà,bà Tư Nhàn,có với ông hai người con Nguyễn Kiến Phúc (nữ) và Nguyễn Kiến Công.
  • Người vợ thứ hai là bà Nguyễn Hồng Nga(1935),bí danh Mười Nga, nguyên bí thư, Hiệu phó trường Lý Tự Trọng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Hiện cán bộ hưu trí. Bà có với ông 5 người con là Nguyễn Kiến Quốc, Nguyễn kiến Lực, Nguyễn Kiến Khởi, Nguyễn Kiến Nghĩa, Nguyễn Kiến Hảo (nữ).

(Văn bản 4.)

Những tấm gương sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng

Kỳ 11: Ngọn đèn soi giữa bóng đêm

16/09/2011

http://www.baocamau.com.vn/newspreview.aspx?newsid=17718

Bỉnh (Bảy Thạng) sinh năm 1916, quê quán xã Tân Hưng Tây, quận Cà Mau (nay là huyện Phú Tân). Ông tham gia cách mạng năm 1940, vào Đảng năm 1944, trải qua các chức vụ: Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu, (nay Cà Mau – Bạc Liêu), Phó Bí thư Liên Tỉnh ủy – Phó Bí thư Khu ủy Khu Tây Nam Bộ, Bí thư Khu ủy Khu Tây Nam Bộ, Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải (nay Cà Mau – Bạc Liêu)…

Tân Hưng Tây là chiếc nôi cách mạng của thời kỳ tiền khởi nghĩa, là nơi đặt bản doanh của lực lượng khởi nghĩa Nam Kỳ, của đội du kích Tân Hưng Tây, đơn vị tiền thân lực lượng vũ trang của tỉnh. Bỉnh sớm giác ngộ cách mạng, tham gia vào Hội Nông dân phản đế và Đội du kích Tân Hưng Tây.

Sau cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai (13/12/1940), người đội viên du kích xã Tân Hưng Tây, bị địch truy bắt giam cầm và bọn mật thám nhà nghề tra tấn, đày ải rất dã man. Với tinh thần dũng cảm, với tấm lòng kiên trung của người chiến sĩ cách mạng, đồng chí Bỉnh giữ vững khí tiết, bảo toàn bí mật của cách mạng, chiến thắng kẻ thù, buộc thực dân Pháp trả tự do cho đồng chí.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Bỉnh phụ trách Công an xã Tân Hưng Tây. Năm 1946 tham gia lực lượng vũ trang chiến đấu ở Mặt trận Tân Hưng. Năm 1947 giữ chức vụ Bí thư chi bộ xã, Huyện ủy viên, Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Phó Bí thư Huyện ủy Ngọc Hiển. Năm 1951, Bí thư Huyện ủy Thời và năm 1953, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IV bầu đồng chí Bỉnh vào Ban chấp hành và kiêm Bí thư Huyện ủy Thời cho đến ngày ký kết Hiệp định Geneva 1954.

Sau khi hoàn thành “Hai trăm ngày tập kết”, năm 1955, đối phương tiếp quản và thiết lập bộ máy chính quyền, dựng lên hệ thống tề, điềm, xua quân khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ hòng dập tắt phong trào cách mạng miền Nam, phá hoại Hiệp định Geneva, phủ định Điều 14, Khoản C của Hiệp định. Trước những diễn biến gây nhiều khó khăn cho cách mạng nói chung, ở Cà Mau nói riêng, Đảng ta nhanh chóng chuyển hướng hoạt động bí mật, đấu tranh chính trị. Xứ ủy Nam Bộ chỉ định đồng chí Bỉnh làm Phó Bí thư Tỉnh ủy, phụ trách công tác Đảng.

Xác định tính chất quan trọng của nhiệm vụ mới, quán triệt sâu sắc chủ trương, phương châm, phương thức đấu tranh và chiến lược cách mạng trong tình hình mới, đồng chí Bỉnh khẩn trương triển khai kế hoạch sắp xếp tổ chức, phân loại đảng viên, duy trì cơ sở cách mạng, giữ vững phong trào đấu tranh của quần chúng và bảo vệ thành quả của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Năm 1957, đồng chí Bỉnh được cử làm Bí thư Tỉnh ủy. Thời kỳ này đồng chí cùng với Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo công tác đấu tranh chính trị đòi Hiệp thương thống nhất Tổ quốc, đòi dân sinh, dân chủ, chống hành quân, chống bắt bớ, bắn giết người vô tội; quyết tâm bảo vệ cán bộ, bảo vệ cơ sở cách mạng.

Trong điều kiện giặc đánh phá ác liệt, đẩy cách mạng vào một tình thế khó khăn nghiêm trọng, là một Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Bỉnh vẫn tỉnh táo cùng với Tỉnh ủy chủ trương vừa ra sức bảo toàn lực lượng, bảo toàn cơ sở và ra sức phát triển, điều động cán bộ quần chúng, cán bộ đảng viên, thanh niên lao động và chiến sĩ bám địa bàn, bám vị trí chiến đấu.

Vào năm 1958, 1959 kẻ thù đã đẩy cách mạng tới chân tường, Bí thư Tỉnh ủy Bỉnh luôn luôn quyết chiến, tự tin và lạc quan, sáng suốt lãnh đạo cách mạng chính sách chống cộng, diệt cộng. Luật 10/59 của Mỹ – Diệm làm cho làng xóm tiêu điều, tình hình cách mạng lâm vào cảnh đen tối.

Trong bối cảnh đó, Bí thư Tỉnh ủy Bỉnh tỏ rõ là một “vị tướng” xứng tầm, tài ba. Niềm tin, khí phách, tấm lòng kiên định lý tưởng của người cộng sản Bỉnh luôn luôn tỏa sáng trong lòng mọi người hướng đến ngày chiến thắng. Bí thư Tỉnh ủy Bỉnh như ngọn đèn soi giữa đêm đen cho mọi người bước tới…

Không phải ngẫu nhiên mà trong thời điểm cách mạng lâm vào khó khăn nhất, đồng chí Bỉnh được Xứ ủy Nam Bộ chỉ định làm Ủy viên Khu ủy, Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu Tây Nam Bộ. Bằng dũng khí và trí tuệ cách mạng, đồng chí Bỉnh cùng với tập thể lãnh đạo đẩy mạnh phong trào cách mạng với tay không, với gậy gộc, với những khẩu súng tự tạo “quần thảo” với đội quân thiện chiến tàu to súng lớn. Chính sách tố cộng, diệt cộng tàn bạo, mưu toan biến miền Nam thành địa ngục trần gian.

Trong gian khổ, khó khăn, ác liệt, đồng chí Bỉnh “đả phá” tư tưởng cầu an, co thủ, sợ chết không dám hoạt động, đánh giá địch cao, không thấy nhược điểm phi nghĩa của chúng; không thấy điểm mạnh cơ bản của ta là sức mạnh chính nghĩa, sức mạnh của toàn dân tộc. Trong lúc bọn xấu, bọn phản động dẫn địch về đánh phá cơ sở cách mạng, gây cho ta tổn thất nặng nề, đồng chí Bỉnh chỉ đạo: “Phải tạo luồng gió Đông thổi bạt gió Tây”, phải xây dựng niềm tin tất thắng; phải tin Bác Hồ, tin Đảng, tin dân và phải tin chính bản thân mình.

Đồng chí Bỉnh từng nói với cán bộ, đảng viên: “Chúng ta là những con cháu của dân tộc anh hùng vừa chiến thắng đế quốc Pháp, đồng minh của Mỹ, được Mỹ tận lực viện trợ. Các đồng chí chúng ta vĩ đại như thế mà sao lại sợ Mỹ – Mỹ là cái gì mà ta lại sợ!”. Trong cuộc “ác chiến” Mậu Thân – 1968, đồng chí Bỉnh nhận biết có cán bộ, đảng viên hoang mang, dao động, nên nói: “Các đồng chí, xưa nay đánh giặc có thắng, có huề, có thua. Nay ta gặp khó khăn thì lau máu mình đứng dậy, tiếp tục chiến đấu, chớ ở đây nằm vạ với nhau sao?”.

Những năm đen tối nhất, Bỉnh cùng cấp ủy chỉ đạo lực lượng quần chúng “phá rào” xây dựng lực lượng vũ trang, hỗ trợ quần chúng “diệt ác”, “phá tề”. trào chống cướp của quần chúng, đồng chí Bỉnh cùng cấp ủy chỉ đạo phát triển rộng lớn các đội chống cướp. Đội chống cướp làm nhiệm vụ báo tin khi giặc, bọn biệt kích vào xóm ấp, giải thoát cán bộ của ta bị chúng bắt bớ.

Với phương thức hoạt động nhạy bén, sáng tạo, đã tạo ra những kết quả không ngờ tới. Giữa năm 1955, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ cải trang một nông dân đi xuồng qua Rạch Ruộng, bọn tề và đồn lính dân vệ bắt giữ, nhờ có nội tuyến nhắn tin cho “bên trong” tính toán đưa đồng chí Lê Duẩn về căn cứ an toàn.

Đồng chí Bỉnh sớm có ý thức xây dựng lực lượng vũ trang rất sớm. Tháng 8/1955, đồng chí Lê Duẩn (cơ quan Xứ ủy đóng ở xã Tân Hưng Tây) giao cho đồng chí Nguyễn Hữu Xuyên, Phó Bí thư Liên Tỉnh ủy cùng Bỉnh tổ chức lớp tập huấn cán bộ quân sự chọn ở lại miền Nam không tập kết ra miền Bắc để xây dựng đơn vị vũ trang “bảo vệ hòa bình”.

Đơn vị này là tiền thân của các Tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, Ngô Văn Sở diệt ác phá kềm trong giai đoạn đen tối nhất của cách mạng 1958, 1959. Đó là kết quả thực hiện tinh thần chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ tại cuộc hội nghị tháng 12/1956: “Đấu tranh chính trị đơn thuần thì không được, đấu tranh vũ trang thì thời cơ chưa cho phép. Đấu tranh chính trị phải có vũ trang tự vệ, phải vũ trang tuyên truyền, phải diệt ác phá kềm, xây dựng lực lượng cách mạng đẩy mạnh phong trào chính trị có bạo lực nhằm lật đổ Mỹ – Diệm thống nhất nước nhà”.

Vận dụng tài tình tư tưởng vũ trang cách mạng, lực lượng vũ trang của ta khi hóa trang thành sắc lính bảo an, khi hóa trang thành sắc lính chủ lực, khi hóa trang thành sắc lính thủy quân lục chiến, mang súng Mỹ, máy bộ đàm của Mỹ xông vào sào huyệt địch tập kích diệt ác, phá kềm hàng trăm cuộc: Diệt tên cảnh sát Tham ở đồn Vàm Đình, tên Sét ở đồn Khánh Bình Tây…

Có trận, quân ta giả trang một đơn vị chủ lực bắt một đồng chí của ta trói lại chở dưới xuồng chèo ra vàm Cái Tàu kêu tên cảnh sát Danh ra nhận tù binh. Tên cảnh sát Danh cùng hơn 10 tên lính từ trong đồn chạy xuống bến, ta nổ súng tiêu diệt gọn. Thừa thắng lực lượng ta xông lên lấy đồn Cái Tàu, giải thoát một trại giam và bà con ấp chiến lược nổi dậy phá ấp trở về ruộng vườn.

Trong phong trào đấu tranh chính trị, kết hợp xây dựng lực lượng vũ trang, diệt ác ôn, phá thế kềm kẹp, tạo thế cho phong trào đấu tranh chính trị, hạ uy thế địch, đưa khí thế cách mạng tiến lên. Đó là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Tỉnh ủy Cà Mau, của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Bỉnh.

Cũng vào thời điểm khó khăn, gian khổ nhất – năm 1958, 1959, Cà Mau xuất hiện mô hình Làng rừng. Làng rừng là chiến lũy cuối cùng quyết chiến quyết thắng của Đảng bộ và nhân dân Cà Mau. Đây là một trong những sáng tạo cách mạng quan trọng của Đảng bộ Cà Mau, của Tỉnh ủy Cà Mau, của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Bỉnh.

Với tư cách Phó Bí thư Liên Tỉnh ủy, đồng chí Bỉnh được Xứ ủy Nam Bộ phân công truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương “Cho nổi dậy tấn công, dùng bạo lực cách mạng lật đổ chế độ độc tài ”… Bỉnh vừa truyền đạt thông suốt chủ trương, đồng khởi, vừa chỉ đạo thực hiện thắng lợi cuộc Đồng khởi 1960 không chỉ ở Cà Mau mà nhiều tỉnh ở miền Tây Nam Bộ…

Bỉnh từ trần ngày 22/1/1977. Thành tích của đồng chí được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng: Huân chương Quyết thắng hạng nhất, Huân chương Giải phóng hạng nhất, Huân chương Chống Mỹ hạng nhất và Huân chương Hồ Chí Minh./.

Phạm Văn Tri

(Văn bản 4.2)

Anh Bảy Thạng – Bỉnh: Đại thụ của những cánh rừng xưa
Cập nhật ngày: 29/04/2009

http://www.baocamau.com.vn/newsdetails.aspx?id=39&newsid=1707

Trên bàn thờ, chân dung anh Bảy ở giữa. Cháu Thiệu bên trái, cháu Thạng bên phải của anh. Ba cha con yên lặng mấy mươi năm ngồi đó, nhắc nhở gia đình, bè bạn sự có mặt bền lâu của họ.

Trong ngôi nhà đơn sơ nép mình lặng lẽ, chị Huỳnh Thị Phàn chính là bà lão ngồi bên ghế bố, dựa lưng vào tường giữa, xem ti-vi – đài truyền hình chiếu phim về cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Âm thanh chiến tranh quen thuộc gầm rú trong máy, thu hút chị.

…                                                             *

Chiều nay, tại nhà anh chị tạo dựng sau giải phóng ở phường 5, TP Cà Mau, chị Bảy vui vẻ nhắc lại người bạn đời, người đồng chí thân yêu nhất của chị và các cháu, đã khuất từ 32 năm trước. Giọng chị ngậm ngùi:

– Chú biết không, ba cha con ảnh giờ nằm chung một nghĩa trang Cà Mau. Cháu Thiệu, thương binh loại 2, tập kết ra Bắc, làm việc trong hãng sửa xe Hòa Bình, cưới vợ cùng cơ quan ở đây. Năm 1967, nhân chuyến công tác ra miền Bắc, tôi xin cháu về Nam chiến đấu. Sau ngày toàn thắng mấy năm, cháu mới qua đời. Cháu Thạng, đi bộ đội chủ lực, gánh Tám Tùng; anh Ba Hương xin về ngành ảnh phụ trách, cháu hy sinh năm 1967, cháu chưa có gia đình.

– Thưa chị, còn hai cháu gái?

– Hai cháu gái là cháu Liên và cháu Tâm. Cháu Liên có gia đình ở xa, còn cháu Tâm cùng ở với chị đây.

Chị Bảy cho biết chị có lương hưu một triệu rưỡi đồng mỗi tháng. Thu nhập của gia đình nhờ nghề rửa xe, được đồng nào mua gạo và thức ăn đồng nấy. Chị nói tiếp:

– Sau giải phóng một đỗi, cũng tại căn nhà này, anh Bảy mất rồi, tôi và các cháu có lúc thiếu gạo ăn, khó khăn quá đỗi. Tôi phải mạnh dạn lại gặp chú Ngô Vân và cô Hồng Thơ, nói thẳng là xin gạo ăn. Ủ tỉnh lần đó cho tôi 100 ký gạo, cả nhà mừng vui hết sức. Tôi và các cháu nhớ mãi ơn này.

Trên bàn thờ, chân dung anh Bảy ở giữa. Cháu Thiệu bên trái, cháu Thạng bên phải của anh. Ba cha con yên lặng mấy mươi năm ngồi đó, nhắc nhở gia đình, bè bạn sự có mặt bền lâu của họ.

Trở lại thời trai trẻ, chị Bảy cho biết, anh chị tham gia hoạt động cách mạng từ những năm tiền khởi nghĩa. Chị được kết nạp vào Đảng năm 1939. Vừa công tác vận động quần chúng phụ nữ trong xã ủng hộ các phong trào phản đế, Mặt trận bình dân, Đông Dương đại hội. Người đương thời của anh, chị là chị Hai Lộc, anh Ba Trắng, anh Tư Sơn, Năm Yến… con của chú Chín Giỏi – chú ruột thứ chín của các anh chị Thời, Đại và Trần Thị Bướm, Trần Thị Biên…

, cô Thanh Châu nhận từ văn phòng Tỉnh ủy đem đến hộp thư cho chị, chị mang ra thị xã trao tận tay thầy giáo Hiển. Đây cũng chính là lúc anh để ý chị. “Hồi trẻ, nhiều cô theo đuổi anh Bảy lắm. Nhưng anh một mực chờ tôi trả lời việc hỏi hôn của anh”. “Chúng tôi xây dựng gia đình và cùng tham gia kháng chiến, sống thuận hòa nhau có đến 4 mặt con, biết bao nhiêu kỷ niệm chung, riêng, việc nhà việc nước của mình và anh chị em, bè bạn”.

“Bé Châu, nay hơn 80 tuổi, vẫn thường đến thăm tôi”. Chú Sáu Quắn (chồng Tám Bé) lúc phụ trách “gánh giao liên công khai”, thường giúp đỡ anh Bảy lúc ươn yếu. Chú Sáu Quắn cạo gió, cắt giác tài tình lắm. Lâu quá tôi không gặp vợ chồng chú, trước có lúc công tác chung…

Hơn ba mươi năm sau ngày chiến thắng 30/4/1975, ta làm cho đối phương là Mỹ và 13 nước chư hầu đồng minh của Mỹ hùng mạnh phải thua cuộc. Những điều anh Bảy Thạng – Bỉnh thuyết trình từ năm 1955 ở Trần Hợi – huyện Thời “cho dù Mỹ hay bất cứ kẻ thù nào, từ đâu đến… giặc vào đây chết ở đây!” đã được minh chứng ngày lịch sử vĩ đại, kết thúc 30 năm chiến tranh vệ quốc của chúng ta. Anh Bỉnh là hình tượng tiêu biểu của đoàn quân chiến thắng vùng Tây Nam Bộ.

Tất cả như còn đông đủ dưới cờ…/.

của NGUYỄN BÁ

(Văn bản 5)

Thượng tướng Lâm Văn Thê: Người anh hùng giữa lòng dân

19:14:00 01/08/2010

http://cand.com.vn/Cong-an/Thuong-tuong-Lam-Van-The-Nguoi-anh-hung-giua-long-dan-164380/

Trên bước đường công tác của mình, ông Lâm Văn Thê đã trải qua nhiều chức vụ quan trọng như: nguyên Thường vụ Khu ủy, Trưởng ban An ninh Khu IX, Phó trưởng Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam kiêm Trưởng tiểu ban Bảo vệ chính trị, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Ghi nhận những cống hiến của ông, Chủ tịch nước vừa quyết định truy tặng ông danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Dù ông đã đi xa 20 năm (ông Lâm Văn Thê sinh năm 1922 tại xã An Trạch, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu – nay thuộc thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau – ông mất năm 1990) nhưng đối với người dân đồng bằng sông Cửu Long, cũng như những đồng đội cùng ông một thời trên trận tuyến An ninh Nam Bộ… rất nhiều người vẫn luôn nhắc về ông với bí danh “Ba Hương” với tấm lòng trân trọng.

Là người sáng lập và phụ trách “Thanh niên tiền phong xã” An Trạch năm 1944, ông trưởng thành từ cơ sở và sớm phát triển mạng lưới An ninh bí mật và các cơ sở cách mạng… Do sự tinh thông và lòng dũng cảm nên chỉ ít năm sau (1952), ông đã trở thành Trưởng ty Công an Bạc Liêu.

Xây dựng thế trận lòng dân giữa miền sông nước

Nhắc đến Thượng tướng Lâm Văn Thê, nhiều người vẫn còn nhớ rất rõ những tháng năm dài ông gắn bó với bưng biền sông nước miền Tây. Vì ngay từ thời trai trẻ ông đã có ý thức giác ngộ cách mạng rất sớm nên ngay sau khi xây dựng thành công tổ chức “Thanh niên tiền phong xã” chỉ không đầy 2 năm sau ông đã trực tiếp tuyển lựa, huấn luyện hàng chục thanh niên ưu tú trở thành những cán bộ có năng lực, làm nòng cốt cho phong trào cách mạng trong vùng.

Năm 1946, ông vinh dự được kết nạp Đảng. Nhận rõ trách nhiệm và vị trí công tác, ông đã cùng đồng đội lăn lộn với phong trào cơ sở xây dựng lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền khi còn trong bí mật cũng như lúc hoạt động công khai. Hầu hết những quyết sách mà ông đưa ra đều đã được thẩm định qua thực tiễn đấu tranh cách mạng tại cơ sở. Chính vì vậy đã thúc đẩy phong trào cách mạng và có sức lan tỏa rất nhanh.

Vận dụng xây dựng căn cứ địa cách mạng, ông Ba Hương đã tìm hiểu rất kỹ về phong tục tập quán, địa lý, tôn giáo của từng vùng, đặc biệt là miền sông nước miền Tây phải biết dựa vào dân, biết thuyết phục để nhân dân trở thành tai mắt của lực lượng an ninh, chỗ dựa vững chắc của cách mạng. Và cũng từ những khái niệm thực tế ấy, ông đã xây được những “căn cứ lòng dân” ở miền Tây Nam Bộ, trở thành những nội dung cơ bản, xuyên suốt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là nhân tố quyết định của cách mạng miền Tây góp phần đánh bại âm mưu chiến lược của Mỹ, ngụy.

Trong công tác xây dựng thế trận an ninh, ông Ba Hương đã hiểu rõ và tận dụng sức mạnh vô biên của quần chúng nhân dân, nắm rõ điểm yếu của địch nên đã chỉ đạo các “Ban địch tình” đi sâu vào hàng ngũ địch… làm cho chính kẻ địch tự gây mâu thuẫn và đi đến nghi ngờ thanh loại lẫn nhau.

Với cương vị Trưởng ban An ninh Khu IX (từ năm 1960 – 1967) và trọng trách được giao, ông Ba Hương đã chỉ đạo An ninh toàn khu xây dựng “căn cứ lòng dân” xây dựng “làng rừng – làng chiến đấu” trên cánh rừng U Minh, trong đó nổi bật là xây dựng lực lượng An ninh vũ trang vào năm 1963. Trong suốt thời gian này, lực lượng An ninh Khu IX ngày càng được tăng cường. Lực lượng An ninh vũ trang dưới sự lãnh đạo tài tình của ông đã có nhiều trận đánh đột kích, bất ngờ trên suốt cánh rừng U Minh cũng như vào từng cơ quan đầu não sào huyệt của địch.

Từ trong khói lửa đạn bom ấy, lực lượng An ninh ngày càng vững mạnh trưởng thành. Từ nông thôn đến thành thị, hầu hết các cơ sở bí mật đều đã phát huy được sức sáng tạo, đánh địch tài tình… Kết quả ấy đã để lại trong ông cũng như lực lượng An ninh nhiều kinh nghiệm quý, vận dụng vào công tác an ninh trên các vùng, miền sông nước miền Tây.

Đập tan kế hoạch “Phụng Hoàng”

Từ những kinh nghiệm trải qua tại Ban An ninh Khu IX; ngay sau khi ông được điều về giữ trọng trách Phó ban An ninh Trung ương Cục miền Nam (ANTWC), ông đã nêu ngay ý tưởng phải thành lập lực lượng trinh sát vũ trang của an ninh miền Nam để có đủ sức tiêu diệt những mục tiêu quan trọng. Đề xuất của ông đã được Ban ANTWC đánh giá rất cao.

Vào tháng 5/1969, Ban ANTWC đã quyết định thành lập “Tiểu ban An ninh vũ trang” hoạt động trên toàn chiến trường miền Nam. Việc đầu tiên là ông đã về ngay Khu IX trực tiếp chọn lựa 100 chiến sỹ An ninh vũ trang xuất sắc nhất của Khu IX về Trung ương Cục. Đây cũng chính là lực lượng nòng cốt sau đó tỏa đi khắp chiến trường, cùng với lực lượng an ninh cơ sở tiêu diệt bọn ác ôn khét tiếng, bọn đầu sỏ tay sai bán nước… khơi dậy tinh thần để quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh phá ách kìm kẹp của địch. Những chiến công vang dội ấy đã tô thắm thêm trang sử vàng truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam.

Trước những đòn tấn công hết sức bất ngờ, táo bạo của lực lượng An ninh cũng như khí thế đấu tranh của nhân dân các tỉnh miền Nam, miền Đông Nam Bộ… đế quốc Mỹ và bọn tay sai càng lồng lên đàn áp phong trào cách mạng. Đặc biệt là cuối năm 1969, Mỹ – ngụ bố sắc lệnh thành lập “Ủ Phụng Hoàng”. Một kế hoạch tình báo tổng hợp lớn nhất, thâm độc nhất trong lịch sử chiến tranh bí mật của Mỹ, nhằm tình báo hóa các cơ quan quân sự và dân sự của ngụy ở miền Nam. Kế hoạch “Phụng Hoàng” bước đầu đã gây cho chúng ta không ít khó khăn.

Qua nghiên cứu, phân tích âm mưu thâm độc của kế hoạch “Phụng Hoàng”, ông Ba Hương đã chỉ đạo lực lượng Bảo vệ chính trị toàn chiến trường miền Nam khẩn trương điều tra nắm tình hình địch, để từ đó có đối sách phù hợp. Ông đã trực tiếp chỉ đạo “Tiểu ban Bảo vệ chính trị” soạn thảo “kế hoạch chống kế hoạch Phụng Hoàng”.

Bằng sự nhìn nhận tinh thông, hiểu rõ tim đen của địch, ngay sau khi kế hoạch được triển khai, hầu hết lực lượng bảo vệ chính trị toàn chiến trường miền Nam đã chủ động nắm chắc, đánh trúng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của địch. Chính bọn tình báo Mỹ sau đó đã phải thừa nhận rằng “kế hoạch Phụng Hoàng” của chúng đã bị sụp đổ.

Chiến công của các lực lượng CAND nói chung và lực lượng An ninh nhân dân nói riêng đã góp phần đắc lực trong cuộc tổng tiến công của quân và dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trong chiến công chung của lực lượng CAND, mãi mãi khắc ghi dấu ấn về tài lược chỉ huy cũng như sự tinh thông nghiệp vụ… đặc biệt là tấm lòng giản dị, sống nghĩa tình với đồng chí, đồng bào của ông Lâm Văn Thê – một vị tướng đức độ, tài ba của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam sẽ còn sáng mãi.

Đại tá Lâm Dũng Nam (SN 1958) – Phó Cục trưởng Cục Tham mưu – Tổng cục Quản lý hành chính về TTATXH (con trai thứ 2 của Thượng tướng Lâm Văn Thê): Chúng tôi mong sao mãi mãi mình là người con tử tế của ông bà

Ba  má tôi sinh được 3 anh em. Anh Hai của tôi đã mất. Còn lại 2 anh em, tôi và em Lâm Dũng Tiến (SN 1964). Còn nhỏ anh em tôi đã được ba má dẫn lên chiến khu (Ban ANTW Cục miền Nam). 13 tuổi tôi đã thuộc “biên chế” Tiểu ban Bảo vệ chính trị. Vì ba má đều bận công tác (mẹ của Đại tá Lâm Dũng Nam là bà Trần Thị Phương) nên anh em tôi sống chủ yếu nhờ sự lo toan chăm sóc của các cô chú ở chiến khu, lúc ở trên rừng cũng như sau này đất nước giải phóng.

Với anh em chúng tôi, ba má mãi mãi là hình tượng cao đẹp để mình kính trọng, noi theo, chứ chưa khi nào anh em tôi ỷ lại, hoặc dựa dẫm để tiến thân. Khi còn là Phó trưởng Công an quận 2 cũng như khi về cơ quan Bộ, tôi nghe rất nhiều người nói về ba tôi, nhất là lực lượng An ninh, nhiều cô, chú và anh chị một thời cùng ba tôi ở Ban ANTW Cục…

Thú thật là chúng tôi rất ít khi lấy danh của ba mình ra “khoe” với mọi người. Những kỷ niệm ở trên rừng, khi gặp ba má trong chiến khu, tấm gương đạo đức và sự hy sinh của ông bà đã làm cho chúng tôi thêm tự hào. Có một điều từ ngày còn ở “mái nhà căn cứ…” đến khi về thành phố, anh em chúng tôi thầm bảo nhau hãy sống xứng đáng với những gì ba má đã cống hiến. Dù có khó khăn đến đâu anh em chúng tôi luôn nguyện cầu: Mãi mãi mình là những người con tử tế của ba má. Còn nhiệm vụ mà Đảng và ngành phân công, giao phó thì chắc chắn phải phấn đấu hoàn thành rồi.

(Văn bản 6)

Tiểu sử đồng chí Vũ Đình Liệu – Cựu Bí thư Huyện ủy Châu Thành – Cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

 http://www.travinh.gov.vn/wps/portal/chauthanh/!ut/p/c0/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3gDIws_QzcPIwP_AHMLA6MwHzc3H3dnA08PM_2CbEdFAOpckpM!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/Huyen%20Chau%20Thanh/chauthanh/tin+tuc+su+kien/cac+tin+khac/tieu+su+vu+dinh+lieu

Đồng chí Vũ Đình Liệu, bí danh Tú Đình, tức đồng chí Tư Bình sinh trưởng trong một gia đình có tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng tại xã Khánh Tôn, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, đồng chí đã sớm giác ngộ và đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc.

 – Từ tháng 7/1945, đồng chí đã tham gia hoạt động bí mật và Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, đồng chí đã trực tiếp tham gia cướp chính quyền ở xã Đa Lộc và thị xã Trà Vinh. Tháng 12/1945 làm nhân viên Quốc gia Tự vệ cuộc tỉnh Trà Vinh, tháng 10/1946 đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

– Từ tháng 3/1946 đến tháng 10/1947, đồng chí được cử giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm, rồi Chủ nhiệm Việt Minh huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Tháng 10/1947 đến tháng 9/1948 là Huyện ủy viên huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Tháng 9/1948 đến tháng 10/1949 làm cán bộ Ban Tuyên huấn tỉnh Trà Vinh. Từ 1950 đến 1951 là Tỉnh ủy viên và ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh phụ trách Quân sự, sau đó phụ trách Tuyên huấn. Từ 1951 đến 1952 làm Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Từ 1952 đến 1954 là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Trà (nay là tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh). Từ 1954 đến 1957 là Phó Bí thư Tỉnh ủy bí mật tỉnh Trà Vinh.

Từ năm 1957 đến 1960, Phó Bí thư Tỉnh ủy, rồi Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau (nay là tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu).

Từ năm 1961 đến 1975 đồng chí được chỉ định làm nhiệm vụ Liên tỉnh Ủy viên, rồi Khu ủy viên, Ủy viên Thường vụ Khu ủy và Bí thư Khu ủy Khu 9, kiêm Chính ủy Quân khu.

– Năm 1976 là Phó Ban Tuyên huấn Trung ương; ủy viên Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủ Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 12/1976 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp làm nhiệm vụ Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủ Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

– Tháng 3/1979 đến tháng 3/1982 làm Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang (nay là Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang).

– Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982) đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và được cử giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ).

– Đồng chí đã được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu từ tháng 5/1991, nhưng với tình cảm và trách nhiệm sâu nặng đối với đồng chí, đồng bào nơi đã che chở, đùm bọc, cưu mang trong những năm tháng kháng chiến, nên đã bắt tay ngay vào việc biên soạn lịch sử chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và Quân dân Tây Nam Bộ, đồng thời vẫn tiếp tục hoạt động với nhiệm vụ mới là Chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam.

– Trong suốt 60 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của mình, đồng chí Vũ Đình Liệu – đồng chí Tư Bình – đã gắn bó máu thịt, chí nghĩa, chí tình và luôn gần gũi, thân thiết với đồng chí, đồng bào các dân tộc vùng sông nước của đồng bằng Sông Cửu Long. Và trên bất cứ lĩnh vực nào, với bất cứ trọng trách gì được Đảng, Nhà nước giao phó đồng chí cũng phấn đấu hoàn thành xuất sắc, một lòng, một dạ phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước; nêu cao ý chí kiên cường của người đảng viên Cộng sản trong cuộc đấu tranh đầy hy sinh gian khổ, anh dũng và vẻ vang của Đảng ta, dân tộc ta.

– Do những công lao và thành tích to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, đồng chí Vũ Đình Liệu được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý .

– Đồng chí Vũ Đình Liệu là một đảng viên trung kiên, một cán bộ mẫu mực của Đảng, hoạt động không mệt mỏi, đóng góp nhiều công sức xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
(Ban Tuyên giáo Huyện ủy Châu Thành)

(Văn bản 7)

Đồng chí PHAN NGỌC SẾN

(1919 – 1993)

15/12/2010

http://www.haugiang.gov.vn/Portal/OtherNewsView.aspx?pageid=1314&ItemID=2402&mid=2316&pageindex=3&siteid=35

Đồng chí Phan Ngọc Sến (Mười Kỷ), sinh ngày 12 – 12 – 1919 tại làng Thới Bình, huyện Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu.

Năm 1940, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng trong tổ chức ái hữu, xã Thới Bình.

Năm 1946, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách chỉ huy trưởng dân quân, phân đoàn trưởng thanh niên xã Thới Bình.

Năm 1948 – 1950: đồng chí  làm Huyện đội phó, huyện Ngọc Hiển.

Năm 1951 – 1954: đồng chí là Thường vụ Huyện ủy, Huyện đội trưởng huyện Thời. Năm 1955 – 1958: đồng chí là Tỉnh ủy viên phụ trách công tác quân sự tỉnh Bạc Liêu.

Năm 1962 – 1963: đồng chí được chỉ định làm Khu ủy viên, phụ trách Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau.

Từ tháng 12 – 1963 đến 1965: đồng chí làm chỉ huy phó Khu 9 phụ trách phong trào dân quân; Chính ủy Hậu cần, Thường vụ Khu ủy Khu 9; Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ.

Năm 1967, chuẩn bị cho tổng tấn công Mậu Thân 1968, trọng điểm 1 của khu, đồng chí là Thường vụ Khu ủy Khu 9, xuống phụ trách Bí thư Huyện ủy Châu Thành – Cần Thơ.

Năm 1968 – 1971: đồng chí là Thường vụ Khu ủy Khu 9, Trưởng Ban an ninh Khu 9.

Năm 1975: đồng chí là Trưởng Ban khởi nghĩa chiến trường trong điểm tỉnh Vĩnh Long – Trà Vinh.

Sau 30 – 4 – 1975: đồng chí làm Chủ tịch quân quản tỉnh Vĩnh Long; Trưởng an ninh Khu 9; Phó Chủ tịch quân quản tỉnh Cần Thơ.

Năm 1967: Đại hội lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải.

Năm 1977: đồng chí làm Ủy viên Ban xây dựng huyện của Trung ương. Đến năm 1986 đồng chí  nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

Đồng chí  đã từ trần ngày 26 – 10 – 1993 tại thành phố Hồ Chí Minh và yên nghỉ tại nghĩa trang tỉnh Minh Hải.

1 2 3 4 5 6 7 8

Đã xem 64 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
2 Comments
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments