Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 6) Sau tết, rục rịch “biên chế” (danh từ Việt Cộng đấy), có nghĩa là sẽ có người được tha hay chuyển trại

1Một số sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy được chuyển đi. Sau nầy thì biết rằng họ đi Phước Long. Số người nầy, một vài năm sau, số đông được tha, một số chuyển trại, tiếp tục “học tập” trong trại tù của Công An.

Những người ở trại Phước Long không được tha sớm, sau nầy một số chuyển về trại Xuân Lộc (Long Khánh). Hôm họ chuyển vô trại, anh em chúng tôi bị nhốt sau hàng rào, đứng ngó ra, thấy Khả Năng mang xắc “ma-re” nặng. Chúng tôi mừng lắm, gọi tên anh rối rít, mặc dù chỉ biết anh, không quen biết gì!

Khi nghe tin chuyển trại, có người hy vọng được tha, Phan Hải cũng mong anh sẽ được về. Đến khi “không thấy gì hết”, không hy vọng về sớm, lại tự ái vì con “ông lớn Việt Cộng” mà không được về sớm, anh ấy bệnh liền tù tì mấy ngày, ai cũng ái ngại.

Hết bệnh, anh chàng “Hoảng nôm hay cãi” Phan Hải thẳng thắn nói: “Tui tưởng tui được về, nhưng chưa về.” Nói xong, anh ta lại nằm xuống, quay mặt vào tường. Không phải là mình, anh em cũng ngậm ngùi cho Phan Hải.

Ít lâu sau, tổ tôi nhận thêm 2 người, cũng cấp bậc đại úy (Tổ tôi hầu hết cấp bậc đại úy, ngoại trừ Phan Hải là trung úy). Hai người mới là đại úy Thành. Ông nầy “có công với cách mạng” vì hôm 30 tháng Tư, thiên hạ chạy cả. Ông là trưởng kho đạn ở Long Thành nên ở lại giữ kho đạn, không chịu “di tản”.

Bỏ kho đạn mà chạy, lỡ bọn du côn, du đảng, cướp bóc vào “chôm” lựu đạn, chất nổ thì nguy hiểm cho dân chúng lắm. Vì vậy, ông gồng mình canh kho một mình, cầm súng đi tới đi lui, chờ khi “bộ đội” vô tới nơi, bàn giao kho đạn cho họ xong ông mới ra về.

Việt Cộng cho rằng ông có “tinh thần cao” nên cấp cho một tờ giấy. Tin vào tờ giấy ấy, đại úy Thành hy vọng về sớm.

Người thứ hai là Hải quân Đại úy Tôn Thất Phú Sĩ, quê ở Hàng Đường, Huế. Vợ anh đang đi dạy, hiện sống ở gần cầu Trương Minh Giảng.

Tôn thất Phú Sĩ kể:

“Gần tới ngày “giải phóng” thằng em tui là Tôn Thất Mạnh Lương bỗng xuất hiện ở đơn vị tôi tại Cần Thơ, khuyến dụ tôi ra đầu hàng “cách mạng” để được khoan hồng. Tui đuổi nó: “Mày đi đi! Tao không nghe lời mày được, chắc nó giận tui lắm. Vậy nên bây giờ cũng khó về sớm.”

Sinh viên, học sinh Huế nhiều người biết Tôn Thất Mạnh Lương. Năm 1963, biểu tình chống Ngô Triều, anh ta và Thái Thị Kim Lan đang học lớp Đệ Nhứt, ở trường Quốc Học, tham gia đấu tranh tích cực lắm, bị Cảnh Sát Diệm Nhu bắt bỏ tù cả hai.

Khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, người ta coi anh như “người hùng”, khi đấu tranh cũng “dữ” mà vô tù cũng “dữ”. Ra tù, anh ta học đại học, nhưng có làm gì nữa không, tôi không rõ.

Sau cuộc chỉnh lý ngày 31 tháng 1 năm 1964, Trung tướng Thủ tướng Nguyễn Khánh cầm quyền. Đám đấu tranh cũng có người nhờ công trạng “đấu tranh” mà đời lên hương.

Mặt khác, để “khóa miệng” các “công thần” sinh viên nầy, một số không ít được Nguyễn Khánh cho đi du học. Người ta gọi mỉa là “đấm mõm” bằng một cái học bỗng:

Cao Huy Thuần đi Pháp, Thái thị Kim Lan đi Đức, Lê đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến đi Mỹ.

Số nầy, không biết có ai bị (hay được) Xịa móc nối để làm tình báo cho Mỹ không?

30 tháng Tư, hình như Mỹ bốc cả gia đình Đỗ Ngọc Yến rời Saigon trước khi Dương Văn Minh đầu hàng đấy! Còn tấm hình chụp Đỗ Ngọc Yến họp với Nguyễn Tấn Dũng là photoshop hay thực sự như thế? Vì ai mà ông Yến gặp anh chàng “cựu y tá bộ đội địa phương” nầy? Ai mà biết!!!!

Không hiểu sao Tôn Thất Mạnh Lương không du học mà lại đi vô rừng theo Việt Cộng. Bấy giờ y lại xuất hiện ở Cần Thơ, dụ khị thằng anh trốn theo Việt Cộng. Việc không thành.

Chuyện Tôn Thất Phú Sĩ, Phật tử chính hiệu, cưới được bà vợ theo đạo Thiên Chúa, cũng là chuyện “trời thần đất lỡ” đấy, nhưng là chuyện riêng nên không viết vào đây.

Hồi đó, tôi đâu có biết anh ta có tài làm thơ!

Buổi sáng trước khi chuẩn bị “bồng gọn nhẹ” (danh từ Việt Cộng nữa đấy, tức là lo “hành trang”), tôi với Nguyễn Văn Bê ra chỗ trồng rau của tổ. Bê nói: “hái cho hết đem về ăn, để lại làm chi!”

Trong khi tôi và Bê đang lui cui hái rau, có môt “chú bộ đội” đi ngang, dừng lại hỏi thăm:

“Mấy anh biên chế phải không?” Tôi trả lời “Vâng”. “Chú bô đội nói: “Các anh đi mạnh khỏe, học tập tốt thì về thôi!”

            Khi anh ấy đã đi xa một quãng, tôi hỏi Bê:

            -“Thằng nầy hôm trước anh tập cho nó ca cải lương phải không?”

            Bê nói “Phải”.

            Khoảng gần tết, Bê trồng rau ở đám rau của tổ chúng tôi tại khoảnh đất gần kho đạn, kế hàng rào phi trường. Ở đó có môt cái chòi canh, “bộ đội” chỉ cắt cử vệ binh gác vào buổi tối mà thôi.

            Bê có cái thú ưa ca cải lương. Anh ca cũng khá hay. Lúc đó trời cũng đã chiều rồi, đang trồng rau, Bê bắt chước Út Trà-Ôn trong bản “Sầu Vương Biên Ải”:

“Nhìn trời hiu quạnh, màn đêm sương giá lạnh, chốn quê nghèo thêm chạnh nỗi niềm riêng, muôn dặm cách xa…”

Chú bộ đội hồi nãy sắp lên ca gác, đi ngang, nghe ca cải lương, bèn dừng lại, hỏi chuyện Bê, rồi nhờ Bê tập ca bài đó cho. Tập vài lần như thế thì anh ta ca được. Sau đó, cũng một lần trồng rau với Bê ở chỗ cũ, tôi lại nghe anh ta ngồi trong chòi canh, hát nho nhỏ: “Đón giao thừa một phiên gác đêm, chào mừng xuân…”

 

Nói về con người thì ai cũng như ai, đều có tình cảm cả, cũng thương, cũng nhớ, và cũng… hoài hương. Sau mới biết thêm, anh ta quê ở Bắc Ninh.

Nghe nói quê ở Bắc Ninh, một đêm nào đó, tôi đọc cho mấy bạn tù nghe hai câu thơ của Xuân Diệu, trong bài thơ “Việt Nam Độc Lập”. Tôi không nhớ hết bài:

                        Cô gái Việt gánh gồng xinh xinh,

                        Đâu cũng là những cô gái Bắc Ninh.

 

            Về địa lý và lịch sử, Bắc Ninh có hai đặc điểm. Con gái Bắc Ninh nổi tiếng đẹp và nơi nầy là “quê hương quan họ”. Ỷ Lan phu nhân và bà mẹ ông Lý Công Uẩn cùng quê ơ Bắc Ninh.

            Hiền hỏi:

            -“Ông” có biết chi về quan họ không?”

            -“Không! Tui không biết.” Tôi nói. “Tui có nghe Phạm Duy soạn “Con đường cái quan”, nhưng tui ham theo “Đường giây 1 C” (1) nên không có thì giờ để biết con đường dân ca Phạm Duy đang soạn. Phải chi cứ ở thành phố, đánh giặc mồm CTCT thì có thì giờ “vui chơi ba ngày xuân 365 ngày”. (2)

            Dung nói:

            -“Thằng nầy quê quan họ, có máu “dzăng nghệ dzăng gừng” nên ưa ca cải lương cũng phải.”

            Bỗng “cóc” (3) Phan Hải lên tiếng:

            -“Cách mạng chủ trương dẹp bỏ cải lương, cho là ủy mỵ, ảnh hưởng tinh thần chiến đấu. Mấy ông đừng nói ra, tới tai cấp chỉ huy là thằng ấy bị kỷ luật đấy.”

            -“Ưa ca cải lương mà cũng khổ. Nhiều khổ quá sống sao nỗi.” Ai đó lên tiếng.

            -“Ủ my là không được, anh Hải có nhớ vụ Lê Hoàng Long không?” Phan Hải nói.

            -“Nhớ chớ!” Tôi trả lời.

            Sau khi học 10 bài, một hôm toàn bộ  “cải tạo viên lên lớp” ở hội trường, Trung úy Dziệt Cộng Chính trị viên tên Thảo của “Tiểu đoàn” đem tên hai người ra phê phán. Một là ông Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, gọi ông ta là “tên ác ôn”, và Lê Hoàng Long, làm thứ trưởng Bộ Chiêu Hồi, tên phản động văn nghệ.

Tôi từng hát nghêu ngao “Rồi mai lênh đênh trên sông Hương…” biết ông Lê Hoàng Long là tác giả bài “Gợi Giấc Mơ Xưa” nầy vào những năm tôi còn học ở Quốc Học; còn sau nầy ông ta làm gì, tôi mãi miết “lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm, sương trắng rơi…” của “Sương Trắng Miền Quê Ngoại”, đâu có về Saigon để mà biết tới những việc ấy.

Nhưng tôi vẫn cứ thắc mắc: Việc Việt Cộng lên án ông chuẩn tướng thì dễ hiểu, còn ai là “người trong cuộc” để tố cáo Lê Hoàng Long là tên “Biệt kích văn nghệ” vậy cà?

&

Chẳng bao lâu sau chúng tôi chuyển trại. Tổ tôi đi hết, ngoại trừ hai người mới chuyển tới và Phan Hải.

Dĩ nhiên, chúng tôi nghĩ rằng án tù những người bị chuyển trại nặng hơn người được ở lại.

hoànglonghải

(1)-Tôi có kể trong “Hương Tràm Trà Tiên”

(2)-Trước 1975, nhiều người gọi đùa những người phục vụ  ở bộ phận CTCT là “Cứ Thế, Cứ Thế” hay “Đánh Giặc Mồm”. Có những sĩ quan CTCT, khai rằng mình không trực tiếp chiến đấu, làm CTCT cho “nhẹ tôi với Cách mạng”. Trong khi đó, Việt Cộng đánh giá họ ngang tầm với Chính Ủy hay Chính Trị Viên, “nguy hiểm” hơn những người cầm súng chiến đấu ở mặt trận.

(3)-Phan Hải ít tham gia những buổi nói chuyện như chúng tôi, nên mỗi khi anh ấy lên tiếng, tôi gọi đùa là “Cóc mở miệng”.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

4 Trackbacks / Pingbacks

  1. Sau tết, rục rịch “biên chế” – biển xưa
  2. Sau tết, rục rịch “biên chế” | dòng sông cũ
  3. Sau tết, rục rịch “biên chế” – Bến xưa
  4. Sau tết, rục rịch “biên chế” – Bến cũ

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: