Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 13) Trốn tù

1Mấy đêm nay Quang treo võng nằm ngủ, không ngủ đất như các bạn. Sự thao thức về công việc đang chuẩn bị làm Quang khó ngủ, trăn qua trở lại, có thể gây phiền phức cho bạn, và cũng có thể làm họ đặt dấu hỏi, tại sao Quang không ngủ được êm như mấy hôm trước kia.

Có thể họ nghi ngờ Quang âm mưu trốn trại. Điều đó không có gì lạ. Ai chẳng muốn trốn trại nếu có dịp. Quang không sợ họ sẽ “báo cáo với bộ đội” rằng họ nghi anh muốn trốn trại. Chỉ những ai tư cách tệ lắm, không đáng làm người, mới có những hành động chó má như vậy, làm “ăng-ten” cho địch. Còn phần đông thì đám tù binh nầy biết thương nhau. Nghe tin ai trốn được, người ta mừng.

Đối với Quang, việc trốn trại là dứt khoát. Tháng trước gia đình lên thăm, vợ Quang nói: “Phải đi anh à! Cố gắng mấy cũng không ở được với họ.” Vợ Quang chỉ nói chừng đó, không nói nhiều được vì khi thăm nuôi, có “vệ binh” canh chừng.

Phòng bên nầy là nơi anh gặp vợ, các con và cha mẹ. Phòng bên kia, qua một tấm ván gỗ, có thể có một người nào đó đang rình nghe gia đình anh nói gì. Quang cúi xuống nhìn qua phía dưới tấm vách ván. Dưới đó có một khoảng cách với mặt đất. Quang thấy phía bên kia có đội “dép râu”. Vậy là chắc rồi còn gì. Người rình bên kia đang nằm hay ngồi trên giường lắng nghe gia đình Quang nói gì, đôi dép để dưới đất. Anh ta không mà không ngoan.

Đoán chắc như thế, Quang đưa ngón tay lên miệng ra dấu, và chỉ qua phòng bên kia. Ai nấy đều biết, mặt sợ hãi. Cái “chế độ rình rập” nầy khó sống thật. Không phải “cách mạng” rình rập “ngụy”. Chính họ cũng “rình rập” nhau như thế. Không bao giờ họ tin nhau, không có sự thành thật, chân thành. Vậy mà họ cũng ở với nhau được. Tài thật. Câu thơ của Trần Dần, Quang nghe đọc đã lâu, khi học Việt Văn với ông thầy năm Đệ Tứ, lại hiện ra trong trí Quang:

                        Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người

                Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.

 

“Già rô” còn không tin “Già Rô”! Vậy thì ai tin ông ta? Một chế độ mà người dân không tin lãnh tụ chắc chắn không phải là chế độ có Tự Do, Dân Chủ được.

Đó là động cơ quan trọng nhất để Quang có quyết định trốn trại. Trốn trại rồi sẽ vượt biên. Việc thăm nuôi củng cố thêm ý định trốn trại của Quang. Hôm đó, Quang nói với vợ: “Anh sẽ về!”

Quang không giải thích gì thêm. Vợ Quang cũng không hỏi sẽ về như thế nào. Chồng của cô “tin tưởng một cách tuyệt đối vào chính sách trước sau như một của cách mạng” hay sao? Cô không tin vậy. Cô hiểu chồng, nhưng không dám hỏi thêm. Phòng bên có kẻ đang rình.

Quang chuẩn bị trốn trại khá kỹ, suy nghĩ về việc ấy một cách cẩn thận, “ăn chắc”. Chỉ mới tuần trước, “Dũng Long Biên” trốn trại một cách ngoạn mục, ngay trước mặt bộ đội, như một màn ciné 007, khiến ai nấy thích thú, bàn qua bàn lại mãi.

“Dũng Long Biên” tham gia tổ trồng rau muống ở đám đất

bên cạnh Suối Máu. Cái tên nghe đã ghê! Con suối ở phía bên kia Quốc Lộ 1. Bên nầy là Trại Tù. Trước kia là Trại Tù Binh Việt Cộng Suối Máu, là nơi giam cán binh Cộng Sản bị bắt. Nay là nơi giam các sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trình diện họ tập theo lệnh Ủy Ban Quân Quản Saigon. Họ “đổi chỗ” cho nhau.

Người canh tù thì nay làm người tù. Người tù trở lại làm người canh tù.

Mỗi khu, trại có 5 khu, có trồng một đám rau muống bên bờ suối, để trại “cải thiện”. Do đó, mỗi sáng, có một tổ “Cải Tạo Viên” được bộ đội dẫn từ Khu ra đám rau muống để “thu hoạch”, bón phân, tưới rau…

Khi toán tù nhân từ cổng trại đi ra, bộ đội chận xe và người trên Quốc Lộ lại để toán tù qua đường. Khi họ qua xong, bộ đội cho giao thông trở lại như cũ.

“Dũng Long Biên” ở trong đám tù thuộc Tổ Rau. Hai tay anh ta xách hai thùng tưới tưới nước. Khi “Dũng Long Biên” ra tới gần nửa đường lộ, một chiếc xe Honda 67 do một thanh niên cầm lái vượt đám đông đang đứng chờ, trờ tới. “Dũng Long Biên” nhảy lên yên sau. Chiếc xe Honda phóng đi, rất nhanh. Hình ảnh “Dũng Long Biên” nhảy lẹ lên xe và tiếng rú của ống khói xe làm cho người ta mới giật mình, chưa rõ chuyện gì thì chiếc xe đã chạy được một đoạn khá xa.

Bấy giờ mấy “chú bộ đội” mới biết có người trốn trại. Họ đưa súng lên trời, nổ mấy phát. Không ai biết họ bắn chỉ thiên để báo động hay không dám bắn ngang vì sợ trúng dân. Nhưng trước khi có tiếng sung nổ, người ta nghe tiếng động của hai cái thùng tưới từ tay “Dũng Long Biên” buông ra, rớt xuống mặt đường nhựa cứng. Có lẽ “Dũng Long Biên” cũng hồi hộp không kém mọi người, xe đã chạy một đoạn đường, anh ta mới nhớ ra tay anh còn cầm hai cái thùng tưới, chưa kịp buông.

Cảnh trốn trại hồi hộp và hấp dẫn ấy là câu chuyện được bàn qua tán lại tới những mấy ngày. Không biết mấy “chú bộ đội” nghĩ như thế nào, nhưng với đám tù binh, những người chứng kiến tận mắt hay chỉ được nghe lại, coi như được xem một màn ciné hấp dẫn mà ít lâu nay, chẳng được xem ở ngoài đời.

Bấy giờ có không ít lời bàn của “Mao Tôn Cương thời đại”. Có người thạo tin cho biết “Dũng Phi Long” là chồng đã ly dị của nữ danh ca Thanh Lan. Chương, tổ trưởng Tổ Rau chúa chúng tôi khen: “Một đứa trốn trại hay hơn tài từ ciné, lấy một con nhỏ hát hay nhất xứ, bỏ nhau uổng thiệt!”

Trắc cười: “Người ta là danh ca mà anh gọi nó là “con nhỏ”, nghe đâu có được.”

Chương cãi bướng: “Danh ca cũng còn nhỏ tuổi hơn “moa”, “moa” gọi con nhỏ là được rồi.”

Câu cãi bướng của Chương làm ai nấy đều cười. Người ta có thiện cảm với Chương vì anh là thiên tài đàn ghi-ta đấy.

Việc “Dũng Long Biên” trốn trại làm Quang phải suy nghĩ không ít. Vậy là bọn bộ đội phải cẩn thận hơn, nghiêm nhặt hơn khi dẫn tù đi tưới rau. Nó có nghĩa là việc trốn trại của Quang sẽ khó khăn hơn. Quang phải tính toán, chuẫn bị kỹ hơn.

Trước hết, không thể thiếu một cái gì. Một sĩ quan Biệt Cách Dù, trước khi “nhảy toán” phải kiểm soát rất kỹ lưỡng. Một toán 6 người, không thể khi nhảy xuống rừng rậm rồi mới nhớ ra: “Chết rồi! Quên cái… nầy, hay quên cái… kia”. Không được quên một cái gì hết, cái hộp quẹt, hộp xăng đặc, thậm chí cây kim băng… Không ai có thể tiếp tế cho toán một cái gì khi họ hoạt động đơn độc giữa rừng già. Mối quan hệ với thế giới bên ngoài, chỉ là “vô tuyến”. Thậm chí nhiều khi cắt đứt hoàn toàn, cả “im lặng vô tuyến”.

Việc trốn trại của Quang phải như vậy. Hơn thế nữa, bây giờ chỉ có một mình Quang, không có đồng đội.

Kể từ chân, Quang mang giày “bata”. Giày “bata” chỉ khó khăn khi xuống suối là phải cởi ra. Nhưng hôm nay, Quang không xuống suối, Quang phải trốn rước khi công việc “canh tác” bắt dầu. Trên đường đi trốn, mang giày bata, ít ai nghi ngờ gì.

Quang lựa môt cái quần kaki mầu vàng sẫm. Quần nầy không làm cho bộ đội nghi ngờ mà khi trà trộn trong dân chúng, không ai để ý gì.

Quang phải mặc một cái áo sơ mi trắng. Dân chúng không ai nghĩ người mặc áo sơ mi trắng là người trốn trại tù. Nhưng với bộ đội, mặc áo sơ mi trắng đi tưới rau bị chúng nghi “là cái chắc”. Mấy hôm nay, cuối xuân, nhưng buổi sáng trời còn lạnh. Ngoài cái áo trắng, Quang mặc cái áo “trây-dy” của lính chế độ cũ. Quang bẻ cổ áo trắng xuống, bẻ cổ áo “trây-dy” cao lên, gài nút cổ, vì lạnh. Hoàn toàn, không ai biết, bên trong cái áo lính là cái áo trắng.

Mũ, dễ thôi. Quang dùng cái mũ lưỡi trai màu xanh biển, vợ mới đem cho hôm thăm nuôi.

&

Thế rồi Quang sắp hàng đi tưới sau.

Sau khi trung úy Đoan vào trại dẫn tù đi tưới rau, ra tới  cổng Khu, tổ trưởng Tổ Rau Lê Văn Chương đứng đầu toán, ngó lên chòi cao, cất mũ, báo cáo với “chú bộ đội” đang ngồi canh vắt vẻo trên ấy:

-“Báo cáo anh, 11 người đi tưới rau.”

Anh vệ binh trên chòi ngoái cổ ra đếm hàng tù binh. Sau khi đếm đủ số người, anh ta ra lệnh: “Cho đi.” Thế là đám tù lục tục kéo nhau đi ra, người quang gánh để “thu hoạch rau”, người mang thùng tưới nước. Ra khỏi cổng, họ ghé vào bờ tường ngôi nhà bên đường, mỗi người chọn một cái cuốc. Dĩ nhiên, cuốc phải để ngoài vòng rào trại, không để bên trong bao giờ. Bộ đội biết rõ cuốc là một vũ khí lợi hại, nếu tù nổi loạn. “Cách mạng” không tin bọn “ngụy” bao giờ. “Cải tạo viên” thường leo lẻo cái miệng “Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối khoan hồng nhân đạo của cách mạng”, nhưng vác cuốc đánh vào đầu “cách mạng” thì lúc nào cũng có thể xảy ra.

            Trên đường đi, Quang than “Tôi cứ đau bụng hoài”. Nghe thế, tổ trưởng Lê Văn Chương trả lời, nói hơi to: “Coi chừng ông bị kiết. Mấy bữa nay tụi nó kiết dữ lắm”.

            Ra gần tới ruộng rau, Quang đi chậm lại, nói với Trung úy Đoan:

            -“Báo cáo anh! Tôi xin đi ngoài!”

            Đoan bảo: “Anh đi đi.”

            Quang quay lại nói với anh vệ binh đi sau cùng: “Báo cáo anh, tôi qua bên kia suối đi cầu.”

            Anh vệ binh gật đầu!

            Tổ trưởng Lê Văn Chương dẫn hết cả toán đi dọc theo suối, xa về đằng kia. Anh ta biểu mọi người sắp hàng ngang, dọc theo luống rau. Chương cầm một cái cuốc, nói: “Các bạn làm theo tôi. Cuốc sâu về phía bên kia gốc rau, không xa lắm, không gần lắm. Xong, cạy lưỡi cuốc lên một chút, rút cuốc ra, lát cuốc tiếp bên cạnh lát trước. Xong, bọn mình cho phân xuống, ít thôi vì loại phân nầy nóng. Tưới nước xong thì về.”

            Trung úy Đoan hỏi:

            -“Cuốc lên như thế để làm gì?”

            Chương giải thích:

            -“Rau nầy cắt hai lứa rồi, đã già. Nay phải làm trẻ lại. Cuốc như thế cho rễ rau đứt ra. Rau sẽ mọc rễ mới, mạnh hơn. Cọng rau mới to, xanh hơn. Đây là vớt lần chót, lứa sau trồng rau mới, không xài gốc rau nầy nữa.”

            Đoan nói, thật thà:

            -“Nhà tôi làm nghề nông, chưa từng có ai suy nghĩ và làm như các anh. Các anh thông minh thật.”

            Vậy rồi Tổ Rau lúi húi làm việc, mong cho xong để về.

            Xong việc, như thường lệ, Tổ Rau tập họp. Trung úy Đoan đếm người.

Thiếu một người.

            Vì muốn về sớm nên ai nấy láo nháo hỏi xem anh chàng nào vắng mặt, ham hái rau hoang hay đi đâu chưa về. Thông thường, khi công việc xong, mọi người xuống suối rửa tay chân. Nhân tiện, có người hái một nắm rau trai mọc hoang bên bờ suối, đem về nấu canh. Vì thế, có người la to:

            -“Còn ai dưới suối không? Nhanh lên mà về.”

            Không nghe, thấy gì cả. Trung úy Đoan đi xuống suối tìm. Một lúc sau, anh ta lên, nói: “Không có ai cả. Vậy là có người trốn trại rồi.”

            Lê Văn Chương kiểm điểm từng người trong tổ, xong, nói to với Trung úy Đoan: “Vắng mặt anh Quang.”

            Những người trong toán rau lại bàn tán lao xao. Hơn mười phút sau, xem không thấy còn ai đâu nữa, Trung úy Đoan ra lệnh: “Đi về”. Anh ta sợ trong khi mọi người đang giao động vì có người trốn trại, tình trạng lộn xộn có thể xảy ra, không kiểm soát được.

            Khi vệ binh dẫn Tổ Rau rời khỏi chỗ canh tác, Trung úy Đoan đi ngược trở lại con suối, đi dọc bờ, như cố ý kiếm tìm.

            Thấy vậy, Lê Văn Chương cười, nói nhỏ với mấy người đi bên cạnh:

            -“Quang đâu ở dưới suối mà tìm. Nó lên xe Lam ra Biên Hòa rồi. Dân Biệt Cách Dù, không trốn trại ngây thơ như Trung úy Đoan nghĩ đâu. Nó trốn ngay trước mắt mọi người mà không biết.”

            Trắc hỏi:

            -“Ông thấy nó trốn?”

            Chương cười: “Sao không?’ Rồi Chương giải thích:

            -“Nó giả đi cầu bên kia suối. Khi bọn mình tới đằng kia cuốc rau thì nó từ bên suối đi ra lộ, tỉnh bơ. Ra gần tới nơi, nó cởi cái áo lính ra, làm như người dân thường. Vừa lúc đó có chiếc xe Lam từ Hố Nai chạy tới. Quang sợ trễ xe, liền chạy vội ra đường, ra dấu cho xe dừng lại. Anh ta lên xe, như khách đi đường…”

            Nguyễn Thụy Hiền, vốn là người thật thà, nghe kể câu chuyện như vậy, không tin, hỏi:

            -“Nhắm bộ ông vạch kế hoạch cho nó trốn trại chắc?”

            Chương nói:

            -“Chút nữa về nhà kể tiếp. Nói đây không tiện.”

            Vừa lúc đó, người đi đầu toán thấy có cái áo lính của Quang bỏ lại bên bụi cỏ cao, bèn nhặt lên, nói to: “Áo thằng Quang! Áo thằng Quang!”

&

            Chiều hôm đó, như thưòng lệ, lãnh phần ăn xong, nhiều người trong Đội 3 dọn cơm ra ăn. Người thì bưng môt cái tô, người thì dọn ra trên cái bàn gỗ tạp, hai ba ngưòi ăn chung, có tô canh rau muống hoặc rau trai. Những người trong Tổ Rau thường được Trung úy Đoan “bồi dưỡng” cho mỗi người một nắm rau, để thưởng công họ trồng trọt, chăm bón.

            Ăn gần xong, Hiền hỏi Chương, ngồi ở phía bên kia:

            -“Ông Chương kể tiếp chuyện ông làm đạo diễn cho cuốn phim “Quang trốn trại đi.”

            Chương nói:

            -“Ông nói vậy chết tui. Nhưng tui biết nó… trốn trại.”

            -“Sao ông biết?” Trắc hỏi.

            -“Từ sáng, khi chuẩn bị đi, tui đã nghi. Quang có vẻ khác lạ nhưng làm ra bộ bình tĩnh. Bộ đội thì không biết, nhưng phe ta thì biết ngay. Khi nó kêu đau bụng. Tui nói to cho Trung úy Đoan nghe “Ông bị kiết” để y khỏi nghi nếu Quang xin đi cầu. Khi ra tới bãi, Quang đi cầu phía nầy, tui dẫn anh em đi xa phía kia. Vậy, Quang mới dễ trốn.”

            -“Khi nó trốn, anh thấy không?” Trần Hưng hỏi.

            -“Thấy sao không! Tui biểu mấy ông sắp hàng hướng mắt về phía suối. Tui đứng ngược lại, hướng nhìn ra lộ. Tui thấy Quang đi ra, rất bình tỉnh, cởi áo lính vụt vào bụi, cũng rất bình tĩnh. Nhưng khi chiếc xe Lam chạy tới, Quang phải chạy cho kịp xe. Lúc ấy y mới vội. Tui phục thầm anh Biệt Cách Dù trốn trại mà làm như người đi thăm ruộng. Tiếc thiệt!”

            -“Tiếc cái gì?”

            -“Tui mà không làm Tổ trưởng Tổ rau, tui có thể trốn trại như Quang. Lỡ một dịp may.”

            Sau câu chuyện trốn trại của Quang, có người tiếc cho Chương, một thiên tài “Tây Ban Cầm”. Anh ta đánh đàn Tây Ban Cầm một tay, sinh viên Đại Học Đà Lạt, xuất thân khóa 17 Võ Bị, Trưởng phòng 3 bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Quân khu 2.

Trần Phú Trắc gọi đùa anh là “Chương Rồng”. Trên đường di tản theo Quốc Lộ 7, Chương bị thương ở bàn chân phải, không chữa trị đúng cách nên ngón chân cái của anh ngóc đầu lên, như cái Đầu Rồng./

hoànglonghải

 Ghi chú: Chuyện có thật, tác giả hư cấu chi tiết.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Comment on hoànglonghải – Vết Nám (Bài 13) Trốn tù

  1. Câu chuyện trốn trại của anh Quang này quá hay,qua năm thứ 3,tôi bị chuyển lên Gia Trung để bọn công an áo vàng giam giữ, một đội làm rau ở ngoài trại,từ anh đội trưởng,đội phó,3 tổ trưởng,cũng hẹn nhau chuẩn bị trốn trại hết sức táo bạo và ly kỳ,đúng giờ chiều chuẩn bị về trại,cả 5 người đè đầu dựt súng công an và bắn cho mọi nhười nằm xuống vừa bắn vừa chạy, thoát được 3 người,riêng anh đội trưởng và đội phó thì bị bọn công an phản công bắn chết tại chỗ.Ba người thoát được một thời gian gần tới biên giới Lào thì bị bắt lại hai người và trả lại trại,dĩ nhiên nằm nhà đá, th/u Khánh bị thương ở bụng,không được chữa tri và chết,còn lại,chú Hùng,Tr/u Hải quân,sau đó được trả lại lao đông,trong đội của tôi ,nằm kế tôi,cu cậu chỉ được ăn 9 kí/tháng,còn tôi cũng bị phạt 13 kí thay vì 15/tháng vì tội phát ngôn bừa bãi,thay vì “lao đông là vinh quang thì tôi nói nhỏ là đầy ải,và lọt tới tai quản giáo,bình thường đã đói,hai anh em bị giảm ăn thì càng đói !Ở trại Gia Trung thì mỗi căn đều có cầu tiêu,nên tụi này lấy nước suối về để rửa. Cám ơn anh Hải cho biết chi tiết về nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông,một NT/CTSQ của tôi và cô Kim Cương.

    Số lượt thích

5 Trackbacks / Pingbacks

  1. hoànglonghải – Vết Nám (Bài 13) Trốn tù – biển xưa
  2. hoànglonghải – Vết Nám (Bài 13) Trốn tù – biển xưa
  3. Trốn tù – Bến xưa
  4. Trốn tù – dòng sông cũ
  5. Trốn tù – Bến cũ

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: