Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Xuyến Trịnh – Hồi Ức: Những Năm Tháng Tù Đày – 2.Hành trình ra Bắc

1 (2)Rồi buổi họp tổ cũng đã xong, mọi khúc mắc những ngày tháng tới được quyết định bởi tờ tự khai cuối cùng này. Chúng tôi được thảnh thơi, họ cho tổ chức những buổi đá banh giao hữu giữa trại một và trại ba cũng là dịp chúng tôi gặp gỡ bạn bè trao đổi tin tức có được từ bên ngoài.

Lúc này tiêu chuẩn ăn uống cắt giảm đã cảm thấy cái đói nó đang hành hạ cơ thể. Rong chơi vài tháng trời, có tin nhà bếp kiểm kê dụng cụ xoong, chảo và mọi thứ, doanh trại thì như trống dần bàn ghế, giường tủ, họ cho lập danh sánh tù nhân kèm lí lịch trích ngang nhiều lần, nghe đâu có tin sẽ chuyển trại. Thân nhân tù lấp ló ngoài hàng rào mong nhìn thấy người nhà, vệ binh xách súng xua đuổi cấm không cho người lai vãng gần hàng rào, tù nhân thì kiếm chỗ cao ra dấu và la vọng ra bên ngoài, vệ binh được tăng cường xua chúng tôi vào hết trong nhà. Có những buổi họp đội, họp lán thường xuyên hơn, quản giáo kiếm những sai phạm có cớ tập họp để nặng lời. Như Cô Tưởng làm ở TTQT/TV của Định Tường là tình nhân của Đỉnh là đại uý cũng làm ở đây, hai anh chị vào tù không được gần nhau, tuy phòng anh phòng em chỉ cách nhau vài xoài tay nên ước muốn có nhau thật da diết, anh chị như đánh morse hẹn nhau, buổi trưa thanh vắng, chị giả vờ vào phòng tắm rửa tô, chàng ngó chừng lẻn vào theo, họ cúi lén lút hôn nhau nơi bể chứa nước bị báo cáo, tối quản giáo tập họp xỉ vả là đồi trụy, mất văn hoá làm anh chị sượng cứng.

Tin đồn di chuyển đến gần, sáng hôm sau ngày 15 tháng 6 năm 1976, họ tập họp từng đội nghe đọc biên chế, ai có tên đứng ra một bên sau đó cho vào phòng lấy đồ ra ngoài tập họp đợi, Phú nó phụ tôi gom đồ, nói như nghẹn lời khuyên tôi ráng giữ sức khoẻ, thì thầm đ..m tụi nó độc hơn thịt trích. Chúng tôi được dẫn bộ ra ngoài hàng rào đưa lên xe, cấp tá được hốt đi hết, trong lúc đợi đoàn xe di chuyển, tôi nghe hai tên bộ đội khoác lác, nói nó bắn một trái B40 xuyên táo hạ hai máy bay lên thẳng, thiên lôi tin nổi không? Đoàn xe đưa chúng tôi sang Sa Đéc rồi đến Bắc Vàm Cống, rẽ đường Trực Chỉ Thất Sơn bên Châu Đốc, khoảng hơn ba giờ xe vào Trung tâm huấn luyện Chi Lăng cũ. Tôi gặp lại một số sĩ quan làm việc ở Kiến Tường, có cô trung uý Sáu phòng xã hội của tiểu khu, trung uý Nhất ty ANQĐ và một số thiếu uý thuộc đại đội giáo phái cũng có mặt tại đây. Đứng bên kia hàng rào, cô Sáu, trung uý Nhất vẫy tay chào hỏi thẩm quyền khỏe không, tôi mỉm cười vẫy chào đáp lại.

Tháng sáu nơi này khô cằn, tôi thấy hình hài họ xạm đen, đầy nắng. Chúng tôi được chỉ vào hai căn lều nhà binh lớn rộng, tôi và Liêm, cha Sanh gom nằm sát nhau, rảnh rỗi chúng tôi lôi những bao cát nhà binh bằng sợi, lấy từ bên Kiến Phong ra may áo, may nón rộng vành kiểu cao bồi Taxas thấy vui mắt, Liêm nó khéo tay cắt may trông đẹp. Mới sắp sửa chỗ ở chưa xong, chiều ngày thứ ba, họ cho ăn xong sớm, chừng hơn bốn giờ họ nói tất cả đem đồ đạc để kiểm tra, ra lệnh từng cây kim, từng vật dụng kim loại bén nhọn loại bỏ lại hết, ai còn cất dấu sẽ bị xử lý, có gì mà ngột ngạt dữ vậy? Khoảng gần bẩy giờ, công việc kiểm tra xong, họ cho lệnh ngồi tại chỗ thu gọn đồ đạc chờ. Đợi tối hẳn, từng đoàn xe đèn mắt mèo lù lù kéo đến, trước lúc lên xe họ dặn lần chót, mọi người lên ngồi yên tại chỗ không được vạch bạt xe ngó ra ngoài, lúc di chuyển ai nhảy trốn bị bắn bỏ, sắp đặt xong, các xe sập mui bít bùng, mỗi xe hai vệ binh áp tải, đằng đằng sát khí trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Đoàn xe rì rầm chầm chậm di chuyển, chúng tôi ngồi bó gối chẳng đoán được mình bị đưa đi đâu. Xe chạy đều đều không nhanh lắm, chạy được khoảng hơn ba giờ thì xe dừng lại, vệ binh nhảy xuống, tôi hé bạt xem là nơi đâu, trời tối thấy có những bóng đèn điện vàng vọt nhìn thấp thoáng, sao lại lờ mờ như có con sông dập dờn tuốt xa. Từng chiếc xe vào cho tù nhân xuống rồi đi ra cho chiếc sau tới, chúng tôi mang đồ nhảy xuống, tôi nhận ra đây là căn cứ Hải quân Bình Thuỷ cũ của Cần Thơ xung quanh vắng lặng tiêu điều. Dưới sông những chiếc tầu đen xạm như thủy quái đang cập vào cho tù nhân xuống, họ dồn 150 người chúng tôi xuống sàn tầu, loại tầu vận tải chở than, đồ tạp nhạp mới quyét dọn còn bụi bặm, loại tầu Sông Hương của miền Bắc.

Chúng tôi chen chúc nhau nằm chật cứng trên sàn tầu, cũng may lúc rời Mộc Hoá, tôi đem theo chiếc võng nylon, tôi móc tòng teng ở thành sườn tầu nên cũng đỡ vất vả. Trên mui tầu có nắp đậy vuông vắn cỡ hai mét mỗi chiều. Chúng tôi xuống bằng cầu thang di động xong họ rút thang lên, thòng xuống hai thùng thiếc cỡ hai mươi lít để tiểu và đại tiện, họ để trống cửa boong tầu cho khỏi chết ngạt. Tầu ra giữa sông chờ các tầu sắp xếp xong nhổ neo đi cùng, tầu rì rầm hú còi di chuyển, tôi băn khoăn họ có đem mình ra biển đổ làm mồi cho cá mập không? Thôi kệ phó thác vậy, cả ngày mệt mỏi tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Tiếng lao xao của các bạn làm tôi thức giấc, nhìn lên cửa hầm tầu thấy trời sáng nắng vuông vức, bên trên có vài thuỷ thủ hỏi vọng xuống, các anh ngủ được không, họ thòng dây xuống lấy hai thùng nước tiểu, họ chuyển xuống cho chúng tôi hai thùng nước nóng, các anh chia nhau để uống, họ cũng chuyển đồ ăn xuống nói phát cho mỗi người hai phần lương khô của Trung Quốc là khẩu phần ăn cho cả ngày. Họ thả lại cho chúng tôi hai thùng thiếc đựng nước tiểu để xử dụng, cách đi vệ sinh như vậy thật khó coi và ngượng ngập, ai làm phận sự thì các bạn ở gần phải quay mặt đi, và nén chịu xú khí. Tầu cứ rì rầm di chuyển, mấy người bạn HQ nói tầu đi theo hướng bắc đoán giờ đang ngoài khơi Phan Thiết. Bạn bè kháo nhau chắc đưa ra Khe Sanh phá mìn bẫy, khai hoang lập khu kinh tế. Tầu chạy cả đêm vẫn trực chỉ hướng bắc, nhìn sao các bạn HQ nói đã đi xa vùng biển Đà nẵng. Sáng ra họ thả dây kéo hai thùng nước tiểu làm vệ sinh, khổ nỗi hai thùng trong tình trạng quá tải, nước tiểu, phân hoà quyện sóng sánh, lúc kéo lên làm nhỉ rỏ văng tùm lum mấy bạn tù xô nhau né tránh gây ồn ào, có tiếng la ó vọng lên, đồ dã man, đồ dã man. Họ xúm nhau đứng nhìn xuống vô cảm. Khẩu phần ăn cũng được cũng cấp như hôm trước, tầu vẫn tiếp tục hải trình, lúc này thì các bạn HQ như ngắc ngư với sự tiên đoán, bởi lẽ tầu vẫn đi về phương bắc vào vùng biển lạ, họ như chưa biết tới cuộc hải trình như vậy. Sáng ra sau giờ lấy các thùng vệ sinh và phát thức ăn nước uống, trên cửa boong tầu thấy lố nhố, một người có lẽ là trưởng tầu, cầm ống nói xách tay khoe Quốc hội cả nước họp nhất trí Đất Nước ta đã thống nhất hiệp thương cả hai miền Nam Bắc, thu hồi non sông về một mối, các anh nên hồ hởi với ngày trọng đại của Dân Tộc. Nhìn xuống các anh thấy đấy chúng tôi như bầy súc vật, như đám nô lệ của thời Trung cổ đang được đưa đi khai phá thuộc địa, trong hoàn cảnh khốn cùng của con người còn lòng dạ nào mà hồ hởi như lời các anh chào mời.

Tầu lênh đênh một ngày nữa mới cập bến, tôi ngó đồng hồ 3h20 ngày 22 tháng 6 năm 1976. Họ đứng trên tầu nói vọng xuống ,các anh được hân hạnh đặt chân lên phần đất của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, nghe được tôi hết còn ý niệm có ngày về. Thang di động được thả xuống, chúng tôi lục tục lên bờ, tôi đứng trên boong tầu, họ cho biết đây là hải cảng Vinh. Tôi liếc nhìn quang cảnh tự hỏi đây là hải cảng sao, một cái tên vang danh ngày nào qua những cuộc oanh tạc của không lực Mỹ mà tôi đọc, nghe được trên các tuần báo và qua đài phát thanh của Mỹ về những trận oanh tạc dữ dội trên đất Bắc. Chúng tôi xuống xếp hàng cứ năm mươi người cạnh toa xe lửa, toa của chúng tôi sau cùng. Lúc xe lửa chưa chạy, tôi đứng nhìn quanh, nhà ga được lợp bằng tranh, quây che bằng cót đan bên cạnh bờ sông nước trong xanh. Đã ba bốn hôm chưa có giọt nước rửa ráy, tôi nhào đại ra bờ vụm tay vốc nước rửa mặt bị vệ binh lôi trở lại, họ sợ các toa làm theo khó kiểm soát. Có một chiếc giang thuyền thời Pháp cũ kỹ, hư hại nằm gác đầu lên ụ đá, xa xa có chiếc thuyền nan cũ đang chong chanh thả lưới, bến đò của chúng tôi ở Mộc Hoá còn tân kì và tấp nập hơn nhiều so với hải cảng Vinh, hải cảng vang danh Quốc Tế của XHCN miền Bắc.

         Chúng tôi bị lùa lên toa tầu, là toa chở súc vật và than đá, hai bên khoang tầu có những lỗ thông hơi chỉ to như chiếc quạt mo. Tôi ngồi gần chỗ cửa nơi nối liền toa xe, có vệ binh ngồi gác tạm đủ không khí hít thở, các bạn tôi bên trong ray rứt thiếu hụt dưỡng khí. Đợi tối hẳn tầu ục oặc chuyển bánh, chúng tôi ngồi gật gù, xóc qua xóc lại chỗ ngồi như được nhích ra. Xe chạy có gió lùa qua cửa chính nhưng như chưa đủ không khí cho năm mươi người trong một khoang hít thở, có tiếng ai đó kêu ngộp quá, vệ binh canh chừng biết làm gì hơn, đứng lên ngồi xuống chẳng giải quyết gì được. Xe lắc qua lắc lại, chúng tôi chập chờn ngủ gục lên gục xuống. Gần sáng xe qua cầu Hàm Rồng, cầu được Pháp thiết kế sâu trong hang núi, phi cơ Mỹ cố đánh bom phá hủy nhiều lần nhưng cầu vẫn còn nguyên, có lúc phải xử dụng tia laser hướng dẫn nhưng chỉ làm hư hại nhẹ. Sáng đã rõ, xe qua tỉnh Thanh Hoá đang tiến vào phần đất của tỉnh Ninh Bình, tôi bồi hồi xúc động ôn lại địa danh quê tôi, xe tới núi Non Nước là nơi tôi đã từng ở đây lúc anh tôi đi lính Pháp của khu tự trị Bùi Chu – Phát Diệm, và tôi cũng đã từng tắm mát dưới chân núi này. Xe qua cầu, tôi ngóng theo con đường chạy ngược lên Nho Quan, tôi thấy tháp nhà thờ làng Lãng Vân quê tôi đó, nơi tôi được sinh ra, còn mẹ tôi, còn các bác, các anh chị, họ hàng làng nước tôi đang ở đó, họ đâu biết tôi đang được di chuyển đến nơi nào đó trong hoàn cảnh tù đày biệt xứ. Tôi lấy cây viết và mảnh giấy ghi vội “Anh Bân, em đang được chuyển ra Bắc, anh nhắn cho mẹ em biết.” Tôi gấp tờ giấy bên ngoài ghi vội “Có ai lượm được xin chuyển về làng Lãng Vân hộ, xin cảm ơn.Đó cũng chính là một hình thức nhắn tin của chúng tôi với người dân ở trong Nam, họ lượm được đều hết lòng tìm mọi cách chuyển về cho gia đình những người tù với tấm lòng đầy nhân ái, chả biết ngoài Bắc họ có lòng nhân hậu vậy không. Xế trưa tầu di chuyển tới Hà Nội, tầu phải giảm tốc độ chạy chậm lại, tôi ngó thấy tên ga Kim Liên. Dân Hà Nội lem luốc, quần áo xốc xệc, nón cối dép dâu chả phân biệt được lính hay dân, họ xáp tới chửi rủa đ…m tụi Ngụy ăn bơ sữa của Đế Quốc thằng nào thằng ấy béo trắng ngồn ngộn, đánh bỏ mẹ chúng nó đi. Họ xáp tới bị công an áp tải xua đuổi, tôi nghe tiếng đá đốp đốp  ném mạnh chạm vào thùng xe, có cục lọt qua lỗ thông hơi lúc anh bạn chúng tôi đứng ngó, anh bị cục đá văng vào trán sưng tấy. Xe đi nhanh ra khỏi Hà Nội, Thủ Đô của thù hận, Thủ Đô mà trước đó một năm những người chủ của Đất Nước kêu gọi chúng tôi buông súng để hoà giải hoà hợp, chúng tôi đã cả tin, chúng tôi cũng đã chán ghét chiến tranh, tàn cuộc chiến chúng tôi mong có đời sống dân dã bình dị, nhưng vì là cuộc chiến phân chia ý thức hệ, chúng tôi buộc phải miễn cưỡng chấp nhận để mà kháng cự, chiến đấu để sinh tồn. Do hoàn cảnh oan khiên của lịch sử nên chúng tôi đã có mặt đi qua đây, để nhận bao nỗi thù hằn trút đổ lên đầu chúng tôi, họ luôn rêu rao ra rả là khoan hồng, là nhân đạo là độ lượng… Chúng tôi chả oán trách họ chỉ thấy tội nghiệp họ, từ trên xuống tới hàng thứ dân của miền Bắc họ tựa như những con ngựa, con lừa bị hai miếng da che hai bên mắt, có chiếc dây cương điều khiển họ làm. Họ bị nhồi sọ tư tưởng một chiều, họ diễn đạt y chang nhau, chỉ được biết, chỉ được nghe những điều hạn hẹp được phủ che bởi những lời dối trá từ những ông thánh tổ của CS, những “ông vua” lừa dối của họ.

Buổi tối chập choạng, chúng tôi xuống ga Yên Bái, cứ từng tốp hai người đi bộ xuống phà để được đưa qua sông. Dọc đường chúng tôi được soi bởi những ngọn đuốc bập bùng bằng nứa, cách quãng độ mười mét một ngọn, dân quân tay gậy, tay đòn gánh vót nhọn, nam nữ du kích đứng dọc hai bên lăm le tay súng canh chừng chỉ trỏ dứ dứ khẩu súng như muốn ăn tươi nuốt sống. Tôi rợn tóc gáy nghĩ tới hình ảnh vệ binh đỏ trong các tạp chí Life hay Time của Mỹ vào những năm 1966 hay 1967 trong cuộc Cách mạng Văn hoá dưới thời Mao Trạch Đông bên Tàu. Qua phà chúng tôi cứ từng toán hai lăm người lên xe molotova mui trần đưa đi, xe chạy đi lên dốc thoai thoải, có chỗ ngoằn nghèo xe như muốn chao đổ, đi xa một hồi lâu nữa, chúng tôi được lệnh xuống xe. Cán bộ trại, vệ binh cầm đèn dầu ra hướng dẫn chúng tôi vào nơi nghỉ tạm, nhà phủ bằng những tấm nylon trung quốc xanh lá cây, họ treo vài chiếc đèn dầu leo loét, nằm trên sạp bằng nứa đan thành phên, kê cao trên những cây rừng làm giường tập thể. Đồng hồ bây giờ là hơn một giờ khuya, chúng tôi nằm lăn ra ngủ sau những ngày di chuyển mệt nhọc thiếu ngủ, chả còn biết trời trăng là gì.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: