Bài 4. Chuyện “Vợ Con” Mười Hương mất tích và “Cha” bị cộng sản giết trong cải cách ruộng đất, “Gia đình Nội – Ngoại” của Mười Hương cũng mất tích luôn

  1. Bằng chứng và phân tích
  2. Mười Hương tên thật là gì?

– Là Trần Ngọc Ban? “Tên thật của ông là Trần Ngọc Ban, quê ở Vụ Bản, Bình Lục, Hà Nam. Là con trai út một gia đình tư sản…(Văn bản 1)

– Là Trần Lục Ban? “Tên thật là Trần Lục Ban, quê quán tỉnh Hà Nam, đồng chí Mười Hương tham gia cách mạng từ năm 13 tuổi.” (Văn bản 2)

Nhận xét: Tại sao có sự nhầm lẫn này? Nhầm do vô tình?

Không thể nhầm do vô tình! Nếu điểm lại tên thật và tên bí danh của người thầy giáo từ hồi tiểu học, rồi dìu dắt vào hoạt động Cách Mạng mà Mười Hương cũng nhầm (Bài 2) thì như thế là một hệ thống, rồi những chuyện kể phét của Mười Hương (bài 1), rồi những chuyện kể phét của “anh trai” Mười Hương (Bài 3) thì đã cho ta thấy Mười Hương như một người giả vậy!

  1. Thư ký cho Trường Trinh?

Trước và sau Cách mạng tháng Tám, ông làm thư ký riêng của Tổng Bí thư Trường Chinh và là một trong những người chuẩn bị chu đáo cho buổi ra mắt quốc dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.(Văn bản 1)

Kể láo về liên lạc với Frey.

Mười Hương về ATK (một vùng giáp ranh). …Trong đội ngũ lính lê dương của Pháp có một chi bộ Cộng sản của những người thuộc đảng Xã hội do một người Đức tên là Frey làm đại diện. Mười Hương đã tiếp cận được với Frey và khai thác được khá nhiều tin tức hữu ích. Sau trận Xtalingrat, quân đội phát xít Đức bị đánh tan tác, Hồng quân Liên Xô bắt đầu chuyển sang phản công đè bẹp quân Đức trên khắp các mặt trận, Frey đề nghị cho gặp cấp trên của Mười Hương để trao đổi tình hình. Anh về báo cáo, xin ý kiến đồng chí Trường Chinh. Sau khi nhận định tình hình, cân nhắc kỹ và lường trước mọi khả năng có thể xảy ra, đồng chí Trường Chinh nhận lời và giao cho Mười Hương bố trí cuộc gặp. Mười Hương suy đi tính lại hết sức thận trọng, cuối cùng quyết định chọn khu làng mộ họ Phạm ở làng Vẽ thuộc ngoại thành Hà Nội làm địa điểm hẹn gặp. Nơi này khá kín đáo, vắng vẻ mà cũng dễ rút khi có động. Đúng hẹn, Frey từ chỗ đóng quân trên Việt Trì về Hà Nội. Anh ra trút bỏ bộ đồ nhà binh, ăn mặc như một viên cai lục lộ để khỏi gây nghi ngờ, rồi thong thả đạp xe theo Mười Hương đến khu mộ nằm chơ vơ giữa đồng. Đồng chí Trường Chinh đóng giả làm một người dân trong làng ngồi nghỉ chân đã chờ sẵn tại đó. Frey và đồng chí Trường Chinh nói chuyện với nhau rất lâu. Cuộc gặp đầu tiên đã diễn ra trót lọt.” (Văn bản 2)

Nhận xét: Khi ta đã biết rằng Trường Trinh là ai? Hồ Chí Minh là ai? (ta sẽ nghiên cứu sau) thì ta sẽ càng thấy giả thuyết: Mười Hương như một người giả – là đúng!

Những bằng chứng nào cho thấy “Frey là một chi bộ Cộng sản của những người thuộc đảng Xã hội”? Mật khẩu? hay giấy tờ ủy quyền? Những cái đó là gì? Nó đâu rồi?

Những hiện vật đó chắc quý lắm và không thể làm mất?

Chuyện sạo mà thôi.

Việt Minh và Pháp bàn hợp tác ở một nhà Thổ?

“Frey về thông báo lại kết quả cuộc gặp giữa anh ta và đại diện Việt Minh với nhóm những người Xã hội Pháp, trong đó có Caput, Chánh thanh tra học chính Bắc Kỳ, vốn là Bí thư đảng Xã hội Pháp tại Đông Dương. Nhóm này lại cử Frey xin được cho vài đại diện của nhóm gặp đồng chí Trường Chinh để bàn về việc tiến tới thành lập mặt trận chung chống phát xít. Phải chăng mật thám Pháp đã đánh hơi thấy nên giở trò và đây là một cái bẫy? Sau khi hội ý với Ban thường vụ T.Ư, đồng chí Trường Chinh cho rằng sớm hay muộn bọn Nhật sẽ hất Pháp để độc chiếm Đông Dương, những người Pháp ở thuộc địa đang rất bối rối, hoang mang nên sẽ không dám làm căng như trước và có lẽ họ thành thực muốn hợp tác với ta. Tuy cuộc gặp này có phần mạo hiểm nhưng nếu không đi sẽ bỏ lỡ một cơ hội tốt, nên đồng chí đã nhận lời và giao cho Mười Hương lập kế hoạch chuẩn bị. Mười Hương nói: “Xin anh cứ tin tưởng ở tôi. Để giữ bí mật, việc này chỉ nên anh và tôi biết thôi. Tôi sẽ sắp đặt chu đáo rồi báo lại ngày giờ cụ thể”. Thoạt đầu, phía Pháp đề nghị địa điểm gặp tại Bệnh viện Lanessan rồi ở phòng thí nghiệm của Trường Y nhưng Mười Hương thấy thế quá nguy hiểm. Với một số người đông như vậy mà kéo nhau ra ngoại thành hoặc đi thuyền dọc sông Hồng sẽ khó tránh khỏi bị nghi ngờ. Bàn qua tính lại, rốt cuộc nhóm người Pháp đề nghị chọn một nhà thổ nằm trên phố De Lorme (nay là đường Trần Bình Trọng) làm điểm hẹn. Mười Hương thấy phương án này có thể chấp nhận được. Chốn ăn chơi nọ sát nách Sở Mật thám, lại gần trại lính Nhật, tuởng như phiêu lưu nhưng lại rất bất ngờ và an toàn. Anh bèn báo cáo đồng chí Trường Chinh và được bật đèn xanh. Mười Hương chủ động sắp đặt mọi việc, cho mấy em thiếu nhi giả chăn trâu trên đê Yên Phụ, ngã ba Nhật Tảo nhằm quan sát, nắm kỹ tình hình, nghe ngóng mọi động tĩnh. Mặt , ông liên hệ với Phan Hiền, hồi đó đang là sinh viên Trường Luật, nhà ở Hàng Ngang, tạo điều kiện giúp đỡ. Buổi chiều ngày hẹn, Mười Hương đạp xe lên Phú Xá đón đồng chí Trường Chinh, người thủ vai một lái bè từ Việt Trì về. Mười Hương đưa đồng chí Trường Chinh về nhà cô em gái lấy chồng ở Bến Nứa, đợi trời tối, cả hai mới tới nhà Phan Hiền. Sau khi quan sát kỹ không thấy cái đuôi nào bám theo, họ đến phố De Lorme, đi thẳng lên gác. Tại đây, năm người Pháp gồm Frey, Borchers, Seyberlych, Caput và Thiếu tá Mordant, chỉ huy quân đọi Pháp ở Bắc Kỳ đã chực sẵn. Vừa nhìn thấy đồng chí Trường Chinh, Caput thốt lên: “Té ra Việt Minh cũng là toa à?”. Trường Chinh đáp: “Đúng bởi vì Cộng sản cũng là một thành phần trong mặt trận Việt Minh. Tôi được cử làm đại diện cho mặt trận, ông Phan Hiền đây đại diện cho trí thức, ông Hương đại diện thanh niên”. ” (Văn bản 3)

Nhận xét: Chuyện láo mà thôi, “Caput, Chánh thanh tra học chính Bắc Kỳ”, “Thiếu tá Mordant, chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ ”, mà lại cùng với Tổng bí thư Đảng CS Đông Dương đi vào nhà thổ để bàn chuyện?

Chuyện láo mà thôi, nếu thấy “đây là một cái bẫy? ”, “có phần mạo hiểm ” thì có cần phải một Tổng bí thư Đảng CS Đông Dương đi vào nhà thổ để bàn chuyện?

  1. Hiển hách?

– Ngày vào nghề – tháng 7/1954:

Ông vẫn còn nhớ rõ vì sao mình bước chân vào nghề tình báo: “Khoảng tháng 7/1954, Xứ ủy Nam Kỳ cử đồng chí Lê Đức Thọ ra gặp Trung ương để bàn về chiến lược cách mạng và xin Trung ương cử tôi vào đó. Tổng Bí thư Trường Chinh xin ý kiến và được Bác Hồ đồng ý. Anh Trường Chinh gặp tôi giao nhiệm vụ và nói: “Khó khăn nhiều lắm đấy, đi không biết bao giờ trở lại. Phải suy nghĩ cho kỹ, nếu thấy đi không được thì cứ báo cáo, Trung ương không ép”. Bác Hồ cũng gặp tôi dặn dò: “Công việc thì các chú đã dặn chú kỹ rồi, xem làm được thì nhận và đã nhận thì đừng phụ lòng Trung ương, đi sao nhớ về vậy!”(Văn bản 1)

– Thời gian trong tù – 5 năm: “Năm 1958, ông sa vào tay giặc… Không khuất phục được, chúng đã đưa ông vào danh sách 200 tù nhân cần thủ tiêu, nhưng chưa kịp thực hiện thì cuộc đảo chính Diệm xảy ra. (Văn bản 1)

Tầm Vũ Ngọc Nhạ:

Trước khi vào Nam, qua sự giới thiệu của ông Nghĩa, Bí thư tỉnh Thái Bình, ông Mười Hương đã xây dựng ông Vũ Ngọc Nhạ làm cơ sở. Đây là nước cờ quan trọng cho một kế hoạch dài hơi mà ông tính đến, xứng danh một nhà tình báo chiến lược.

Nhận nhiệm vụ trong Ban Địch tình Xứ ủy, với vỏ bọc là giáo viên dạy tư tại Sài Gòn, ông Mười Hương đã móc nối thành công với điệp viên Vũ Ngọc Nhạ để triển khai tiếp kế hoạch đã vạch. Thực hiện chỉ đạo của ông Mười Hương, ông Vũ Ngọc Nhạ đã chiếm được lòng tin của Giám mục  Từ – Giám mục giáo xứ Phát Diệm, trở thành người đại diện trong quan hệ với chính quyền họ Ngô rồi gây được ảnh hưởng trong gia đình Diệm, tạo nên những chiến công lừng lẫy trước khi bước vào tiểu thuyết “Ông cố vấn” nổi tiếng của nhà văn . (Văn bản 1)

Tầm Thúy:

Khi đã chiếm trọn lòng tin của Tổng trưởng Nội vụ Huỳnh Văn Nhiệm, rồi chinh phục cả Bảy Viễn – thủ lĩnh Bình Xuyên lẫn Năm Lửa – tướng của Hòa Hảo, Thúy đã thành công trong việc khơi sâu mâu thuẫn giữa các tổ chức giáo phái với chính quyền họ Ngô, buộc Diệm phải mất rất nhiều thời gian cùng binh lực để ổn định tình hình, tạo thời cơ cho cách mạng miền Nam có thêm thời gian và điều kiện xây dựng, củng cố lực lượng.(Văn bản 1)

Tầm Phạm Ngọc Thảo:

Với từng đường đi nước bước của chiến lược gia Mười Hương, điệp viên Phạm Ngọc Thảo đã tiếp cận và bằng tài năng cá nhân, nhanh chóng được Diệm đặc biệt tin cẩn và trọng dụng, rồi leo cao trong chính quyền ngụy. Năm 1965, Phạm Ngọc Thảo đã tiến hành đảo chính định lật đổ Nguyễn Khánh nhưng việc không thành nên bị địch sát hại. (Văn bản 1)

Tầm Phạm Xuân Ẩn:

Nhìn thấy khả năng thiên phú của ông Phạm Xuân Ẩn, từ rất sớm, Mười Hương cùng ông Mai Chí Thọ quyết định đưa Phạm Xuân Ẩn sang Mỹ học nghề báo để về nước phục vụ cách mạng. Kế hoạch được thực hiện trọn vẹn khi với vỏ bọc này, nhà tình báo tài ba Phạm Xuân Ẩn đã có cơ hội diện kiến nhiều nhân vật quan trọng của cả Mỹ lẫn ngụy, để khai thác và chuyển về hậu cứ những thông tin có giá trị về các chiến lược đặc biệt của kẻ thù, giúp quân ta có kế hoạch đối phó và đập tan mọi âm mưu của địch và vững bước đến thắng lợi trọn vẹn. (Văn bản 1)

Nhận xét: Như vậy kể từ khi “bước chân vào nghề tình báo” đến khi “ông sa vào tay giặc” chỉ vẹn vẹn có 4 năm, vậy mà ông ta đã làm cho Cẩn, Nhu và các lãnh đạo Miền nam Cộng Hòa phục sát đất? Trong khi đó những cán bộ trước ông ta thì cứ Phản bội hoặc bị bắt hoài! Ông ta thật tài quá ha! (Xem lại bài 1)

Chỉ vẹn vẹn có 4 năm mà ông ta đã xây dựng được 4 Siêu? Ông ta thật tài quá ha!

Ồ sao “Trước khi vào Nam, … Mười Hương đã xây dựng ông Vũ Ngọc Nhạ làm cơ sở” mà lại còn phải “với vỏ bọc là giáo viên dạy tư tại Sài Gòn, ông Mười Hương đã móc nối thành công với điệp viên Vũ Ngọc Nhạ để triển khai tiếp kế hoạch đã vạch…”?

đã xây dựng ” thì sao còn phải “móc nối ”?

  1. Vợ con mất tích.

4.1 Con trai đầu lòng:

Hơn nữa, “đôi mắt trong veo của cậu con trai đầu lòng nhìn tôi lúc chia tay thường hiện về, góp phần động viên tôi đủ nghị lực không sa ngã trước quân thù. Chỉ vì một lẽ đơn giản đến khó tin là, tôi sợ mình không dám nhìn vào đôi mắt đó khi gặp lại, nếu không giữ được khí tiết cách mạng”. …(Văn bản 1)

4.2 1964 ra bắc gặp lại vợ và 2 con mà vẫn “tan vỡ ”?

Ngày ông vào Nam hoạt động, cả 2 đứa con còn nhỏ xíu. Vì yêu cầu bí mật, cuộc chia tay không hẹn ngày về của ông chỉ có vòng tay bịn rịn và cặp mắt trong veo, nhòe ướt của cậu con trai nhỏ. 10 năm không tin tức, vì nguyên tắc hoạt động và mất tới 6 năm ông ở trong tù. Trở ra Bắc, đứa con gái nhỏ lẫm chẫm bò lúc ông đi, chạy vuột khỏi tay cha: “Bà ngoại ơi, có ông nào đến nhận là bố con!”. Nhưng đau đớn nhất là ông phải đối diện với sự tan vỡ của cuộc sống tình cảm vợ chồng. (Văn bản 1)

4.3 Gia đình cũ đâu?

Lại thêm gần 10 năm nữa vào Nam hoạt động. Dằng dặc gần 2 thập niên ấy, các con ông tiếng là có cha nhưng rất ít khi được gặp chứ nói gì được ông chăm sóc. Nhưng cùng với các con, ông cũng chịu nhiều mất mát. Ngày đất nước thống nhất, mọi người hân hoan đoàn tụ, còn ông, nỗi cô đơn thấm tận đáy lòng. Ông không dám trách ai, bởi biết rằng, vì nhiệm vụ cao cả, ông đã không thể làm tròn vai trò của người chồng, người cha trong gia đình.

Cả cuộc đời ông cứ lặng lẽ hy sinh cho đất nước. Mãi gần 10 năm sau ngày giải phóng, đã ở tuổi 60, ông mới lại có được hạnh phúc muộn mằn.(Văn bản 1)

4.4 “người vợ rất đỗi yêu quí ” mà chồng mới đi 10 năm đã không chờ?

Mẹ không giữ chân con đâu, mẹ chỉ xin con để lại thằng Quang Trung ở nhà cho mẹ nuôi thôi”. Rõ ràng bằng trực giác của người mẹ, bà cảm thấy con trai sắp phải xa nhà rất lâu, chưa biết lành dữ thế nào, tuy nhiên bà không nói ra. Mười Hương thấy cay cay sống mũi, Quang Trung là đứa con trai đầu lòng của ông, việc này ông cũng không thể tự quyết định được mà phải bàn với vợ. Sáng hôm sau, Mười Hương đành dứt áo ra đi. Người cha đưa tiễn và lẳng lặng giúi cho ông một tờ giấy bạc con công lại 5 đồng. Sau này, Mười Hương vô cùng biết ơn Bùi Lâm vì đó là lần cuối cùng ông được gặp mẹ. Lên tới Văn phòng T.Ư ở Đại Từ, Thái Nguyên, Mười Hương vỡ lẽ rằng Bùi Lâm nói đúng. Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của phong trào cách mạng miền Nam, đồng chí Lê Đức Thọ xin T.Ư biệt phái cho một cán bộ công tác địch hậu và người này phải có khả năng tranh thủ được giới trí thức tầng lớp trên. Xét thấy chỉ có Mười Hương phù hợp với nhiệm vụ này, đồng chí Trường Chinh xin ý kiến của Bộ Chính trị, Hồ Chủ tịch và nhận được sự đồng tình ủng hộ. Hai đồng chí Trường Chinh và Phạm Văn Đồng gặp, trao nhiệm vụ cụ thể cho Mười Hương. Đích thân Bác Hồ cũng dự cuộc họp quan trọng này. Đồng chí Trường Chinh nói: “Anh cứ suy nghĩ kỹ đi rồi hãy nhận lời”. Nhưng Mười Hương quả quyết trả lời ngay: “Tôi sẽ vào Nam. Xin Bác và các anh cứ yên tâm là tôi sẽ không phụ sự tin cậy của T.Ư đâu”. Mười Hương gấp rút về sửa soạn chờ ngày lên đường. Ông ở nhà mấy hôm với vợ cùng cô con gái út và không khỏi suy nghĩ nhiều về trách nhiệm người chồng, người cha. Ông không thể tiết lộ công việc của mình dù ngay cả với những người thân yêu nhất. Ông chỉ nói với người vợ rất đỗi yêu quí rằng mình sắp đi công tác xa một thời gian. Khi phổ biến nhiệm vụ, đồng chí Phạm Văn Đồng nói: “Anh chỉ đi 6 tháng thôi”. Nhưng Mười Hương không ngờ phải mất cả chục năm trời ông mới có điều kiện trở ra miền Bắc.” (Văn bản 3)

Nhận xét: Giờ họ đâu? Sau 11 năm nữa là đến 1975 thì họ đâu? Họ là ai hiện nay? Chết cả rồi sao? “thằng Quang Trung ” giờ là ai?

Ở phần sau khi đọc tới 2 “Siêu” Vũ Ngọc Nhạ và Vũ Tiến Duật ta lại thấy cả 2 gia đình này vô Nam để hoạt động tình báo vui lắm cơ mà, sao ở đây gia đình “Người Thầy” lại bi đát đến vậy?

Chờ chồng cả đời vì chiến tranh đã là một nét đẹp của phụ nữ Việt Nam, có người đi biền biệt 20 năm không tin tức mà vợ vẫn sắt son chờ đợi, sao người vợ rất đỗi yêu quí của Mười Hương không chờ được? Mười Hương đâu phải “đi biền biệt 20 năm không tin tức”? Khi đi có chia tay “Mười Hương gấp rút về sửa soạn chờ ngày lên đường. Ông ở nhà mấy hôm với vợ cùng cô con gái út …” 10 năm ông ta đã về, và là một cán bộ cao cấp thì Trung ương ngoài Bắc trả lẽ không có nổi Phương án lo cho gia đình ông ta?

Ly hôn cũng được, nhưng họ đâu? Hiện nay họ là ai? Ly hôn không lẽ là lý do để 3 mẹ con biến mất sao?

Gia đình bên vợ cả hồi đó sống thế nào, ai còn ai mất, mất như thế nào?

  1. “Bố đẻ” bị giết trong “” và gia đình 3 người “anh trai” không được nhắc đến.

“Bố đẻ” và “Anh trai” đâu? Họ mất năm nào? Mất như thế nào?

Tiếng là tư sản, tuy nhiên cha ông, nhà thầu khoán Trần Ngọc Tân lại mang nhiều nét chất phác, cần kiệm của người nông dân Bắc Bộ.

…Mười Hương bị tống giam vào Hoả Lò hơn một năm, sau đó bị đem ra xét xử tại toà án binh của Pháp. Do chưa đến tuổi thành niên, mặt , anh trai ông là một nhà thầu khoán có quan hệ rộng đã bỏ tiền lo lót cho em…” (Văn bản 4)

          “Bố đẻ” bị giết trong “”.

Có lẽ ở tỉnh Hà Nam, ít người biết đến ông Mười Hương (tên thật là Trần Ngọc Ban) tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi. Khi xây dựng an toàn khu, lo chỗ ở và làm việc của Bác Hồ, ông được Bác đặt tên cho là Trần Quốc Hương. Phải chăng, Bác muốn tên của ông là sự hòa quyện giữa Tổ quốc với quê hương? Những năm tháng hoạt động ở miền Nam, ông được bà con gọi thân thương là Mười Hương. Cái tên ấy gắn liền với con người ông cho đến tận bây giờ.

Là con út trong một gia đình có năm anh em trai, ông và em út đi làm cách mạng, đều bí mật vào Nam làm công việc “mật”, nên cha mẹ phải chịu tiếng có hai con theo giặc. Tuy vậy, khi bị quy oan và trước khi qua đời năm , người cha vẫn tin con mình chỉ đi làm việc nghĩa…” (Văn bản 5)

Người mẹ chết trước 1964.

Sáng hôm sau, Mười Hương đành dứt áo ra đi. Người cha đưa tiễn và lẳng lặng giúi cho ông một tờ giấy bạc con công lại 5 đồng. Sau này, Mười Hương vô cùng biết ơn Bùi Lâm vì đó là lần cuối cùng ông được gặp mẹ. ” (Văn bản 3)

          Nhận xét: “khi bị quy oan và trước khi qua đời năm cho ta thấy: “Bố” Mười Hương đã bị giết trong “”! Không lẽ Mười Hương là cán bộ cấp cao: “Khi xây dựng an toàn khu, lo chỗ ở và làm việc của Bác Hồ, ông được Bác đặt tên cho là Trần Quốc Hương. Phải chăng, Bác muốn tên của ông là sự hòa quyện giữa Tổ quốc với quê hương? ” mà đi vào Nam công tác “Người cha đưa tiễn và lẳng lặng giúi cho ông một tờ giấy bạc con công lại 5 đồng.” rồi ở nhà thì “Bác” lại thịt luôn Cha của mình mà vẫn trung thành?

          “cha mẹ phải chịu tiếng có hai con theo giặc” thì được hiểu là Mười Hương đã làm cho Việt Nam Cộng Hòa, vậy ông làm ở cơ quan nào? Điều này thật mâu thuẫn với câu chuyện do chính Mười Hương kể ở bài 1! Trong câu chuyện đó thì Mười Hương không một giờ “theo giặc”!

Vô lý!

“ông và em út đi làm cách mạng” thì còn 3 người “Anh Trai” nữa, họ sống chết thế nào, nhất là người anh trai “đã bỏ tiền lo lót cho em”? Con cái của họ giờ đây là ai?

Và số phận 8 “anh chị em” của Mười Hương ở ngoài Bắc sống chết ra sao? Liệu có bị diệt khẩu không?

  1. Trần Hiệu hay Lê Đức Thọ?

“Tình cờ một lần ông Trần Hiệu, Phó tổng giám đốc Nha Công an phụ trách tình báo gặp Mười Hương và lập tức nhận ra đây chính là người mà ông cần. Trần Hiệu bèn xin Mười Hương về với mình và được đồng chí Trường Chinh chấp thuận.” (Văn bản 3)

Nhận xét: Ấy thế mà ở (Văn bản 1) lại nói là Lê Đức Thọ? “Khoảng tháng 7/1954, Xứ ủy Nam Kỳ cử đồng chí Lê Đức Thọ ra gặp Trung ương để bàn về chiến lược cách mạng và xin Trung ương cử tôi vào đó. Tổng Bí thư Trường Chinh xin ý kiến và được Bác Hồ đồng ý…”

  1. Vũ Ngọc Nhạ hồi đó đang là lính génie (công binh) trong quân đội Pháp hay “anh bộ đội Cụ Hồ”?

 “Vũ Ngọc Nhạ hồi đó đang là lính génie (công binh) trong quân đội Pháp, đồng thời cũng có chân trong Thị uỷ thị xã Thái Bình. Mười Hương đã qua ông Nghĩa, Bí thư tỉnh Thái Bình để gây dựng Vũ Ngọc Nhạ, ém mình chờ thời chuẩn bị cho những kế hoạch lâu dài. (Văn bản 3)

Mâu thuẫn với nội dung sau:

“Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ, sinh năm 1925 tại làng Cọi Khê. …

Năm 15 tuổi Nhạ được bố đưa vào Huế theo học tại trường trung học Thuận Hóa. Những năm học ở trường Thuận Hóa, Vũ Ngọc Nhạ được thầy hiệu trưởng Tôn Quang Phiệt bố trí vào tổ chức thanh niên cứu quốc và được giao nhiệm vụ chuyển thư từ, phân phát tài liệu cho tổ chức.

Năm 1947 Vũ Ngọc Nhạ tình nguyện vào quân ngũ, công tác tại thị đội  thị xã Thái Bình.

Năm 1952, Vũ Ngọc Nhạ mang tên Vũ Ngọc Kép, có mặt trong đoàn đại biểu quân sự tỉnh Thái Bình đi dự hội nghị chiến tranh du kích Bắc Bộ tại Việt Bắc do Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái chủ trì.

…Năm 1954, hòa bình lập lại, với tờ căn cước hợp pháp, trút bỏ trang phục anh bộ đội Cụ Hồ, Vũ Ngọc Nhạ đóng vai một sĩ quan chính quyền Sài Gòn. Ông đưa vợ con từ làng Cọi Khê, xã Vũ Hội theo quân đội Pháp xuống tàu Hải Phòng di cư vào Nam. Cuộc chiến đấu thầm lặng, đầy mạo hiểm bắt đầu từ đây.” (Những người nằm trong Phủ Tổng thống Sài Gòn – Kỳ 1: Vào dinh Độc lập)

Nhận xét:

Đoạn trên thì nói: “Vũ Ngọc Nhạ hồi đó đang là lính génie (công binh) trong quân đội Pháp” đoạn dưới lại nói: “…Năm 1954, hòa bình lập lại, với tờ căn cước hợp pháp, trút bỏ trang phục anh bộ đội Cụ Hồ, Vũ Ngọc Nhạ đóng vai một sĩ quan chính quyền Sài Gòn. ”

Vô lý!

  1. “Tư liệu từ phía bên kia… ” cũng bị lừa! (văn bản 6)

Thế mới thật là:

Mười Hương rõ thật đại tài

4 năm dựng được 4 ngài thật Siêu.

Mười Hương có phải Ngu Trung?

Cha thì bị giết vẫn rằng Bác tao?

“Theo giặc” công tác ở đâu?

Để cha bị giết hả thằng Mười Hương?

Chuyện này bịa láo ra thôi

“Thủ lĩnh tình báo” trả thù thì sao?

Chuyện này bịa láo ra thôi

Họ hàng nội ngoại giờ này ra sao?

“Vợ yêu” dẫu láo li hôn

2 con cùng vợ bây giờ là ai?

Thắc mắc: Mười Hương kể chuyện láo, không nhớ tên Thầy, không giống mặt “anh trai”, Vợ con, gia đình nội ngoại thì không hề nhắc tới, chắc chắn chẳng phải Mười Hương có lý lịch như vậy! Vậy thì 4 Siêu tình báo Đại tài do Mười Hương kể là đã xây dựng họ là Giả hay Thật? xem tiếp phần sau sẽ rõ.

  1. Tài Liệu và nghiên cứu.

Văn bản 1)

Trần Quốc Hương-“Kiến trúc sư” trưởng của một mạng lưới tình báo
8:30, 01/08/2008

http://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Tran-Quoc-Huong-Kien-truc-su-truong-cua-mot-mang-luoi-tinh-bao-292147/

http://antg.cand.com.vn/vi-vn/tulieu/2008/8/66992.cand

Ngồi chờ ở phòng h của Khu biệt thự Hồ Tây, tôi mường tượng rằng ông – một huyền thoại tình báo đã đi vào lịch sử sẽ là một người quắc thước, mạnh mẽ và dĩ nhiên, có phần nghiêm nghị. Để rồi, khi đồng chí Phạm Văn Hùng – sĩ quan bảo vệ mời ông vào phòng, tôi đã ngỡ ngàng khi trước mặt là ông cụ nhỏ nhắn, đẹp lão, với nụ cười hiền hậu, phong thái nhẹ nhàng, thấm đẫm văn hóa phương Đông.

Với chiếc áo khuy ngang màu ngà và tấm khăn rằn quàng cẩn thận trên cổ, trông ông hệt một ông già phương Nam giản dị. Trong câu chuyện, mỗi lần kể về mẹ hay những người phụ nữ đã giúp đỡ ông trong cuộc đời hoạt động cách mạng và thay ông chịu bao đau khổ, ông đều không giấu nổi nghẹn n. Ông – “kiến trúc sư” của một mạng lưới tình báo với những chiến công đã đi vào lịch sử đây ư? Câu hỏi ấy cứ vang lên trong đầu tôi suốt cuộc chuyện trò.

Con đường trở thành nhà tình báo

Nhắc đến các nhà tình báo nổi tiếng như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Thúy, Phạm Ngọc Thảo – những người mà tên tuổi đã vượt ra khỏi biên giới vì sự cống hiến của họ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, không thể không nhắc đến ông – người mà mỗi chiến công của các điệp viên huyền thoại ấy đều gắn bó với sự chỉ đạo mang tầm chiến lược của ông. Đó chính là nhà tình báo Trần Quốc Hương, còn gọi là Mười Hương – Ủy viên Trung ương từ khóa IV đến khóa VI, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương và đã được trao tặng  – Huân chương cao quý nhất.

Tên thật của ông là Trần Ngọc Ban, quê ở Vụ Bản, Bình Lục, Hà Nam. Là con trai út một gia đình tư sản, nhưng ông lại tham gia cách mạng từ rất sớm, lúc mới 13 tuổi, nhờ sự giác ngộ của người thầy học Nguyễn Đức Quỳ – sau là Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, rồi Thứ trưởng Bộ Văn hóa. Được thầy Quỳ giới thiệu, ông lên Hà Nội gặp các ông Trường Chinh, Lê Toàn Thư, Hoàng Đình Tuất rồi gặp Bác Hồ và càng ý thức rõ hơn về việc tham gia cách mạng của mình.

Năm 1941, ông bị Pháp bắt cùng với ông Nguyễn Thọ Chân  vì treo cờ Cộng sản và rải truyền đơn, rồi bị tống giam hơn một năm trước khi ra tòa án binh của Pháp. Nhưng do còn nhỏ tuổi, ông đã được trả tự do với lời cảnh báo của một mật thám Pháp: “Đừng thấy nó nhỏ tuổi mà coi thường, Cộng sản đã ăn vào máu của nó rồi”. Năm 1943, ông đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản. Trước và sau Cách mạng tháng Tám, ông làm thư ký riêng của Tổng Bí thư Trường Chinh và là một trong những người chuẩn bị chu đáo cho buổi ra mắt quốc dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

(Ông Mười Hương trong chương trình giao lưu “Ký ức thời hoa lửa” tổ chức tại Học viện cảnh sát nhân dịp 30/4/2008)

Ông vẫn còn nhớ rõ vì sao mình bước chân vào nghề tình báo: “Khoảng tháng 7/1954, Xứ ủy Nam Kỳ cử đồng chí Lê Đức Thọ ra gặp Trung ương để bàn về chiến lược cách mạng và xin Trung ương cử tôi vào đó. Tổng Bí thư Trường Chinh xin ý kiến và được Bác Hồ đồng ý. Anh Trường Chinh gặp tôi giao nhiệm vụ và nói: “Khó khăn nhiều lắm đấy, đi không biết bao giờ trở lại. Phải suy nghĩ cho kỹ, nếu thấy đi không được thì cứ báo cáo, Trung ương không ép”. Bác Hồ cũng gặp tôi dặn dò: “Công việc thì các chú đã dặn chú kỹ rồi, xem làm được thì nhận và đã nhận thì đừng phụ lòng Trung ương, đi sao nhớ về vậy!”.

Thế là ông nhận nhiệm vụ. Rồi ghé về thăm mẹ, bởi ông hiểu rằng, với việc ra đi của ông, không ai khổ hơn mẹ. Thấy con đột ngột trở về, linh cảm của người mẹ cho bà cụ biết sẽ là khởi đầu một cuộc chia tay dằng dặc, nên cụ lặng lẽ nấu một nồi cháo thịt cho con ăn, rồi giục ông đi ngủ. Ông nghẹn n nhớ lại: “Tôi nằm nghỉ trên tấm phản, mẹ ngồi bên cạnh âu yếm rờ nắn khắp mặt mũi, chân tay tôi. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn còn cảm thấy hơi ấm nóng từ những giọt nước mắt của bà rơi trên mặt tôi đêm đó”. Không ai ngờ chuyến đi ban đầu dự định chỉ 6 tháng, đã kéo dài tới 10 năm.

Vào Nam, lạ nước lạ cái, nhưng ông may mắn được các đồng đội thân thiết, nhất là ông Phan Trọng Tuệ – từng là bạn tù và ông Lê Toàn Thư giúp nắm bắt tình hình để cùng ông Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm nhanh chóng mở các lớp huấn luyện nghiệp vụ tình báo.

Năm 1958, ông sa vào tay giặc. Biết ông là cán bộ cao cấp, anh em họ Ngô tìm cách “chuyển hướng” tư tưởng để sử dụng. Đích thân Ngô Đình Nhu bố trí gặp ông tại nhà nghỉ mát của Ngô Đình Cẩn ở cửa Thuận An (Huế) để hòng lung lạc. Không khuất phục được, chúng đã đưa ông vào danh sách 200 tù nhân cần thủ tiêu, nhưng chưa kịp thực hiện thì cuộc đảo chính Diệm xảy ra.

Ông nhớ lại những ngày tháng ấy: Chúng liên tiếp hỏi cung cả ngày lẫn đêm, không cho ngủ, nếu ngủ gật là chúng đánh, nhằm làm cho ông căng thẳng tinh thần đến không chịu nổi. Ông bảo, nó muốn thế thì mình phải trụ vững. Cơm tù chỉ có một đĩa nhỏ, chúng còn trộn muối sống vào, thì ông lựa từng hạt cơm để ăn có sức mà tranh đấu. Hơn nữa, “đôi mắt trong veo của cậu con trai đầu lòng nhìn tôi lúc chia tay thường hiện về, góp phần động viên tôi đủ nghị lực không sa ngã trước quân thù. Chỉ vì một lẽ đơn giản đến khó tin là, tôi sợ mình không dám nhìn vào đôi mắt đó khi gặp lại, nếu không giữ được khí tiết cách mạng”.

Người thầy của những nhà tình báo anh hùng

Với vai trò một “kiến trúc sư” của một mạng lưới tình báo, ông Mười Hương là người có tầm nhìn sâu sắc, toàn diện và tinh tế về thế mạnh, khả năng làm tình báo và phẩm chất của từng người. Trước khi vào Nam, qua sự giới thiệu của ông Nghĩa, Bí thư tỉnh Thái Bình, ông Mười Hương đã xây dựng ông Vũ Ngọc Nhạ làm cơ sở. Đây là nước cờ quan trọng cho một kế hoạch dài hơi mà ông tính đến, xứng danh một nhà tình báo chiến lược.

Nhận nhiệm vụ trong Ban Địch tình Xứ ủy, với vỏ bọc là giáo viên dạy tư tại Sài Gòn, ông Mười Hương đã móc nối thành công với điệp viên Vũ Ngọc Nhạ để triển khai tiếp kế hoạch đã vạch. Thực hiện chỉ đạo của ông Mười Hương, ông Vũ Ngọc Nhạ đã chiếm được lòng tin của Giám mục  Từ – Giám mục giáo xứ Phát Diệm, trở thành người đại diện trong quan hệ với chính quyền họ Ngô rồi gây được ảnh hưởng trong gia đình Diệm, tạo nên những chiến công lừng lẫy trước khi bước vào tiểu thuyết “Ông cố vấn” nổi tiếng của nhà văn .

Với điệp viên xuất sắc Thúy (Đại tá, Anh hùng LLVTND, nguyên mẫu của nhân vật Lê trong “Điệp viên giữa sa mạc lửa” của Nhị Hồ), ông Mười Hương khai thác triệt để sự thông minh lanh lợi, sự hiểu biết cũng như các mối quan hệ của Thúy với các nhân vật chóp bu trong chính quyền Diệm, tạo nên vỏ bọc vững chãi cho điệp viên này chui sâu vào hàng ngũ của địch, phục vụ các yêu cầu của cách mạng.

Khi đã chiếm trọn lòng tin của Tổng trưởng Nội vụ Huỳnh Văn Nhiệm, rồi chinh phục cả Bảy Viễn – thủ lĩnh Bình Xuyên lẫn Năm Lửa – tướng của Hòa Hảo, Thúy đã thành công trong việc khơi sâu mâu thuẫn giữa các tổ chức giáo phái với chính quyền họ Ngô, buộc Diệm phải mất rất nhiều thời gian cùng binh lực để ổn định tình hình, tạo thời cơ cho cách mạng miền Nam có thêm thời gian và điều kiện xây dựng, củng cố lực lượng.

Với từng đường đi nước bước của chiến lược gia Mười Hương, điệp viên Phạm Ngọc Thảo đã tiếp cận và bằng tài năng cá nhân, nhanh chóng được Diệm đặc biệt tin cẩn và trọng dụng, rồi leo cao trong chính quyền ngụy. Năm 1965, Phạm Ngọc Thảo đã tiến hành đảo chính định lật đổ Nguyễn Khánh nhưng việc không thành nên bị địch sát hại.

Nhìn thấy khả năng thiên phú của ông Phạm Xuân Ẩn, từ rất sớm, Mười Hương cùng ông Mai Chí Thọ quyết định đưa Phạm Xuân Ẩn sang Mỹ học nghề báo để về nước phục vụ cách mạng. Kế hoạch được thực hiện trọn vẹn khi với vỏ bọc này, nhà tình báo tài ba Phạm Xuân Ẩn đã có cơ hội diện kiến nhiều nhân vật quan trọng của cả Mỹ lẫn ngụy, để khai thác và chuyển về hậu cứ những thông tin có giá trị về các chiến lược đặc biệt của kẻ thù, giúp quân ta có kế hoạch đối phó và đập tan mọi âm mưu của địch và vững bước đến thắng lợi trọn vẹn.

Chiến công rất lớn của người thầy tình báo Mười Hương còn là, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông đã chỉ huy mạng lưới tình báo góp phần giải phóng Sài Gòn gần như nguyên vẹn, đỡ tốn xương máu.

Ông kể: “Lúc còn sống, đồng chí Lê Đức Thọ và một cán bộ tình báo đã gặp Dương Văn Minh để hỏi thẳng rằng, điều gì làm cho ông tuyên bố án binh bất động trong ngày 30/4/1975, thì Dương Văn Minh nêu nhiều lý do, trong đó cùng với lực lượng quân đội còn có sự tác động của một số nhóm thuộc lực lượng an ninh của ta”.

Thế nhưng, nhắc về những chiến công lẫy lừng ấy, “kiến trúc sư” Mười Hương giản dị: “Thành tích mà các anh ấy có được, là do sự lãnh đạo của Trung ương và các lực lượng cách mạng, do tài năng và lòng quả cảm của chính các anh đó, còn tôi chỉ là người được giao chắp nối các đầu mối. Hoạt động tình báo như diễn kịch và các nhà tình báo trên đã thực hiện xuất sắc vai diễn của mình”.

Phía sau hào quang

Không thể nói hết sự lớn lao trong những chiến công mà ông Mười Hương và đồng đội đã lập lên cho nền độc lập của dân tộc. Nhưng mấy ai biết rằng, phía sau vầng hào quang chói lòa ấy, là bao mất mát, hy sinh, thầm lặng nhưng dai dẳng, để đến hôm nay, nhắc lại thôi cũng đủ làm ông đau lòng.

Ngày ông vào Nam hoạt động, cả 2 đứa con còn nhỏ xíu. Vì yêu cầu bí mật, cuộc chia tay không hẹn ngày về của ông chỉ có vòng tay bịn rịn và cặp mắt trong veo, nhòe ướt của cậu con trai nhỏ. 10 năm không tin tức, vì nguyên tắc hoạt động và mất tới 6 năm ông ở trong tù. Trở ra Bắc, đứa con gái nhỏ lẫm chẫm bò lúc ông đi, chạy vuột khỏi tay cha: “Bà ngoại ơi, có ông nào đến nhận là bố con!”. Nhưng đau đớn nhất là ông phải đối diện với sự tan vỡ của cuộc sống tình cảm vợ chồng.

Lại thêm gần 10 năm nữa vào Nam hoạt động. Dằng dặc gần 2 thập niên ấy, các con ông tiếng là có cha nhưng rất ít khi được gặp chứ nói gì được ông chăm sóc. Nhưng cùng với các con, ông cũng chịu nhiều mất mát. Ngày đất nước thống nhất, mọi người hân hoan đoàn tụ, còn ông, nỗi cô đơn thấm tận đáy lòng. Ông không dám trách ai, bởi biết rằng, vì nhiệm vụ cao cả, ông đã không thể làm tròn vai trò của người chồng, người cha trong gia đình.

Cả cuộc đời ông cứ lặng lẽ hy sinh cho đất nước. Mãi gần 10 năm sau ngày giải phóng, đã ở tuổi 60, ông mới lại có được hạnh phúc muộn mằn.

  Thanh Hằng

(Văn bản 2)

Chúc thọ đồng chí Trần Quốc Hương   Thứ ba, 22/12/2009 07:17

http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=681&id=43058

(CATP) Nhân kỷ niệm lần thứ 88 ngày sinh đồng chí Trần Quốc Hương, còn gọi là Mười Hương – Ủy viên Trung ương từ khóa IV đến khóa VI, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương, bậc thầy của các nhà tình báo xuất sắc Việt Nam, ngày 20-12-2009, đại diện Ban giám đốc CATP, đại tá Lê Đông Phong – Phó giám đốc CATP – đã dẫn đầu đoàn đại biểu đến thăm và chúc thọ đồng chí Mười Hương tại nhà riêng.

Tên thật là Trần Lục Ban, quê quán tỉnh Hà Nam, đồng chí Mười Hương tham gia cách mạng từ năm 13 tuổi. Nhờ sự giác ngộ của người thầy Nguyễn Đức Sáu, sau là Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, rồi Thứ trưởng Bộ Văn hóa, đồng chí Mười Hương đã được gặp gỡ các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Đình Tuất… và sau đó được gặp Bác Hồ. Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông xảy ra nhiều biến cố khi nhiều lần bị địch bắt giữ, dụ dỗ và tra tấn. Với vai trò là “kiến trúc sư” tài ba của mạng lưới tình báo, đồng chí Mười Hương đã đào tạo được nhiều nhà tình báo nổi tiếng (trong đó có Phạm Xuân Ẩn) hoạt động sâu trong lòng địch, góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc.
Đón nhận những lời chúc sức khỏe và thăm hỏi ân cần từ đại tá Lê Đông Phong, đồng chí Mười Hương đã chân thành cám ơn sự quan tâm sâu sắc đó. Mặc dù tuổi cao nhưng đồng chí Mười Hương vẫn còn dành cho Báo CATP những lời nhận xét chân tình. Ông cho rằng trong những năm qua, Báo CATP đã thực hiện tốt công việc, phương hướng đã đề ra, ông hy vọng Báo CATP mãi mãi là tờ báo tiên phong của ngành công an trong công tác tuyên truyền, nhất là lĩnh vực ANTT.

(Văn bản 3)

Mười Hương – Một huyền thoại của Tình báo Việt Nam

http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:Tr%E1%BA%A7n_Qu%E1%BB%91c_H%C6%B0%C6%A1ng

http://m.vilaw.vn/Case/Details/1588?catecode=HSM01&name=muoi-huong-mot-huyen-thoai-cua-tinh-bao-viet-nam

Đến với cách mạng

Trần Ngọc Ban (tên thật của nhà tình báo Mười Hương) …Thầy dạy của Ban chính là đồng chí Nguyễn Đức Quí, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam (sau trở thành Thứ trưởng Bộ Văn hoá). Chính ông đã giác ngộ Trần Ngọc Ban và đưa cậu đến với Cách mạng. … Học được hơn hai năm, đến năm 1941 thì Mười Hương bị bắt về tội treo cờ Cộng sản và rải truyền đơn kêu gọi ủng hộ Hồng quân Liên Xô. Cũng bị bắt trong vụ đó còn có các ông Nguyễn Thọ Trân (chú của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười) và Lê Toàn Thư (khi đó là thư ký của đồng chí Trường Chinh). Mười Hương bị tống giam vào Hoả Lò hơn một năm, sau đó bị đem ra xét xử tại toà án binh của Pháp. Do chưa đến tuổi thành niên, mặt , anh trai ông là một nhà thầu khoán có quan hệ rộng đã bỏ tiền lo lót cho em. Mười Hương được thả tự do, nhưng Essyeu, một thủ hạ thân tín của Chánh mật thám Bắc Kỳ Lanecque đã ngay lập tức phủ đầu người anh trai ông: “Chúng tôi buộc phải thả thằng bé nhưng ông phải có trách nhiệm quản lý. Đừng thấy nó nhỏ tuổi mà coi thường, Cộng sản đã ăn vào máu của nó rồi”. Mười Hương được phóng thích có mang theo một lá thư của chi bộ trong tù giới thiệu anh với Ban thường vụ Trung ương (T.Ư). Vừa ra khỏi Hoả Lò vài hôm, đầu vẫn còn bị cạo trọc, anh đã tìm về quê ông Nguyễn Thọ Trân để chuyển bức thư nói trên, tuy nhiên, không thấy hồi âm gì. Sau khi ra tù được một tháng, Mười Hương đột ngột bỏ nhà ra đi. Mật thám xộc đến hỏi thì gia đình nói không biết đi đâu. Mười Hương lên Hà Nội, tìm gặp bạn bè cũ trong phong trào Hướng đạo và Hội truyền bá quốc ngữ, cố gắng bắt liên lạc với tổ chức. Ông may mắn gặp Vũ Quí và được đưa đi gặp ông Miện (tức đồng chí Lê Quang Đạo). Mười Hương được sắp xếp cho đi học một lớp chính sách mới tại bắc Bắc Ninh, sau đó ông được cử về công tác tại Ban cán sự Phúc Yên. Ở trên đó một thời gian thì đồng chí Trường Chinh rút Mười Hương về ATK (một vùng giáp ranh). …Trong đội ngũ lính lê dương của Pháp có một chi bộ Cộng sản của những người thuộc đảng Xã hội do một người Đức tên là Frey làm đại diện. Mười Hương đã tiếp cận được với Frey và khai thác được khá nhiều tin tức hữu ích. Sau trận Xtalingrat, quân đội phát xít Đức bị đánh tan tác, Hồng quân Liên Xô bắt đầu chuyển sang phản công đè bẹp quân Đức trên khắp các mặt trận, Frey đề nghị cho gặp cấp trên của Mười Hương để trao đổi tình hình. Anh về báo cáo, xin ý kiến đồng chí Trường Chinh. Sau khi nhận định tình hình, cân nhắc kỹ và lường trước mọi khả năng có thể xảy ra, đồng chí Trường Chinh nhận lời và giao cho Mười Hương bố trí cuộc gặp. Mười Hương suy đi tính lại hết sức thận trọng, cuối cùng quyết định chọn khu làng mộ họ Phạm ở làng Vẽ thuộc ngoại thành Hà Nội làm địa điểm hẹn gặp. Nơi này khá kín đáo, vắng vẻ mà cũng dễ rút khi có động. Đúng hẹn, Frey từ chỗ đóng quân trên Việt Trì về Hà Nội. Anh ra trút bỏ bộ đồ nhà binh, ăn mặc như một viên cai lục lộ để khỏi gây nghi ngờ, rồi thong thả đạp xe theo Mười Hương đến khu mộ nằm chơ vơ giữa đồng. Đồng chí Trường Chinh đóng giả làm một người dân trong làng ngồi nghỉ chân đã chờ sẵn tại đó. Frey và đồng chí Trường Chinh nói chuyện với nhau rất lâu. Cuộc gặp đầu tiên đã diễn ra trót lọt.

Frey về thông báo lại kết quả cuộc gặp giữa anh ta và đại diện Việt Minh với nhóm những người Xã hội Pháp, trong đó có Caput, Chánh thanh tra học chính Bắc Kỳ, vốn là Bí thư đảng Xã hội Pháp tại Đông Dương. Nhóm này lại cử Frey xin được cho vài đại diện của nhóm gặp đồng chí Trường Chinh để bàn về việc tiến tới thành lập mặt trận chung chống phát xít. Phải chăng mật thám Pháp đã đánh hơi thấy nên giở trò và đây là một cái bẫy? Sau khi hội ý với Ban thường vụ T.Ư, đồng chí Trường Chinh cho rằng sớm hay muộn bọn Nhật sẽ hất Pháp để độc chiếm Đông Dương, những người Pháp ở thuộc địa đang rất bối rối, hoang mang nên sẽ không dám làm căng như trước và có lẽ họ thành thực muốn hợp tác với ta. Tuy cuộc gặp này có phần mạo hiểm nhưng nếu không đi sẽ bỏ lỡ một cơ hội tốt, nên đồng chí đã nhận lời và giao cho Mười Hương lập kế hoạch chuẩn bị. Mười Hương nói: “Xin anh cứ tin tưởng ở tôi. Để giữ bí mật, việc này chỉ nên anh và tôi biết thôi. Tôi sẽ sắp đặt chu đáo rồi báo lại ngày giờ cụ thể”. Thoạt đầu, phía Pháp đề nghị địa điểm gặp tại Bệnh viện Lanessan rồi ở phòng thí nghiệm của Trường Y nhưng Mười Hương thấy thế quá nguy hiểm. Với một số người đông như vậy mà kéo nhau ra ngoại thành hoặc đi thuyền dọc sông Hồng sẽ khó tránh khỏi bị nghi ngờ. Bàn qua tính lại, rốt cuộc nhóm người Pháp đề nghị chọn một nhà thổ nằm trên phố De Lorme (nay là đường Trần Bình Trọng) làm điểm hẹn. Mười Hương thấy phương án này có thể chấp nhận được. Chốn ăn chơi nọ sát nách Sở Mật thám, lại gần trại lính Nhật, tuởng như phiêu lưu nhưng lại rất bất ngờ và an toàn. Anh bèn báo cáo đồng chí Trường Chinh và được bật đèn xanh. Mười Hương chủ động sắp đặt mọi việc, cho mấy em thiếu nhi giả chăn trâu trên đê Yên Phụ, ngã ba Nhật Tảo nhằm quan sát, nắm kỹ tình hình, nghe ngóng mọi động tĩnh. Mặt , ông liên hệ với Phan Hiền, hồi đó đang là sinh viên Trường Luật, nhà ở Hàng Ngang, tạo điều kiện giúp đỡ. Buổi chiều ngày hẹn, Mười Hương đạp xe lên Phú Xá đón đồng chí Trường Chinh, người thủ vai một lái bè từ Việt Trì về. Mười Hương đưa đồng chí Trường Chinh về nhà cô em gái lấy chồng ở Bến Nứa, đợi trời tối, cả hai mới tới nhà Phan Hiền. Sau khi quan sát kỹ không thấy cái đuôi nào bám theo, họ đến phố De Lorme, đi thẳng lên gác. Tại đây, năm người Pháp gồm Frey, Borchers, Seyberlych, Caput và Thiếu tá Mordant, chỉ huy quân đọi Pháp ở Bắc Kỳ đã chực sẵn. Vừa nhìn thấy đồng chí Trường Chinh, Caput thốt lên: “Té ra Việt Minh cũng là toa à?”. Trường Chinh đáp: “Đúng bởi vì Cộng sản cũng là một thành phần trong mặt trận Việt Minh. Tôi được cử làm đại diện cho mặt trận, ông Phan Hiền đây đại diện cho trí thức, ông Hương đại diện thanh niên”. Đồng chí Trường Chinh đi thẳng vào vấn đề, ông nêu nguyện vọng lớn nhất và bức xúc nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam trong lúc này là giành được độc lập. Ông nhận định sự thất bại không thể tránh khỏi của phát xít Đức và khả năng Nhật sẽ ra tay gạt Pháp, thâu tóm Đông Dương. Nếu muốn bảo vệ những quyền lợi của mình, người Pháp không còn cách nào tốt hơn là hợp tác với Việt Minh cùng chống Nhật. Sự hợp tác này phải được thể hiện qua 3 việc cụ thể: sử dụng bộ máy chính quyền tại địa phương vẫn còn nằm trong tay Pháp nhằm hạn chế việc thu thóc của Nhật; thả chính trị phạm đang bị Pháp giam gĩư; Việt Minh đã phát động phong trào du kích kháng Nhật, phải chỉ thị cho các lực lượng Pháp cộng tác với họ, trang bị vũ khí cho họ. Caput thay mặt nhóm những người thuộc phái De Gaulle ở Đông Dương hoan nghênh mặt trận Việt Minh đã đứng về phía Đồng minh chống phát xít. Nhưng ông ta khuyên các nhà lãnh đạo Việt Minh nên suy xét kỹ tuyên bố Brazaville của De Gaulle hứa Pháp sẽ trao quyền tự trị rộng rãi cho những nước thuộc địa, sau một thời gian sẽ tiến tới độc lập hoàn toàn. Theo Caput thì Việt Nam nên đi theo con đường này và tốt nhất là tìm một nước mạnh đỡ đầu. Tuy nhiên, đồng chí Trường Chinh không tán đồng phương án nêu trên và yêu cầu: “Các ông phải thừa nhận ngay nền độc lập của chúng tôi”. Cuộc gặp kéo dài suốt đêm hôm ấy và cả ngày hôm sau, những người tham dự chỉ ăn bánh mì và hoa quả mang theo, không ai được phép rời khỏi nơi họp. Đến cuối buổi chiều ngày hôm sau, thời gian đã hết mà hai bên vẫn không thống nhất được quan điểm song đã hiểu nhau hơn. Mười Hương chở đồng chí Trường Chinh ra hồ Halais, tới đây ông lên một chiếc xích lô rẽ sang phố và hẹn gặp lại Mười Hương tại ATK. Tuy cuộc gặp không đem lại kết quả cụ thể nào nhưng qua đây có thể nhận định rõ hơn bối cảnh ở Đông Dương và tâm trạng của những kẻ chiếm đóng từ đó có thể góp phần điều chỉnh những bước đi của cách mạng cho phù hợp. Rõ ràng những ý kiến sắc sảo của đồng chí Trường Chinh đã tác động mạnh đến tâm tư của những người Pháp tham dự cuộc gặp. Sau này Frey và Borchers đã rời bỏ hàng ngũ, đi theo những người Việt Nam kháng chiến chống Pháp, Borchers lấy tên Việt là Chiến Sĩ, còn Frey trở thành đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam Nguyễn Dân. Sau khi Hà Nội vừa giành chính quyền thành công, đồng chí Nguyễn Lương Bằng giao cho ông việc tổ chức ra báo Cờ giải phóng của Đảng. Lúc bấy giờ chính quyền vừa về tay nhân dân, ngân khố Nhà nước thực thu hầu như trống rỗng nên không có kinh phí để in báo. Mười Hương chạy ngược chay xuôi lo tìm người đưa vào Ban biên tập, mua giấy, thuê nhà in… tất thảy đều phải dựa vào quần chúng, rốt cuộc Cờ giải phóng cũng ra đời phục vụ kịp thời mục đích chính trị của Cách mạng trong thời điểm ấy. Mười Hương là một trong những người đóng góp tích cực trong thành công của buổi lễ Tuyên ngôn độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ông nhớ lại: “Ông Trường Chinh cho gọi tôi lên, bảo: ”Cần phải tổ chức một cuộc mittinh lớn để Chính phủ ra mắt quốc dân đồng bào. Chú có cáng đáng được không?”. Có bao giờ ông ấy giao nhiệm vụ mà tôi từ chối đâu. Tôi biết ông Nguyễn Hữu Đang là người rất có khả năng lo việc này nên tôi giới thiệu ông ấy với hai ông Xuân Thuỷ và Trần Huy Liệu. Sau khi mọi việc đã chuẩn bị tươm tất, tôi phụ trách vấn đề an ninh bảo vệ buổi lễ hôm ấy mới
cho xe đến Bắc Bộ Phủ đón Bác Hồ. Chính vì việc ấy mà tôi được Bác dạy cho một bài học nhớ đời. Cũng chỉ do mình đã có kinh nghiệm đưa đón nguyên thủ bao giờ đâu, xem phim ảnh thất nước ngoài làm thế nào thì bắt chước thôi. Vừa thấy trên xe có mấy anh mặc binh phục, bồng súng trông rất oách, Bác quay sang hỏi tôi: “Chú làm gì thế? Đi ra bảo các chú ấy xuống hết đi. Để xe tôi đi một mình là được rồi”. Tôi ra bảo họ xuống nhưng bụng vẫn lo ngay ngáy, nhỡ xảy ra chuyện gì với Bác thì ai chịu trách nhiệm đây. Hồi đó tôi kiêm cả chức Chủ tịch Hội Công nhân cứu quốc và phải dựa vào lực lượng này để làm công tác bảo vệ. Tôi vội bảo mấy anh đứng gần đó lấy xe đạp đạp theo đề phòng bất trắc, cũng may là không có sự cố nào. Xong việc, tôi hỏi Bác đánh giá thế nào về buổi lễ. Bác trả lời: “Tôi không ngờ lại đông đến như vậy. Sở dĩ thành công là do khí thế của quần chúng, chứ không phải vì mấy khẩu súng của chú đâu, diễu võ giương oai chỉ làm cho người ta sợ và ghét mình thôi”.

Nhà tình báo và những chiến công

Kháng chiến bùng nổ, T.Ư lập G.L.A (Giao thông-Liên lạc-An toàn khu), đảm trách khâu , duy trì thông tin liên lạc từ T.Ư đi các chiến khu. Mười Hương về công tác tại bộ phận này từ năm 1946 đến 1948. Năm 1949, cuộc đời ông rẽ sang một bước ngoặt mới, một sự thay đổi như người ta thường nói là nghề chọn người chứ không phải người chọn nghề. Trên thực tế, một số nhiệm vụ Mười Hương làm trước đó đã ít nhiều mang màu sắc tình báo nhưng ông không hề ý thức được khả năng thiên phú của mình trong lĩnh vực này và cũng chưa khi nào nghĩ rằng mình lại trở thành một nhân vật nhân viên tình báo. Mười Hương không ngờ rằng phần lớn cuộc đời ông lại gắn bó với trận tuyến thầm lặng đầy gian khổ, nguy hiểm mà những vinh nhục của những nhân vật liên quan người đời may mắn biết tới chỉ là một phần rất nhỏ của những gì đã thực sự diễn ra. Tình cờ một lần ông Trần Hiệu, Phó tổng giám đốc Nha Công an phụ trách tình báo gặp Mười Hương và lập tức nhận ra đây chính là người mà ông cần. Trần Hiệu bèn xin Mười Hương về với mình và được đồng chí Trường Chinh chấp thuận.

Sau một thời gian dài đi biệt phái, lăn lộn dưới các địa phương, Mười Hương nhận được một bức điện của T.Ư với nội dung: “Về ngay Văn phòng T.Ư”. Khi đó quân đội viễn chinh Pháp đã bị đánh quị tại trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève mang lại hoà bình cho Đông Dương sắp được ký kết. Ông vội vã thu xếp công việc, lên đường trở về chiến khu Việt Bắc. Về tới Phủ Lý thì ông gặp người bạn vong niên hết sức thân thiết là ông Bùi Lâm. Hai người tay bắt mặt mừng, Bùi Lâm cho ông biết ý định của cấp trên cử ông vào Nam. Đây là nhiệm vụ nặng nề, phải am hiểu Sài Gòn và miền Nam cũng như con người trong đó mới mong trụ lại được trong tình hình Mỹ đã rắp tâm nhảy vào cuộc. Mười Hương nghe lời khuyên của Bùi Lâm, tức tốc qua nhà một đêm. Từ khi trưởng thành, ông đi cứ biền biệt, ít được ở bên mẹ. Thấy con trở về, bà mừng mừng tủi tủi, lặng lẽ đi nấu cơm cho ông ăn. Đêm ấy, Mười Hương ngủ được một giấc tỉnh dậy thấy đã khuya lắm nhưng vẫn thấy mẹ ngồi bên giường dùng những ngón tay già nua vuốt ve sờ nắn khuôn mặt ông. Mười Hương khẽ nói: “Sao mẹ không ngủ đi. Mẹ có gì dặn con không?”. Bà thủ thỉ: “Bé thì con mẹ con cha, lớn thì con vua con chúa. Mẹ không giữ chân con đâu, mẹ chỉ xin con để lại thằng Quang Trung ở nhà cho mẹ nuôi thôi”. Rõ ràng bằng trực giác của người mẹ, bà cảm thấy con trai sắp phải xa nhà rất lâu, chưa biết lành dữ thế nào, tuy nhiên bà không nói ra. Mười Hương thấy cay cay sống mũi, Quang Trung là đứa con trai đầu lòng của ông, việc này ông cũng không thể tự quyết định được mà phải bàn với vợ. Sáng hôm sau, Mười Hương đành dứt áo ra đi. Người cha đưa tiễn và lẳng lặng giúi cho ông một tờ giấy bạc con công lại 5 đồng. Sau này, Mười Hương vô cùng biết ơn Bùi Lâm vì đó là lần cuối cùng ông được gặp mẹ. Lên tới Văn phòng T.Ư ở Đại Từ, Thái Nguyên, Mười Hương vỡ lẽ rằng Bùi Lâm nói đúng. Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của phong trào cách mạng miền Nam, đồng chí Lê Đức Thọ xin T.Ư biệt phái cho một cán bộ công tác địch hậu và người này phải có khả năng tranh thủ được giới trí thức tầng lớp trên. Xét thấy chỉ có Mười Hương phù hợp với nhiệm vụ này, đồng chí Trường Chinh xin ý kiến của Bộ Chính trị, Hồ Chủ tịch và nhận được sự đồng tình ủng hộ. Hai đồng chí Trường Chinh và Phạm Văn Đồng gặp, trao nhiệm vụ cụ thể cho Mười Hương. Đích thân Bác Hồ cũng dự cuộc họp quan trọng này. Đồng chí Trường Chinh nói: “Anh cứ suy nghĩ kỹ đi rồi hãy nhận lời”. Nhưng Mười Hương quả quyết trả lời ngay: “Tôi sẽ vào Nam. Xin Bác và các anh cứ yên tâm là tôi sẽ không phụ sự tin cậy của T.Ư đâu”. Mười Hương gấp rút về sửa soạn chờ ngày lên đường. Ông ở nhà mấy hôm với vợ cùng cô con gái út và không khỏi suy nghĩ nhiều về trách nhiệm người chồng, người cha. Ông không thể tiết lộ công việc của mình dù ngay cả với những người thân yêu nhất. Ông chỉ nói với người vợ rất đỗi yêu quí rằng mình sắp đi công tác xa một thời gian. Khi phổ biến nhiệm vụ, đồng chí Phạm Văn Đồng nói: “Anh chỉ đi 6 tháng thôi”. Nhưng Mười Hương không ngờ phải mất cả chục năm trời ông mới có điều kiện trở ra miền Bắc.

Tháng 9-1954, Hiệp định Genève vừa được ký kết thì cũng là lúc Mười Hương lên đường. Một chiếc máy bay quân sự của Pháp cất cánh từ sân bay Gia lâm đưa đồng chí Lê Đức Thọ vào Nam, trong số những cán bộ đi cùng đoàn có Mười Hương… Vừa chân ướt chân ráo vào đến nơi, đang lo lạ nước lạ cái, Mười Hương gặp ngay ông Phan Trọng Tuệ, Tư lệnh Quân khu 9, từng là bạn tù với nhau trước kia. Ngoài ra, Xứ uỷ Nam Kỳ, ông Lê Toàn Thư cũng tỏ ra tâm đầu ý hợp với Mười Hương khiến ông vững dạ. Ông bắt đầu vào việc ngay với hai ông Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm. Công việc đầu tiên là mở lớp huấn luyện tình báo, học viên chủ yếu tuyển lựa trong lực lượng Công an. Thấm thoắt 6 tháng đã trôi qua, khoá huấn luyện đã kết thúc và cũng đến lúc Mười Hương phải quay ra Bắc. Nhưng đồng chí Lê Đức Thọ nói: “Xứ uỷ xin anh ở lại, anh tính sao?”. Mười Hương trả lời: “Nếu T.W đồng ý thì tôi sẽ ở lại”. Vấn đề được trên chấp thuận, Mười Hương được phân công vào Ban Địch tình Xứ uỷ, tiếp tục mở các lớp huấn luyện nghiệp vụ tình báo góp phần phục vụ cho yêu cầu của phong trào cách mạng. Sau khi đã ổn định chỗ đứng trong vai một giáo viên dạy tư tại Sài Gòn, Mười Hương tìm cách bắt liên lạc với Vũ Ngọc Nhạ, người mà ông đã gây dựng từ trước khi vào Nam. Sau khi ký kết Hiệp định Genève, làn sóng giáo dân di cư vào Nam bắt đầu, những đơn vị quân đội Pháp cũng lần lượt rút đi. Đây thực sự là cơ hội tốt để có thể cài người của ta vào bên kia giới tuyến. Vũ Ngọc Nhạ hồi đó đang là lính génie (công binh) trong quân đội Pháp, đồng thời cũng có chân trong Thị uỷ thị xã Thái Bình. Mười Hương đã qua ông Nghĩa, Bí thư tỉnh Thái Bình để gây dựng Vũ Ngọc Nhạ, ém mình chờ thời chuẩn bị cho những kế hoạch lâu dài. Mười Hương suy xét kỹ tình hình và thấy rằng, …. Mà chính quyền Diệm lại đầy mâu thuẫn. Chính vì thế mà tôi quyết định chuyển hướng hoạt động của Vũ Ngọc Nhạ sang lĩnh vực công giáo”. Theo gợi ý của ông, Vũ Ngọc Nhạ vốn là giáo dân đã khôn khéo chiếm được thiện cảm của Từ và trở thành người đại diện của vị giám mục này trong việc giao thiệp với chính quyền . Với vị thế sẵn có, Vũ Ngọc Nhạ dần dần gây được ảnh hưởng đối với anh em Diệm-Nhu, để rồi trở thành “Ông cố vấn” thân cận của chế độ gia đình trị của anh em nhà . Ông đã triệt để khai thác những mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Diệm, cũng như những mâu thuẫn giữa chính quyền với các phe phái , lập những chiến công xuất sắc mà chúng ta đã biết qua tác phẩm Ông cố vấn của nhà văn . Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Mười Hương còn có một chiến sĩ điệp báo xuất sắc Thuý (tức Lê ), hoạt động trong lưới tình báo H10-A22. Thuý là một minh chứng hùng hồn cho quan điểm về lợi dụng, khai thác mâu thuẫn trong lòng kẻ địch của nhà tình báo Mười Hương. Cũng là một trí thức gốc Bắc di cư vào, Thuý có một số bạn bè hiện đã nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền . Qua Huỳnh Văn Trọng, Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ Chính phủ , với vốn trí thức quảng bác và năng lực bẩm sinh của một chiến sĩ tình báo, Thuý đã giành được thiện cảm của Tổng trưởng Nội vụ Huỳnh Văn Nhiệm. Nhiệm tin cậy, cử Thuý làm “công cán uỷ viên” của Bộ Nội vụ liên lạc với các phe Bình Xuyên, Cao Đài, Hoà Hảo theo “chức phận” của mình, Thuý đã chiếm được lòng tin tuyệt đối của thủ lĩnh Bình Xuyên Bảy Viễn và tướng Hoà Hoả Năm Lửa. Vớ được một người thao lược, sâu sắc như Thuý, Năm Lửa mừng rơn như chết đuối vớ được cọc. Y tin và nể phục tài năng của Thuý đến mức phong ông làm cố vấn đặc biệt cho mình. …. Thuý đã “khích” cho các tổ chức Cao Đài, Bình Xuyên, Hoà Hảo, bất hoà với Diệm. Năm Lửa, Bảy Viễn đồng loạt rút khỏi chính phủ, thành lập “Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia” chống Diệm. …Tìm hiểu kỹ con người , Mười Hương đã khuyên Phạm Ngọc Thảo nên lợi dụng chiêu bài “tinh thần yêu nước và chính nghĩa quốc gia” của để tiếp cận . Quả nhiên bằng cách này, Phạm Ngọc Thảo đã chiếm được thiện cảm đặc biệt của Diệm. Diệm hết sức trọng dụng, cử Phạm Ngọc Thảo làm tỉnh trưởng Bến Tre với những đặc quyền trước nay chưa từng dành cho ai. Diệm tín nhiệm gửi ông ra nuớc ngoài học tập. Phạm Ngọc Thảo đã chui sâu, leo cao trong chính quyền nguỵ Sài Gòn. Ông đã tiến hành cuộc đảo chính tháng 2-1965 nhằm lật đổ Nguyễn Khánh nhưng bất thành, ông bị bắt và bị địch sát hại. Một thành công nữa của nhà tình báo Mười Hương là đã gây dựng được một điệp viên vô cùng lợi hại ngay trong Văn phòng đại diện của tuần báo Time tại Sài Gòn. Mười Hương nhớ rằng, năm 1946, Bác Hồ có nói với đồng chí Trường Chinh rằng, nhà báo là người rất có thế lực. Nhà báo có thể tiếp xúc với bất kỳ hạng người nào trong xã hội, kể cả gặp tổng thống cũng không phải việc khó khăn và nhờ đặc thù nghề nghiệp có thể nắm được rất nhiều thông tin. Hồi đó, Hai Trung (tên thật là Phạm Xuân Ẩn) đang làm thư ký trong một công sở. Ông rất thông minh, giỏi tiếng Anh và thường đi làm phiên dịch cho người Mỹ, rất được miền Nam quí mến, tin dùng. Ký ức về câu chuyện của Hồ Chủ tịch năm nào đã gợi cho Mười Hương một ý tưởng táo bạo. Ông đề nghị Hai Trung đi Mỹ học nghề báo để phục vụ yêu cầu của cách mạng. Trước khi Hai Trung lên đường sang Mỹ du học, Mười Hương dặn dò: “Cậu sang bên đó phải gắng tìm hiểu, nghiên cứu văn hoá Mỹ. Phải làm thế nào suy nghĩ cũng như một người Mỹ thì mới hiểu được họ”. Hai Trung đã ghi tâm khắc cốy nhiệm vụ người chỉ huy giao phó và ông thực hiện hoàn hảo kế hoạch mà Mười Hương đã vạch ra. Từ Mỹ trở về, Hai Trung vào làm việc cho Văn phòng đại diện của tuần báo Time ở Sài Gòn. Với vị thế hết sức thuận lợi, Hai Trung có cơ hội tiếp xúc với nhiều nhân vật thuộc giới chóp bu của cả Mỹ và nguỵ quyền. Chính ông là người nắm được và thông báo kịp thời cho T.Ư những chuyển hướng chiến lược quan tọng của Mỹ-nguỵ như chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hoá chiến tranh, để trên kịp thời điều chỉnh, giáng những đòn chí mạng, bẻ gãy mưu đồ thâm hiểm của chính quyền nguỵ và quan thầy Mỹ. Nhân dịp k
ỷ niệm 25 năm kết thúc cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, trong số báo đặc biệt ra ngày 1-5-2000 The fall of Saigon (Sài Gòn sụp đổ), nhìn lại những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh đã trở thành cơn ác mộng đối với nước Mỹ, Tuần báo Newswe đã dành gần một trang viết về điệp viên vô cùng lợi hại Phạm Xuân Ẩn, bên cạnh những nhân chứng của lịch sử như Tổng thống Mỹ Gerald Ford hay trùm CIA tại Việt Nam Frank Snepp.

(Văn bản 4)

Thảo luận:Trần Quốc Hương

http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:Tr%E1%BA%A7n_Qu%E1%BB%91c_H%C6%B0%C6%A1ng

…Trần Ngọc Ban (tên thật của nhà tình báo Mười Hương) sinh ra trong một gia đình có thế lực ở Phủ Lý, tỉnh Nam Định. Tiếng là tư sản, tuy nhiên cha ông, nhà thầu khoán Trần Ngọc Tân lại mang nhiều nét chất phác, cần kiệm của người nông dân Bắc Bộ. Cậu bé Trần Đức Ban được cha cho đi học chữ nho từ khi còn nhỏ. Thầy dạy của Ban chính là đồng chí Nguyễn Đức Quí, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam (sau trở thành Thứ trưởng Bộ Văn hoá). Chính ông đã giác ngộ Trần Ngọc Ban và đưa cậu đến với Cách mạng. Với cậu, Chủ nghĩa xã hội là một cái gì đó thật tuyệt vời, lung linh huyền ảo. Mới 14, 15 tuổi, Ban đã tích cực tham gia phong trào Thanh niên dân chủ. Học hết lớp nhất tại Trường tiểu học Phủ Lý, Trần Ngọc Ban chuyển lên Hà Nội nhập học ở trường dòng phố Nhà Chung. Thời gian này ông đổi tên là Hương (sau này khi vào Nam công tác, ông mới được gọi là Mười Hương), nhiệt tình tham gia phong trào Hướng đạo và Hội truyền bá quốc ngữ. Học được hơn hai năm, đến năm 1941 thì Mười Hương bị bắt về tội treo cờ Cộng sản và rải truyền đơn kêu gọi ủng hộ Hồng quân Liên Xô. Cũng bị bắt trong vụ đó còn có các ông Nguyễn Thọ Trân (chú của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười) và Lê Toàn Thư (khi đó là thư ký của đồng chí Trường Chinh). Mười Hương bị tống giam vào Hoả Lò hơn một năm, sau đó bị đem ra xét xử tại toà án binh của Pháp. Do chưa đến tuổi thành niên, mặt , anh trai ông là một nhà thầu khoán có quan hệ rộng đã bỏ tiền lo lót cho em…

(Văn bản 5)

Mười Hương – người thầy của ngành tình báo Việt Nam

Thứ năm, 23/12/2010

http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&id=209037

(CATP) Có lẽ ở tỉnh Hà Nam, ít người biết đến ông Mười Hương (tên thật là Trần Ngọc Ban) tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi. Khi xây dựng an toàn khu, lo chỗ ở và làm việc của Bác Hồ, ông được Bác đặt tên cho là Trần Quốc Hương. Phải chăng, Bác muốn tên của ông là sự hòa quyện giữa Tổ quốc với quê hương? Những năm tháng hoạt động ở miền Nam, ông được bà con gọi thân thương là Mười Hương. Cái tên ấy gắn liền với con người ông cho đến tận bây giờ.
Là con út trong một gia đình có năm anh em trai, ông và em út đi làm cách mạng, đều bí mật vào Nam làm công việc “mật”, nên cha mẹ phải chịu tiếng có hai con theo giặc. Tuy vậy, khi bị quy oan và trước khi qua đời năm , người cha vẫn tin con mình chỉ đi làm việc nghĩa.

Ngày 23-11-2010, tôi may mắn được gặp người học trò thân yêu của Bác, vị lão thành tiền bối của ngành tình báo Việt Nam.
Trong phòng h bên hồ Tây lộng gió, tôi đã được gặp vị lão tướng Mười Hương năm nay 88 tuổi đời, gần 70 năm tuổi Đảng (ông sinh năm 1923, hoạt động cách mạng năm 1937, kết nạp Đảng năm 1943). Cho đến hôm nay, ông vẫn chưa hề ngơi nghỉ, vẫn dẻo dai trong những lần ra Bắc vào Nam mỗi khi nhiệm vụ cần. Đã có thời gian ông trải qua cơn bạo bệnh, một tay buông thõng vào túi áo, một chân đi lết phải nhờ vào cây gậy và người cần vụ luôn ở liền kề, chỉ có “Trái tim nóng và cái đầu lạnh” là luôn còn . Nghe tôi thưa chuyện, có lúc cụ rưng rưng xúc động khi nói đến những tháng năm kháng chiến và nghĩ đến thành quả lớn lao của cách mạng Việt Nam.
Sinh ra ở cái rốn đồng chiêm trũng Bình Lục của Hà Nam, ông Mười Hương lớn lên trong lời ru ngọt n của mẹ với những cánh cò bay lả bay la. Được sự nghiêm khắc của người cha nho nhã muốn con trai học lấy đạo làm người, mười bốn tuổi, ông đã tham gia hoạt động bằng những việc làm cụ thể, vừa dạy chữ quốc gia vừa tuyên truyền cách mạng. Mười lăm tuổi, ông bị bắt ở Hà Nội và bị giam ở nhà tù Hỏa Lò vì đi treo cờ và rải truyền đơn chống thực dân Pháp. Trước tòa án binh Pháp, Trần Ngọc Ban (tên thật của ông) chưa đủ tuổi để kết án, nhưng người anh cả phải lo lót chạy cho em ra tù.
Ra khỏi nhà tù, ông lại bắt liên lạc để được hoạt động ngay, cho đến khi đi xây dựng an toàn khu, lo chỗ ở và làm việc của Bác Hồ, rồi làm thư ký riêng của bác Trường Chinh. Khi bắt đầu vào chiến dịch Điện Biên, Bác Hồ bảo với Quốc Hương: “Anh đừng đi chiến dịch mà về dưới tả ngạn, anh Đỗ Mười đang là bí thư dưới ấy. Tới đây Pháp thua sẽ rút vào Nam, nhất định chúng sẽ xây dựng bộ máy chính quyền trong ấy. Anh hãy tìm người của ta tạo vỏ bọc để đưa vào trong ấy ngay đi, rồi cài vào bộ máy chính quyền của chúng”. Nhận lệnh Bác, ông về Thái Bình chọn anh Vũ Ngọc Nhạ rồi cùng với ông Nghĩa (còn gọi Nghĩa đen) là Bí thư tỉnh Thái Bình, tổ chức cho gia đình anh Nhạ đi Nam với vỏ bọc là giáo dân theo Chúa.
Những ngày hoạt động trong Nam, ông mang vỏ bọc là anh giáo dạy tư, dạy kèm cho con quan chức học thêm. Suốt những tháng năm dài kháng chiến, lúc vào tù (bị Ngô Đình Cẩn bắt đưa từ Sài Gòn ra Huế), khi đấu trí trực diện với Ngô Đình Nhu, người thầy lớn của mạng lưới tình báo Việt Nam đã cùng đồng nghiệp đóng góp những chiến công thầm lặng cùng cả nước làm nên chiến thắng.
Gần chín mươi tuổi đời, hơn bảy mươi năm hoạt động không ngừng nghỉ, ở lĩnh vực nào ông cũng làm việc hết mình. Anh thư ký riêng của ông nói: “Ở con người ông nhất mực một điều, một việc dù nhỏ nhất mà có lợi cho Đảng ông cũng làm, ngược lại một việc dù nhỏ nhất mà có hại cho Đảng ông cũng không làm”.
Ghi nhận sự tận tâm tận lực của ông, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông Huân chương Sao vàng cao quý vào ngày 24-12-2006.
Nghĩ đến người cha phải chịu nhiều tai tiếng bởi có hai con trai “theo giặc vào Nam”, nay đều được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Sao vàng, ông tin cha mẹ sẽ ngậm cười nơi chín suối, bởi các con đã trả nghĩa cho cha bằng chính nghĩa tình với nước non.

CHU THỊ PHƯƠNG LAN

(Văn bản 6)

NHÀ TÌNH BÁO CHIẾN LƯỢC VIỆT CỘNG MƯỜI HƯƠNG BỊ BẮT NHƯ THẾ NÀO, VÌ SAO ĐƯỢC THẢ ?

http://vannghecuocsong.com/home/vi/news/Tin-tuc/Nha-tinh-bao-Tran-Quoc-Huong-386/

( Tư liệu từ phía bên kia… )

Đặng Văn Nhâm.

MƯỜI HƯƠNG LÀ AI ?

…Vậy, Mười Hương là ai đã khiến cho ông Trùm Mật Vụ cuả miền Nam phải nhức nhối khi nghe tin đã được tự do ?

Mười Hương tên thật là Trần Ngọc Ban, sinh quán ở Phủ Lý , Nam Định, con trai cuả nhà thầu khoán xây cất Trần Ngọc Tân. Thuở nhỏ Ban đã học cả chữ Nho và chữ quốc ngữ . Chữ Nho học với ông đồ Trần Đức Qùi ( sau làm thứ trưởng văn hoá cuả chánh phủ HCM). …

 …MƯỜI HƯƠNG ĐÃ BỊ VÂY BẮT NHƯ THẾ NÀO? TẠI SAO ĐƯỢC THẢ?

Như trên tôi đã kể , Mười Hương vào Nam khoảng tháng 9.54 cùng một chuyến bay với Lê Đức Thọ để hoạt động điệp báo chiến lược do chính Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Phạm Văn Đồng ủy thác. Nhưng chưa đầy bốn năm sau, khoảng tháng 6.1958, Mười Hương đã bị cơ quan Mật Vụ cuả BS Trần Kim Tuyến bố trí vây bắt được tại một điểm hẹn ở Gò Vấp.

Nên nhớ đưới thời đệ nhất CH, khả năng tiêu diệt cán bộ CS nằm vùng cuả cô quan Mật Vụ rất hiệu nghiệm. Một số cán bộ cao cấp, nếu không bị bắt,[ thí dụ như: các điệp viên Minh Văn, Hội, và điệp viên tên Hoàng, trưởng phòng tình báo khu V], hay bị chiêu hồi, ra đầu thú, [thí dụ như các tên Lâm, Đạt, phó bí thư Thưà Thiên, Thưởng , tiểu đoàn trưởng, và tên Thống, trưởng ban kinh tài khu V], thì cũng tìm mọi cách “chui thật sâu” để chờ đợi thời cô.

Trường hợp con cá bự Mười Hương bị sa lưới chính vì một đồng chí cuả ông ta đã bị cơ quan Mật Vụ Phủ Tổng Thống khống chế, rồi thả ra cho làm cò mồi để nhử bắt Mười Hương. Sơ lược cuộc bố trí vây bắt diễn tiến như sau:

Mười Hương đã được chánh trị bộ thả vào Nam làm gián điệp không bao lâu thì đảng và nhà nước lại bí mật tăng phái thêm một điệp viên có tầm vóc nưã, tên Tam ( dĩ nhiên chỉ là ngoại danh như hầu hết các điệp viên CS ), vào Nam, với nhiệm vụ phụ tá xứ ủy đặc trách ngành tình báo, để phối hợp hoạt động trong mạng lưới tình báo chiến lược do Mười Hương lãnh đạo. Nhưng không may cho Tam, khi mới xâm nhập vào tới Quảng Trị, đã bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung do Dương Văn Hiếu và Thái Đen chỉ huy, dưới hệ thống cuả sở Mật Vụ Phủ Tổng Thống, bắt được. Điệp viên Tam bị khai thác mạnh, chịu không nổi, nên đã cung khai hết sự thật và chấp nhận hồi chánh.

Cơ quan Mật Vụ phủ Tổng Thống liền xếp đặt một kế hoạch thật tinh vi, bí mật đem Tam vào Sài Gòn, rồi thả ra cho làm ” cò mồi” để nhử bắt các đồng chí cộng tác trong mạng lười gián điệp với đưông sự.

Sự bố trí cuả sở Mật Vụ khéo léo đến mức tất cả cán bộ cao cấp trong guồng máy gián điệp cuả CS ở miền Nam không một ai nghi ngờ gì về hành động cuả Tam. Riêng Mười Hương, là người phải phối hợp công tác chặt chẽ với Tam, sau nhiều lần gặp gỡ tại những điểm hẹn bí mật ở Phú Nhuận, với con mắt tinh ranh già dặn cuả một điệp viên thượng thặng cũng không phát hiện được một dấu hiệu phản bội nào trong các hành động, ngôn ngữ và cử chỉ cuả Tam. Vì thế, đến một cuộc hẹn bí mật quan trọng cuối cùng tại một cơ sở ở Gò Vấp, Mười Hương đã bất ngờ bị nhân viên Mật Vụ PTT vây bắt tại trận.

…Sau ngày 1.11.63, sau khi đã thủ tiêu hai anh em ông và truy lùng bắt giam những người đã cộng tác mật thiết với chế độ cũ, dù là đã có công rất lớn trong việc tiểu trừ CS, các tướng làm ” cách mạng” như: Minh, Khánh, Đôn, Xuân, Kim, Khiêm, Có, Thiệu , Kỳ v.v… còn tìm cách ” giải phóng ” luôn cho các cán bộ CS cao cấp nằm vùng ở miền Nam, trong số đó có Mười Hương.

Lúc bấy giờ các tướng lãnh Sài Gòn cho phép dùng một chuyến xe lưả đặc biệt chở hết các tù nhân CS đang bị giam giữ trong các nhà giam ở Huế, như: Thừa Phủ, Toà Khâm, Chín Hầm, Mang Cá v.v…về Sài Gòn. Một số đem giam ở Chí Hoà, một số giam ở Tổng Nha Cảnh Sát QG, để lấy lại lời khai. Trong trường hợp này các cán bộ CS đều được phép đảo cung. Dĩ nhiên, lẫn lộn trong số đó gồm cả thảy 22 cán bộ CS nằm vùng cao cấp nhất, Mười Hưông cũng được bố trí cho phép đảo cung và kêu oan. Mười Hương vẫn giữ nguyên danh tánh là Trần Ngọc Ban, nhưng thay đổi chút đỉnh về lý lịch, nhận là một giáo viên dạy tư, không hề biết gì về chánh trị, con cuả bà Lê Thị Nhiễm [một cán bộ cô sở cuả CS] có chồng đã chết cũng họ Trần. Trước Hội Đồng An Ninh QG, Mười Hương cực lực phủ nhận tội trạng, cho rằng đã bị Mật Vụ cuả chế độ bắt oan và dùng biện pháp tra tấn cực hình cưỡng bách nhận tội…

Chỉ cẩn đảo cung khơi khơi như thế là Mười Hương liền được các tướng ra lệnh trả tự do cho đưông sự và không quên dạy đưông sự bằng câu sáo rỗng phường tuồng:” sau khi về nhà rồi phải nhớ hết lòng ” phục vụ quốc gia” nghen!”

….

ĐẶNG VĂN NHÂM

Đã xem 19 lần

Ủng hộ nhóm Văn tuyển.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
2 Comments
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments