Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 15) Những “hội ngộ” bất thường

1-(2)Sau tết Dương lịch năm 1977, có hai người cùng quê, bạn học với “Hùng móm”, em út tôi, đến thăm. Họ cũng ở chung Khu 4, nhưng khác đội.

Người thứ nhứt là Nguyễn Ngọc Túc, cựu đại úy, làm việc trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, nhà cách nhà tôi ở thị xã Quảng Trị chưa quá 100 mét, cũng trên đường Cửa Hậu (tên mới là Lê Văn Duyệt). Sau đó, anh tới thăm tôi một lần nữa, lại kéo theo Võ Bang, nhà cách nhà tôi chỉ có hai căn nhà vườn (khu vực nhà tôi phần đông nhà có vườn).

Túc đem theo mấy tờ Báo Ảnh Liên Xô. Tờ thứ nhứt, bìa in hình Mao Trạch Đông, đưa cả hai tay, nắm tay Nixon, Tổng Thống Mỹ. Trần Hưng cùng coi tấm hình với tôi. Anh ấy đùa: “Phải chú thích dưới tấm hình nầy câu “Thưa đại ca, cảm phiền giùm, nhà em bữa nay chỉ có cơm rau muống mà thôi.”

Hồi đó, mỗi ngày chúng tôi cũng chỉ có cơm rau muống. Có khi không có cơm, chúng tôi được phát bột mì hay bo bo Ấn Độ, rất khó nuốt.

Tờ thứ hai, có một bài bình luận của Cronin, nhà bỉnh bút của tờ báo nầy. Bài bình luận đưa ra chủ trương “Trung Lập Hóa Đông Dương”. Đó là lập trường của Liên Xô đối với Đông Dương hồi đó, đã được Brezhnev, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên Xô xác nhận trong bài diễn văn đọc tại đại hội lần thứ 25 đảng Cộng Sản Liên Xô.

Trần Hưng cũng đọc bài ấy, sau khi tôi xem báo xong trao cho anh.

Túc hỏi: “Liệu có trung lập hóa Đông Dương được không?”

Tôi chưa trả lời thì Trần Hưng nói ngay:

– “Không “anh” nào giữ được thì phải trung lập. Mỹ không giữ được, bỏ chạy. Liên Xô thì đang gồng mình mà nắm lấy, lâu ngày, tốn kém quá, cũng phải buông. Tầu thì ở ngay bên cạnh, không nghiêng vào nó tí chút, không thể yên được.”

Túc nói:

– “Anh có thấy hôm đại hội 4 của tụi nó không? Ghế đại biểu Trung Quốc không được đặt ở hàng đầu, lại bị bỏ trống. Tại sao vậy?”

– “Cơm không lành, canh không ngọt”. Tầu mà đã quậy thì mệt với nó lắm, phải khôn khéo mới được.” Tôi nói.

-“Khôn khéo là như thế nào?” Túc hỏi.

-“Khi tôi dạy “Mười năm bình định giặc Minh” cho học trò”, tôi nói: “Sử viết rằng, sau khi Vương Thông xin hàng, Lê Lợi tha cho về. Tuy nhiên, sau đó, Bình Định Vương cũng phải cho người sang Tầu “cầu phong”, có nghĩa là tuy thắng nó, nhưng cũng phải giàn hòa. Ba năm một lần sứ nước mình sang Tầu, phải mang theo hai người bằng vàng, gọi là “đại thân kim nhân” để thế mạng Liễu Thăng và Lương Minh, hai tên nầy bị chém chết ở Chi Lăng.”

-“Nước nó lớn quá phải không?” Bang hỏi.

-“Thường thì quanh những nước lớn, phải có những “vùng đệm”, là những nước nhỏ, làm cục kê giữa hai nước lớn hay hai thế lực hùng mạnh. Trong Hội Nghị Yalta tháng 2 năm 1945, Tổng thống Mỹ Roosevelt giao các nước Đông Âu cho Liên Xô. Liên Xô thì giao Châu Á cho Mỹ. Liên Xô với Mỹ giao ước với nhau mà không cho Sir Wilston hay. Ông nầy giận lắm, thề có đến New York, sẽ không bao giờ nhìn vào tượng “Nữ Thần Tự Do”. Bây giờ Tầu mạnh lên, cũng phải có vùng đệm cho nó, không thì Mỹ-Nga-Tầu đụng đầu trực tiếp thì thế giới không yên.” Tôi giải thích.

Trần Hưng tiếp tục đưa ý kiến:

– “Trung lập là trung lập với quốc tế, giữa Nga, Mỹ và Tầu, chớ Việt Nam vẫn là chế độ Cộng Sản, mình có sống được hay không?”

Trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 bên, Túc là “đệ tử” chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, khi ông nầy làm Trưởng Phái Đoàn Việt Nam Cộng Hòa, tham dự các buổi họp ở Camp Davis trong phi trường Tân Sơn Nhứt.

Theo lời Túc kể, anh ta thường được chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp cho tiền để rủ mấy anh chàng sĩ quan Hungary, trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự đi chơi, để moi tin tức bên phía đó. Anh ta cũng móc nối được vài sĩ quan Ba Lan không ưa Cộng Sản.

Còn Võ Bang là đại úy Pháo binh, giữ mấy cây súng 105-ly án ngữ ở ngã ba Dầu Giây, chận đường Dziệt Cộng từ hướng Đà Lạt đánh xuống. Khi tướng Lê Minh Đảo được lệnh rút bỏ Xuân Lộc, phía sau lưng Võ Bang bị trống. Dziệt Cộng đánh riết tới, Bang bỏ súng mà chạy.

Nghe Bang kể chuyện ấy, tôi vừa kể chuyện cũ, vừa nói đùa: “Trận Hạ Lào, ông Thiết Đoàn trưởng Bùi Thế Dung; Thiếu tá Nô, Thiết Đoàn phó, Thiết Đoàn 11 lấy lý do về lấy thêm lính bổ sung, bỏ đơn vị bên đó mà về. Thiết Đoàn 11 như rắn mất đầu, không ai chỉ huy. Chi Đoàn 3/11 của Đại úy Hải, binh sĩ bỏ xe thiết giáp lội bộ mà về theo. Ông Thiếu Tá Hoàng Văn Giao, ở bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, nói đùa là “Lính kỵ đánh bộ.” Bây giờ ông bỏ mấy cây đại bác mà chạy thì gọi là gì?”

Bang thật thà nói: “Em mang theo chỉ có một cây súng Colt mà thôi.”

Túc đùa:

– “Vậy tau gọi mày là “pháo binh bắn súng Colt”, có được không?”

Câu nói đùa của Túc không làm cho chúng tôi cười được chút nào!

Tết Đinh tỵ năm 1977 là tết thứ 2 trong tù.

Khu 4 có tổ chức văn nghệ.

Tết năm nay không “vui” như tết năm rồi, mọi người thấy chán nản vì không biết ngày nào về nên hầu như “mặc kệ”, ai làm gì thì làm. Cha Cao (linh mục), tập họp một số đông tù cải tạo, thành lập một ban hợp xướng, tập hát một hai bài hát “cách mạng” gì đó.

Ông linh mục nầy du học về âm nhạc, ở bên Ý mới về, nên soạn bè hay lắm. Hôm trình diễn, một số đông người đi nghe.

Tôi biết thêm ông Hồ Đăng Tín khi ông còn học trường Khải Định, tên cũ trường Quốc Học. Khi đang học tại đó, ông có bản nhạc in ở bìa sau “Tập Văn Học Sinh Khải Định”. Bây giờ gặp ông ở trại nầy; ông can tội “trưởng Ban Quân Nhạc Bộ Tổng Tham mưu” (hay Tổng Thống? – tôi không nhớ) Ông cũng thành lập một ban hợp ca, tham gia văn nghệ tết năm nay. Ban hợp ca của ông không được hoan hô bằng ban hợp xướng của cha Cao.

Mấy ông cha tuyên úy vô tù, phần đông có tư cách. Tôi đi đào giếng chung với cha Hoạt. Tác phong của ông, làm cho tôi rất có cảm tình. Cha Thiên, – Hoàng Văn Thiên -, buồn cười hơn. Khi trại cấp than đá để nấu, thay vì củi cây cao-su như trước, cha Thiên trở thành “chuyên viên” úm lửa cho các lò nấu. Than đá, mỗi khi mồi cho cháy, khó khăn lắm, nên mỗi tối, phải úm lại, để sáng hôm sau lên lửa dễ dàng và nhanh.

Bấy giờ cha Thiên ở chung một đội với tôi, một vài lần ăn chung với thầy Ca, Nguyễn Đức Ca, cũng là một tuyên úy Phật giáo.

Ông Ca, khoảng hơn chục năm trước là học trò của tôi ở lớp đệ tam, tôi dạy Việt Văn. Tôi nhớ ông vì cả lớp chỉ có hai chú (đi tu Phật, còn nhỏ tuổi). Đó là chú Ca và chú Bình. Các chú tu ở Chùa Từ Đàm hay Báo Quốc, sau khi xong lớp Đệ Tứ, nếu có bằng Trung học, được vô lớp Đệ Tam trường Quốc Học.  Có thể đó là trường hợp ông Tuệ Sĩ. Chú nào không đậu Trung Học hay không muốn học Quốc Học, thì xin vào lớp Đệ Tam Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế, là trường tôi dạy hồi đó. Ông Nguyễn Văn Hai vừa làm Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục vừa làm Hiệu Trưởng trường Bán Công nầy. Ông là người được “Cậu Cẩn” tin cẩn, lại là “đệ tử” thầy Trí Quang. Vài giáo sư, như Hồng Quang Anh, dạy Toán, Tôn Thất Đát, dạy Anh Văn, lên dạy giúp ở Trường Hàm Long của Chùa Báo Quốc, nhưng Trường Bán Công trả lương. Còn các chú, các thầy còn trẻ, học trường Bán Công đều được miễn học phí, chẳng phải lo “Tiên học phí, hậu học văn” gì cả, như bọn học trò thường nói đùa.

Chú Ca học tới đâu tôi không biết. Khi vào trại tù cải tạo, anh em bạn tù nói rằng ông “Can tội đại úy tuyên úy”. Chú Bình sau nầy đậu cử nhân văn chương ở Viện Đại Học Huế, có thời làm Hiệu Trưởng trường Bồ Đề Huế, hiện giờ là ông sư Thích Thiện Hạnh.

Gặp tôi, ông thầy Ca không chào, không nhận ra thầy cũ hay ông cố ý lơ tôi? Có thể ông quên chăng! Thấy thầy Ca không nhìn tôi, tôi cũng giả bộ… quên luôn!

Hôm Trắc đi đâu về, thấy cha Thiên và thầy Ca ăn chung mâm, (thầy Ca đã bỏ ăn chay), vui tính, Trắc la to lên: “Hòa bình rồi anh em ơi! Mèo chuột ăn chung với nhau kìa!”

Cha Thiên chỉ cười. Thầy Ca thì cự nự Trắc rất nặng lời.

Trắc than: “Tui nói chơi một chút. Chi mà thầy làm dữ dzậy? Tui nói thiệt, người đi tu mà sân si như thầy, chết xuống âm phủ, bao giờ tui cũng được ở trên thầy một tầng.  Thầy ở tầng thứ chín, tui ở tầng tám.”

Nghe Trắc nói đùa như thế, Trần Hưng nói: “Ông nầy hay đùa mà thông minh lắm.”

Tôi nói:

– “Kinh nghiệm dạy học cũng cho tôi thấy như thế. Những đứa hoang nghịch thường thông minh hơn mấy anh học trò ngoan ngoãn mà vô ơn lắm.”

Nói vô ơn cũng chỉ là một cách nói mà thôi. Tôi đi dạy, làm nghề thầy giáo, cũng chỉ là kiếm một “cái cần câu cơm” mà nuôi thân, nuôi em, nuôi vợ con, chớ có nghĩ tới ơn nghĩa gì đâu! Nghề nào cũng là nghề, ơn nghĩa hay bạc bẽo cũng chỉ là nghề kiếm ăn mà thôi!

Linh mục Phan Khắc Từ thường lên thăm cha Thiên. Đó là những lần thăm “đặc biệt”. Qua đó, tôi được cha Thiên cho mượn những tờ báo “Công Giáo và Dân Tộc” do cha Từ đem biếu cha Thiên đọc chơi.

Có lần tôi hỏi cha Thiên: “Công Giáo và Dân Tộc”, cái nào lớn hơn cái nào?

Cha Thiên trả lời tôi:

– “Ngang nhau! Người dân phải là của dân tộc và của tôn giáo!”

Tôi lại nói:

– “Cha trả lời hay. Nhưng tôi nghĩ không phải đó là quan điểm của “cách mạng”. Quan điểm họ khác nhiều lắm. Nói “Công Giáo và Dân Tộc”, chỉ là một cách nói mỵ dân khi họ chưa tiêu diệt được tôn giáo mà thôi. Trong thâm tâm họ, tôn giáo đã không có, mà dân tộc cũng không luôn. Không phải Dân Tộc mà Nhân Dân. Nhân Dân toàn thế giới là một, đã là chủ nghĩa Đại Đồng, Dân tộc gì nữa!”

Cha Thiên khẳng định:

– “Làm sao tiêu diệt tôn giáo được?!”

– “Được hay không là do chủ quan của họ, cũng như chủ quan của cha.” Tôi nói. “Nhưng sự đụng độ giữa Công Giáo, tôi nói là Công Giáo, – không hẳn là toàn thể các tôn giáo -, với Cộng Sản sẽ rất quyết liệt, sinh tử, một mất một còn trước khi Cộng Sản tiêu diệt các tôn giáo khác.”

– “Anh cho là vì Công Giáo có quan hệ với đế quốc, tư bản chớ gì?” Cha Thiên nói.

– “Không phải dzậy. Tôi muốn nói tới mục đích cuối cùng của Công Giáo và Cộng Sản. Mục đích của Cộng Sản là “Thế giới Đại Đồng”, còn Công Giáo thì không phải Thế Giới nầy là của Chúa, hay nói đúng hơn là của Giáo Hội La Mã, tức là “Đế Quốc Vatican” hay sao? Hai “Đế Quốc” có thể cùng tồn tại song song được không hay một mất một còn?”

Cha Thiên sẳng giọng: “Anh nói bậy! Giáo Hội nào muốn giành hết thế giới nầy. Nhân loại nầy là của Chúa thì phải trả lại cho Chúa chứ!”

Trắc đoán chừng tôi và cha Thiên sẽ tranh cải nhau làm mất lòng nên giả bộ gọi tôi rồi kéo tôi đi. Ra tới sân, Trắc nói:

– “Tui biết anh không ưa những người cuồng tín. Các ông cha, ông nào lại chẳng cuồng tín, nên tôi kéo anh đi cho rồi.”

Lúc đó, sẵn Hiền cũng ghé lại chơi.

Hiền nói:

-“Người ta đồn cha Từ là Việt Cộng phải không?”

-“Đã là cha thì Việt Cọng thế nào được! Chẳng qua là ở cái thế vậy mà. Một là mấy ông cha du học ở bên Tây, thường có khuynh hướng xã hội, không ưa Giáo Hội La Mã. Thứ hai, họ cũng như “Lê Lai cứu chúa” vậy, không ưa nhưng cũng phải làm sứ mạng Giáo Hội giao cho. Trong hoàn cảnh sống dưới chế độ Cộng Sản, ông cha nào cũng “thẳng đứng”, dễ gãy lắm. Phải có người mềm mỏng. Mấy ông cha cũng có nhiều khuynh hướng khác nhau, chưa hẳn họ “thống nhất” một ý chí đâu!”

-“Rắc rối thiệt!” Hiền nói.

 Tôi giải thích thêm:

– “Giáo Hội La Mã, hay “Đế Quốc Vatican”, theo tôi nghĩ là hiện thân của “Đế Quốc La Mã” ngày xưa. “Đế Quốc Vatican” ngày nay, theo đuổi một mục đích giống như Đế Quốc La Mã xưa vậy. Vatican thì nhỏ tí chút nhưng Giáo Hoàng làm vua khắp thế giới. Lãnh thổ “Giáo Hội La Mã” cũng khắp nơi, đâu cũng là “đất Chúa”, “nước Chúa”, “dân Chúa”, “quân Chúa”… khác gì Đế Quốc La Mã đâu! Dziệt Cộng nó không gọi là Giáo Hoàng mà gọi là Giáo Chủ là có chủ ý đấy!  Tham vọng đó của Giáo Hội không hẳn là của Chúa Giê-su đâu, mà do mấy ông ngồi ở Vatican muốn dựng nên một “Đế Quốc La Mã mới”, bao giờ cũng mâu thuẫn với những người lãnh đạo đất nước, dân tộc, ngay cả với một người có đạo Thiên Chúa như cụ Diệm đi nữa.”

Trắc nói: “Đó! Nổi nóng, nói bậy đi.”

– “Tui không nói bậy! Quả đất tròn, Giáo Hội bảo vuông, rồi bài bác Newton, (1) bỏ tù Galilé (2), cắt lưỡi Erathosthène thì giải thích làm sao? Không phản động, không lạc hậu, không bảo thủ thì làm sao có cuộc “Cách Mạng Tôn Giáo” của ông Calvin, ông Luther, (3) làm sao có Anh Quốc Giáo, Thanh Giáo, Protestant. Napoléon bảo Giáo Hoàng có muốn thì cứ qua Paris mà đội mão, ban phép thánh cho ông ta. Ông không chịu phải qua Vatican như các ông vua châu Âu khác khi lên ngôi. Vì Vatican lợi dụng danh Chúa nên Nietzche (4) phải tuyên bố rằng “Chúa đã chết”. Chúa chết rồi, đừng lợi dụng Chúa làm chi nữa. Đừng đem thần quyền vào thế quyền.” Đang bực mình vì cha Thiên, tôi nói một hơi.

– “Sao anh cay cú vậy?” Hiền nói.

– “Tui cay cú? Thiệt không? Có lẽ cũng như những người Huế khác, tui là nạn nhân của ông Ngô Đình Thục.”

-“Anh đả kích những người cuồng tín, trong khi anh lại cuồng tín trong việc đả kích. Anh không thấy anh là người cuồng tín, cuồng tín theo cái anh nghĩ. Lại mâu thuẫn rồi đó.”

Tôi làm thinh, vì nghĩ Hiền nói có lý!

– “Thôi, bình tĩnh đi. Tui hỏi anh, rõ ràng là có sự đụng độ giữa Giáo Hội La Mã với Cộng Sản, nhưng cái đó có ảnh hưởng gì tới dân tộc mình?” Trắc hỏi.

– “Bọn mình, người dân, có hai bà mẹ. Một là “Bà Mẹ Tôn Giáo” và một bà nữa là “Bà Mẹ Dân Tộc”, như Giáo Sư Lý Chánh Trung giải thích vậy. Hai cái yếu tính đó làm nên con người Việt Nam. Phía Công Giáo thì muốn giành lấy đứa con mà loại bà “Mẹ Dân Tộc” ra, vì với họ, Chúa là trên hết chứ không phải Dân Tộc trên hết. Còn Cộng Sản, chủ nghĩa Mác là trên hết, “Thế Giới Đại Đồng” là mục đích cuối cùng. Bị kẹp trong hai cái gọng kềm đó, dân tộc sẽ tiêu ma, người Việt sẽ tiêu ma. Mấy ông thấy không? Tui có lý do để chống Cộng Sản và chống Giáo Hội La Mã. Tui chống Giáo Hội La Mã chớ không chống Chúa Dê-su. Đó là hai mặt khác nhau. Tui cũng như ông Calvin, ông Luther hay tui theo chưn ông Nietzche thì cũng vậy. Tui cũng chống mấy ông thầy chùa, nhưng tui tin Phật. Tui chỉ “qui y Phật, qui y Pháp” mà thôi, “quy y tang” thì còn lâu. Tăng như ông thầy Ca đội mình thì không những đuổi đi chỗ khác chơi mà còn phải đuổi ra khỏi nơi tu Phật!”

&

Khi có đợt đưa “tù cải tạo” đi Bắc, các linh mục đều bị đưa đi hết. Riêng cha Thiên thì được ở lại. Sau nầy được tha, ngồi trên tầng ba nhà cô em gái, nhìn xuống nhà thờ Vườn Xoài của cha Từ bên kia con hẽm 429, đường Trương Minh Giảng cũ, tôi thấy cha Thiên đi lui đi tới trong sân. Có phải cha Thiên đang ở nhà thờ nầy? Thường khi gặp bạn tù cũ, tôi rất vui, nhưng tại sao biết cha Thiên ở nhà thờ nầy mà tôi chẳng bao giờ ghé thăm. Tôi không ghét cha Thiên, thật lòng, tôi nói rõ ra như thế, nhưng quả thật tôi không ưa những người cuồng tín dù của bất cứ tôn giáo nào! Nhiều khi tôi tự suy nghĩ về mình. Có phải tôi là người cuồng tín trong việc chống lại những người cuồng tín? Tôi tự mâu thuẫn tôi hay đời nầy lắm chuyện buồn cười???!!!

Nhân dịp tết nầy, trại tổ chức đấu bóng chuyền giữa các khu. Khi đội bóng chuyền Khu 2 sang đấu bóng với đội Khu 4, tôi đi tìm xem có ai quen không thì may mắn gặp Hoàng Xuân Định. Định nói:

– “Moa có đấu bóng chuyền đâu, giả bộ tham gia để sang đây đi tìm bạn bè chơi.”

Gặp Định, tôi mừng lắm. Định học trước tôi một lớp khi trường Nguyễn Hoàng (Quảng Trị) mới “khai thiên lập địa” năm 1951, nghĩa là lúc đó chưa có tên Nguyễn Hoàng mà chỉ là Trrường Trung Học Quảng Trị. Chúng tôi vui chơi với nhau suốt mấy chục năm dài. Hôm đó, Túc, Bang cũng đến chuyện trò với chúng tôi.

Định là em chú bác tướng Lãm. Tướng Lãm và gia đình thì di tản hồi 30 tháng Tư rồi, nhưng các em ông, em ruột cũng như em chú bác, em rể… như anh Thiệu, anh Đạm, Lê văn Tịnh (chồng của Xuân Tuyết), gọi tôi bằng cậu, đều ở lại “đóng tiền đi ở tù” cả. Chuyện nầy không vui gì!!!

Năm 1977, trại Suối Máu có hai đợt chuyển tù.

Lần thứ nhất, một số được chuyển đi Trảng Bom. Phần đông tù binh là những sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy, trong số có đại úy họa sĩ Nguyễn Cang, đại úy họa sĩ Nguyễn Uyên, thuộc cục Tâm Lý Chiến chế độ cũ. Ông nầy có chỗ nằm kế cận tôi. Ông ta hy vọng về sớm vì có người anh đang làm bộ trưởng hay thứ trưởng bộ tư pháp ở Hà Nội, đơn bảo lãnh đã làm xong rồi.

Đợt thứ hai, chuyển ra bắc, phần đông là cấp đại úy. Có thể kể thêm một số tù binh cấp tá, nhưng ở các khu khác, như Khu 1, Khu 2 hoặc Khu 3. Tôi ở Khu 4, chỉ nghe nói mà không rành ai bị đưa đi.

Đi chuyến nầy, đội tôi có Huỳnh Văn Khánh, Trần Hưng, Nguyễn Quốc Trương. Những người quen biết thì có Võ Bang, Nguyễn Ngọc Túc, anh em Trần Hữu Tín, Trần Hữu Xiêm như tôi đã giới thiệu. Ban đầu, nhiều anh em tưởng được đưa đi lao động để được tha về sớm như đợt đi Trảng Táo vừa rồi, nhưng sau khi tập trung xong, thấy bộ đội khám xét rất kỹ, xe cộ đóng mui kín mít thì ai cũng đoán chừng người đi sẽ gặp khó khăn. Không ngờ họ bị đưa đi Tân Cảng để xuống tầu thủy ra bắc, xa xôi mịt mù, biết có ngày về không!!!???

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

3 Comments on hoànglonghải – Vết Nám (Bài 15) Những “hội ngộ” bất thường

  1. Cám ơn Tác giả Vết Nám,chờ mãi mới được đọc tiếp bài 15,và nhân tiện cũng cho phép già tôi cám ơn BBT vantuyen.net đã không quên thông báo vào inbox/mail của tôi.

    Phải thành thật cảm phục tác giả “Vết Nám”,tuy là Hồi Ức thực của tác giả đã trải qua những nỗi nhọc nhằn của thân phận “Cải tạo Viên”,nói theo luận điệu của mấy bố Vẹm,thực chất là “kiếp tù đày công sản” mà anh em chúng mình(xin lỗi xưng hô cho vẻ thân tình,bởi tôi cũng sơ sơ hết 6 năm,nhưng may mắn hơn tác giả,khoỉ phải ra bắc,chỉ tới Pleiku ,nhưng cũng đã biết bao cực nhọc cho bà xã mỗi lần thăm nuôi,còn nhận thấy về trình độ hiểu biết thì chỉ đáng là học trò đến lớp đệ nhị của Thầy Hoàng Long Hải cũng như Thầy Doãn quốc Sĩ ,đang ở Houston,cùng thành phố với già tôi).

    Với bài này,tôi cảm nhận được rằng;”quan niệm về tôn giáo của tác giả rất hợp với ý nghĩ của tôi,riêng với TCG (nhất là Giáo Hội La Mã) và Phật Giáo,nhờ qua đây ,mới có dịp tìm đọc khá nhiều tài liệu và hiểu thêm sâu về hai tôn giáo này.Với Giáo Hội La Mã thì Đức Cố Giáo Hoàng John Paul đệ nhị qua lời xưng thú của Ngài thì ai cũng đã biết,riêng bên Phật giáo,tôi cũng đã cố gắng quy y Phật,quy y Pháp,còn Tăng thì mình không thể ,bởi kể từ Đại Sư Mã Minh ,tức sau Đức Phật qua đời,Phật tử của Ngài đã và đang và còn tiếp tục đắm chìm trong mê chấp !! Cám ơn ông Hoàng Long Hải và BBT vantuyen.net rất nhiều,nhờ vậy mà bộ óc bã đậu của già này thêm phần thông thoáng ,chúc mọi người luôn được an vui và có sức khoẻ tốt.

    Số lượt thích

    • Cam on nhieu
      Tui se co gang viet tiep
      Hy vong Anh em Minh Hieu nhau hon
      Thong cam voi nhau hon
      Dong thanh Tuong khi ma
      Hoanglonghai

      Số lượt thích

      • Kính chào ông Thầy Hoàng Long Hải,già tôi năm nay đã vượt 8 bó,mới được mạn phép tự ví như học trò của thầy Hải qua bàn gõ này,thành thật rất an vui đấy thầy ạ,già rồi mà vẫn còn lạc lõng nơi xứ người,dù vẫn nhớ đau đáu cái xứ Lạng có phố Kỳ Lừa,có chùa Tam Thanh của tôi,mà không thể về nơi chốn cũ ấy,chỉ còn biết hồi tưởng khi ấy còn là thằng cu mục đồng,trên lưng trâu rong ruổi từ những đồi sim trở vền bản Tầy,ôi đơn sơ mà sao nó tiềm ẩn mãi đến giờ không dứt được Thầy ơi !
        Cám ơn Thầy không quên có dôi lời vào địa chỉ mail box của già này nhận vơ ông làm Thầy,đa tạ ,kính chúc Thầy luôn an vui và có sức khoẻ tốt,bye.

        Số lượt thích

2 Trackbacks / Pingbacks

  1. Vết Nám (Bài 15) Những “hội ngộ” bất thường | Sầu Đông
  2. Những “hội ngộ” bất thường – biển xưa

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: