Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Vết Nám (Bài 4) Mười bài “học tập”

Tôi “trình diện, đóng tiền để được đi tù cải tạo” buổi sáng 24 tháng 6 năm 1975 tại trường Taberd, Saigon. Ba ngày sau, 27 tháng 6, được chuyển lên Trảng Lớn. Một tháng sau nữa, sau khi làm bản tự khai đầu tiên, thì được chuyển về L3-T3.

Khoảng tháng 9, tất cả anh em đều được cho viết thư về thăm gia đình. Thư phải viết ngắn gọn, không được “phản động”, bày tỏ sự “tin tưởng tuyệt đối vào chính sách khoan hồng trước sau như một của đảng và nhà nước”, khuyến khích gia đình an tâm, chỉ ghi rõ hòm thư, không được tiết lộ nơi hiện đang học tập cải tạo là chỗ nào, v.v…”

Thư viết xong, gom lại giao cho đội trưởng, đội trưởng giao cho khối trưởng, khối trưởng nộp cho quản giáo.

Có lẽ quản giáo là người đọc và kiểm soát thư của chúng tôi, trước khi gởi đi.

Khoảng một tháng sau, phần đông chúng tôi nhận được thư gia đình trả lời.

Trong chế độ mới có những điều khá buồn cười. Tuy là thư riêng, gởi cho gia đình hay gia đình gởi lại, nhưng bao giờ cũng phải theo những khuôn mẫu nhứt định, phải viết những câu như trong biểu ngữ…

Tối hôm đó, nằm nói chuyện với nhau trong khi chờ giấc ngủ, tôi nói đùa: “Thư đi cũng phải “Muôn tâu thánh thượng, hoàng đế vạn tuế”. Thư về thì cũng phải bài bản như thế. Thư nào viết khác đi, coi như không có người nhận.”

Lê Quang Dung hỏi: “Thư của mình có bị kiểm duyệt không?”

Phạm Xuân Lý, người dày dạn kinh nghiệm trong ngành Cảnh Sát, trả lời:

– “Ông mang tới lon đại úy rồi mà còn hỏi ngây thơ. Thư tù mà không kiểm duyệt thì kiểm duyệt thư ai?!”

Nằm phía ngoài cùng, Phan Hải nhắc chừng:

– “Bộ đội nghe tới thì phiền, không phải tù.”

Chúng tôi làm thinh, không nói gì.

Thói quen của tôi là đùa, hay kể “chuyện xứ Huế tui” cho tất cả anh em nghe cho vui.

1Phạm Xuân Lý thì kín đáo hơn. Anh gia nhập ngành cảnh sát khi còn trẻ, khi vừa quá 20 tuổi, sau khi đậu bằng trung học. Anh chăm chỉ, vừa làm cảnh sát, vừa học thêm, đậu tú tài, đang học luật. Thời Ngô Đình Diệm đã làm trưởng phòng Cảnh Sát Quận Hai, Saigon.

Một hôm, chỉ có anh và tôi, anh ấy hỏi:

– “Anh Hải ở Huế có biết ông dược sĩ Nguyễn Cao Thăng không?”

Tôi trả lời:

– “Trời ơi! Ông nầy là quái kiệt, lanh lợi số một, tài ba số một, xoay chuyển tình thế như gió bão, ông nắm ai là trúng người đó, đố chạy thoát.”

Lý hỏi:

– “Có vẻ như ông ấy là thần tượng của anh?”

– “Không phải đâu, nhưng anh hỏi tui như vậy thì chắc anh có lần “đụng độ” với ông ta?” Tôi hỏi.

– “Sức mình mà đụng độ với ông ta sao nổi. Nhưng ở trong ngành Cảnh Sát gần 20 năm, tôi chưa từng thấy ai chơi sộp như ông. Mình đang ở cái thế trên ông, bị ông kéo đi như kéo xe.” Lý giải thích.

– “Chuyện gì?” Tôi hỏi.

– “Thời Ngô Đình Diệm, triệt để bài trừ “tứ đổ tường”. Một hôm, tôi vây bắt một ổ chơi bời hạng sang ở đường Cô Bắc. Vây nhà xong rồi, gái bán dâm, khách mua dâm đều bị tóm hết. Không như trước kia, bây giờ khách mua dâm cũng bị ra tòa.

“Sau khi giữ đám khách đàn ông ở lầu trên rồi, tôi đi lên để lập danh sách. Tới nơi, tôi thấy một người ăn mặc bảnh bao lắm, vét-tông xanh đậm, cà vạt đỏ, giày “đơ cu-lơ” ngon lành.

Ông ta đến trước mặt tôi, nói: “Tôi muốn gặp người chỉ huy hôm nay!”

Tôi trả lời, hơi sẳng giọng: “Tôi.”

Ông ta nói từ tốn nhưng cương quyết:

“Tôi là dân biểu Nguyễn Cao Thăng. Tôi không thể có tên trong số những người nầy. Anh cầm tạm số tiền nầy uống càphê.”

Nói xong, ông ta đưa cho tôi một phong bì khá dày. Tôi nhìn ông ta, xong, đưa tay cầm phong bì dày, đứng tránh ra một bên đầu cầu thang, nói: “Xin mời ông dân biểu về.”

Ông ta cám ơn, bắt tay tôi rồi xuống cầu thang.”

Tôi hỏi anh Phạm Xuân Lý:

– “Anh sợ ông ta cái gì?”

Lý cười:

– “Cả hai. Ông ta là dân biểu, tôi không tha, về tới ty Quận Nhì, ông Trưởng ty cũng tha. Kinh nghiệm dạy cho tôi như vậy. Tui tha thì tui hưởng trọn phong bì. Còn ông Trưởng ty tha, chắc chi tui có chút tiền uống một ly cà phê?”

Tôi cười:

– “Vậy là “Nén bạc đâm toạc tờ giấy?”

Lý cải:

– “Không phải. “Thẳng mực tầu đau lòng gỗ”. Luật pháp không phải bao giờ cũng cứ một đường thẳng mà đi. Anh có biết “bát nghị” là gì không?” (1)

– “Biết chút chút.” Tôi nói: “Luật Hồng Đức.”

– “Anh chắc biết ông ta là công thần của chế độ!” Phạm Xuân Lý nói.

Thấy anh ta nói đúng, tôi làm thinh.

Một lúc, tôi nói thêm:

– “Từ một người bị “cậu Cẩn” ghét cay ghét đắng, vì cho rằng ông ta là “đệ tử” Thủ hiến Phan Văn Giáo, cương quyết trừng trị một khi “anh thượng thư về châp chánh”, trở thành một người “kinh tài cho Ngô triều” (Báo chí hồi đó gọi ông Nguyễn Cao Thăng là một người như thế – tg) phải nói rằng ông ta là thiên tài. Ông nầy không thua gì Lã Bất Vi bên Tầu. (2).

&

Tôi không nhớ chắc ngày nào, sau khi dựng hội trường ở giữa hai khu nhà số 4 (Khối 4) và nhà số 5 (Khối 5) thì được tổ chức học tập. Ai nấy đều vui, hy vọng “học xong” sẽ được về.

“Đi học” mà, học xong thì về chớ có phải tù tội gì đâu!!!

Phần đông tin tưởng như vậy bởi vì “cách mạng” yêu cầu phải “tuyệt đối tin tưởng” vào “cách mạng” thì mình cũng phải tin chớ. “Cách mạng” cũng có danh dự, uy tín của “cách mạng”, không lý “cách mạng” “nói ra rồi lại nuốt lời như… Chí Phèo hay Thị Nở”.

Tất cả chỉ có 10 bài học chính trị. Tổ của tôi, ai cũng lo học cho thuộc. Hồi đó, tôi cũng rán học thuộc, nhưng đến bây giờ, tôi không sao nhớ rõ tên 10 bài học đó. Đại khái là “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta.” Kế đó là những bài như “Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân toàn thế giới”, “Đế quốc Mỹ là con đĩa hai vòi”, “Đế quốc Mỹ giàu mà không mạnh”, “Không nên sợ Mỹ và phục Mỹ”, “Ngụy quân ngụy quyền là tay sai của Mỹ, có tội với nhân dân, cách mạng”.

Quan trọng nhất là ai ai cũng phải “tự mình xác nhận có tội với “cách mạng”… Rồi thì: “Xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là con đường tất yếu của nhân loại”, “Chính sách khoan hồng nhân đạo của Cách mạng trước sau như một”, v.v… Nói chung là như thế… như thế!…

Ban ngày thì đi học. Học xong, họp tổ, thảo luận rồi làm bài “thu hoạch” nhưng tối lại, trong bóng tối, chưa ngủ được, nằm bên nhau, chúng tôi nói toàn chuyện “phản động”, mặc dù có Phan Hải nằm ở đầu vách phòng.

Đôi khi anh ta cũng góp ý, tuy không nhiệt tình.

Tội nghiệp, anh ta đang hy vọng bố mẹ bảo lãnh cho về sớm, nên ai cũng thông cảm chuyện anh ta “giác ngộ cách mạng” sớm hơn chúng tôi.

Đời nầy, ai cũng vì cái quyền lợi của người ta cả, “tổ quốc, tổ cò” gì đâu!!!

Một đêm, Chiểu hỏi tôi:

– “Anh Hải, “Mỹ giàu mà không mạnh. Vậy thì chắc chắn bọn chúng đã thua ở Việt Nam.”

– “Tôi không rõ.” Tôi nói. “Nhưng theo tôi nghĩ, các tay chuyên viên, nằm ở phía sau tòa Bạch Ốc, là các ông giáo sư đại học, như “Kít” hay Brzezinski họ có “tầm nhìn chiến lược” về toàn thế giới, vạch ra đường lối cho nước Mỹ, thì cứ 10 năm hay 20 năm, tình hình thế giới có vài biến chuyển lớn, trong đó, bao giờ cũng có vai trò như thế nào đó của Mỹ.”

Dung nói:

– “Nói chung chung dzậy ai nói mò chẳng được. Anh đưa ra ví dụ đi.”

– “Như vầy nè! 1945, Thế giới chiến tranh thứ hai chấm dứt. Năm 1955, Mỹ vào miền Nam, Pháp rút đi. Mười năm sau, Mỹ đổ quân vào miền Nam. Rồi mười năm nữa, Martin cuốn cờ ở tòa đại sứ Mỹ.”

Phạm Xuân Lý nói:

– “Không chắc, vậy hiệp định Genève 1954 để làm gì, hiệp định Paris 73 để làm gì?”

Tôi nói:

– “Theo tôi nghĩ, đó chỉ là những công việc chuẩn bị cho giai đoạn quan trọng, chính yếu tiếp theo. Có hiệp định Genève 1954 thì Mỹ mới nhảy vào trực tiếp ở miền Nam năm 1955. Lạt đổ Ngô triều năm 1963 để chuẩn bị cho Mỹ đổ quân năm 1965. Hiệp định Paris 73 chỉ là chuẩn bị cho Mỹ hoàn toàn không dính líu gì tới Việt Nam nữa, giao cho Trung Cộng.”

– “Vậy là Mỹ thua Trung Cộng?” Trắc hỏi.

– “Thua hay không thì phải trở lại thông cáo Thượng Hải, hay việc Kissinger bí mật qua Bắc kinh hồi tháng 7 – 1970, với việc Nixon gặp Mao hôm 21 tháng 2 năm 1972. Kissinger là một giáo sư, một lý thuyết gia, chiến lược gia. Tay nầy nguy hiểm lắm.

“Khi tiễn chân Nixon ra về, Mao nói buồn cười lắm: “Những người như chúng tôi thường nổ những loạt súng lớn, tổng thống đừng quan tâm.”

“Mấy tay đầu sỏ quốc tế chưởi nhau om sòm cho vui thiên hạ, còn trong thực tế thì họ chia chác nhau quyền lợi. Quyền lợi của các nước lớn, hy sinh quyền lợi các nước nhỏ. Tội nghiệp là thân phận các dân tộc nhược tiểu như mình, cứ nghe súng “đại bác mồm” của Mao mà sợ.”

Phạm Xuân Lý nói:

-“Coi như Mỹ phủi tay, xong rồi!”

-“Không đâu!” Tôi nói. “Tôi có cảm tưởng như tụi Mỹ đang “chia vùng trách nhiệm” vậy! Mấy hôm trưóoc khi trình diện (cải tạo), tui vẫn còn nghe Bêbêxê. Kissinger lại đi Ai Cập, Do Thái chuẩn bị cho một thỏa hiệp gì đó để ổn định Trung Đông. Mỹ muốn giao một trách nhiệm gì đó cho Do Thái, đệ tử ruột của Mỹ, còn Ai Cập, bàn chuyện gì bên đó mà không có Ai Cập làm sao được.

-“Đông Dương, Dông Nam Á coi như xong” Lý nói.

-“Liên minh Phòng thủ Đông Nam Á” là coi như xong rồi. Khi tôi còn làm viêc ở Kiên Giang, một hôm về Tam Sơn (3), nghe dân chúng thuật lại thời cụ Ngô, lính Nhảy Dù Úc nhảy xuống Tam Sơn, mới biết có lần “Liên Minh” nầy tập trận, có cho lính nhảy dù nhảy xuống đó. Dân chúng đi coi đông lắm.” Nếu nói “chia vùng trách nhiệm ở vùng Đông Á nầy, có thể coi vai trò của Trung Cộng với Nhật là quan trọng. Sau lưng Nhựt còn có Mỹ mà. Mỹ không bỏ Nhựt như bỏ miền Nam mình đâu!

Phan Hải nói, tự ái:

– “Cách mạng mình cũng ghê lắm, họ chịu lép sao?”

– “Nước mình là nước nhỏ, là con cờ của tụi nó. Con tốt hay, như bài thơ đánh cờ của Hồ Chí Minh thì cũng có thể, nhưng nhìn chung, cũng chỉ là con cờ.”

Chung lên tiếng:

– “Dân cải tạo cũng nhạy bén lắm, anh biết không! Nhiều người đang học tiếng Tầu.”

Quả thật trại L3-T3 của tôi có hai hiện tượng đáng chú ý. Thiên hạ đua nhau học tiếng Tầu. Khối nào cũng có lớp học tiếng Tầu, học chữ Hán và nhiều sòng mạt chược mở ra.

Học xong 10 bài, cũng chẳng thấy biến chuyển gì cho thấy sắp được tha về, ai nấy nôn nao, buồn bã, chán nản.

Đang trong tình hình như thế, Phan Hải đề nghị:

– “Cái giếng đầu kia đông người quá, mình đào riêng một cái giếng cho tổ của mình đi.”

Dung nói:

– “Sắp về rồi, đào giếng làm chi nữa.”

Chiểu phản ứng:

– “Trường học tập cải tạo không bao giờ thiếu người đâu, mình đi thì để lại cho người khác dùng.”

Trắc cười không vui, nói:

– “Thằng “đui” nầy phát biểu câu nào cũng độc. Nó đoán trước chế độ nầy không bao giờ thiếu tù, chỉ thiếu nhà tù mà thôi.”

Phan Hải góp ý, không biết thành thật hay đùa:

– “Cách mạng nói rồi, không phải tù, chỉ là học tập cải tạo mà thôi.”

Toán đào giếng chỉ có mấy ngoe. Phan Hải tìm một chỗ bên hông nhà, hy vọng trúng mạch nước, đào một vòng làm dấu rồi đi mất, còn lại Phạm Quang Chiểu là người tích cực nhứt trong việc đào giếng nầy, thứ đến là Trần Phú Trắc và tôi. Mấy ông khác, chỉ hụ hợ rồi chán nản bỏ đi.

Khi đào xuống sâu, thấy đất đã ướt, có mạch nước thì Chiểu không cho tôi và Trắc xuống giếng nữa. Anh ta giành lấy công việc khó nhọc đó.

Tôi và Trắc, đứng trên miệng giếng, có gác ngang hai tấn ván. Khi vét đất đầy cái giỏ do chúng tôi làm bằng giây kẽm gai, Chiểu hô to: “lên”.

Tôi và Trắc ở phía trên thay nhau kéo lên.

Đất càng ngày càng nặng, cho biết mạch có nhiều nước. Khi cái giỏ đất được kéo lên, phải từ từ để cái giỏ không lắc lư qua lại.

Chiểu phải nép vào thành giếng để tránh nước từ cái giỏ đầy chảy ra.

Khi kéo thì chúng tôi đứng dạng chân trên hai tấm ván, cúi người xuống, cầm giây kéo lên.

Trắc thì nhiều khi rất “xà bát”. Thay vì đứng cho ngay mà kéo, anh ta đứng nghiêng một bên người mà kéo. Vậy nên anh bị “cúp xương sống” nằm lì một chỗ, không nhúc nhích gì được, suốt cả mấy tháng trời. Việc ăn uống, đi tiểu, đi cầu, tắm rửa, v.v… của Trắc đều được Chiểu chăm sóc, giúp đỡ.

Chiểu rất tận tâm, chân thành, đáng quí. Sau nầy, khi về trại Long Giao, Trắc chưa bình phục hẳn mà Chiểu thì đã bị đưa ra Bắc, không ai giúp đỡ Trắc cả, tình cảnh của anh ta rất đáng thương.

Trắc nằm một chỗ, khoảng hai chục ông bác sĩ đến thăm mà Trắc không bình phục được. Bác sĩ khám thì phải có thuốc. Bác sĩ không thuốc thì cũng “cùi.”

Trần Hữu Bảo nói đùa:

– “Hồi trẻ chơi chị Năm chị Mười, mục xương sớm chớ cúp mẹ gì đâu!” (4)

Nghe Bảo nói đùa, ai nấy đều cười. Trắc đang nằm liệt cũng cười, nói vớt vát:

– “Đ. mẹ. thằng ba trợn, nói bậy bạ không!”

Dung, cũng hay đùa, vừa nói to, vừa cười: “Bậy bạ, trúng tùm lum.”

Không có thuốc thì châm cứu vậy.

Khi tôi bị chuyển về trại L3-T3 thì nghe nói bác sĩ Văn Tần cũng ở đây, bác sĩ Trương Thìn cũng ở đây, nhưng cả hai đã được tha về rồi.

Người ta đồn bác sĩ Văn Tần nói rằng ông ta bà con với Văn Tiến Dũng. Nghe thế, tôi không cải chính, chỉ thấy buồn cười việc thiên hạ hay tán bậy.

Bác sĩ Văn Tần quê ở Long Hưng, làng nầy sát thị xã Quảng Trị. Năm tôi học lớp nhứt với ông Hồ Đắc Hanh thì Văn Tần đi học lại. Đi học lại có nghĩa là mấy năm chiến tranh, việc học anh ấy bị gián đoạn, nay anh ta đi học cùng với lớp “hậu sinh”, cũng có nghĩa là trước 1945, anh ta học trước chúng tôi những mấy lớp.

Tuy là bạn học nhưng nói chuyện với anh ta, bao giờ tôi cũng phải ngửng đầu lên vì anh ta vừa lớn tuổi, vừa lớn con. Chúng tôi với nhau thì gọi mày tao, nhưng với Văn Tần thì bao giờ cũng gọi bằng anh.

Học chung với anh tới lớp đệ lục, thì tôi bỏ trường, tới đệ nhị cấp thì lại gặp nhau ở Quốc Học.

Bố anh làm lý trưởng làng Long Hưng trước 1945, còn ông Văn Tiến Dũng là dân Bắc Kỳ. Bắc Kỳ, Trung Kỳ xa nhau lắm, đâu phải người cùng làng, cùng xứ, dễ làm bà con với nhau hơn.

Còn ông Trương Thìn vô trại thì phát triển môn châm cứu. Nhiều người theo học, người nầy dạy lại người kia.

Kể từ khi ông Trương Thìn rời trại tù cải tạo đến nay chưa đầy một năm, mà có cả một chục thế hệ học trò châm cứu tiếp nối nhau.

Có lần, tôi nói đùa:

– “Châm để cứu, hễ cứu không được thì “châm kêu”, “châm khiêng”.

Nguyễn Văn Bê không hiểu ý tôi, hỏi:

– “Châm kêu, châm khiêng là sao?”

– “Kêu là kêu y tá xuống cấp cứu, hoặc khiêng lên bệnh viện.”

Trắc cũng được châm cứu, lần hồi anh ta ngồi dậy được, đi lại được, cũng đỡ cho Chiểu. Tuy nhiên, không ai trong tổ tôi cho rằng đó là kết quả của châm cứu cả.

“Thầy” Đạo, tên thật là Nguyễn Đạo, cùng đội với tôi, cũng học nghề châm cứu đâu đó.

Cũng như mọi “thầy” khác, ông ta sắm một bộ kim châm cứu, rút từ sợi thép cứng trong giây điện thoại. Thỉnh thoảng “thầy” cũng mang hộp đi đâu đó, hành nghề “cứu nhân độ thế.”

Hôm Lê Khắc Quyền ở khối 3, bị “thần quyền” nhập, có nghĩa là nửa đêm, anh ta tung mùng dậy, múa vỏ lung tung, mãi gần sáng, đánh võ “Xôlô” mệt quá, anh mới nằm xuống ngủ.

Trắc kể cho tôi nghe:

“Không rõ ông nào trong tổ của Lê Khắc Quyền, nghe danh “thầy Đạo” bèn lên rước “thầy”xuống.

Đang kẹt ván cờ tướng, “thầy” bảo “Chút nửa tui xuống.”

“Khi người mời “thầy” đi rồi, tui nói với Đạo:

– “Bệnh người ta mời, cứ ngồi đánh cờ.”

“Đạo vẫn ngồi đánh cờ, trả lời Trắc:

– “Mấy sợ giây thần kinh nó chạm nhau đó mà, chút tui xuống gở ra là xong.”

“Tuy nói vậy, “thầy” cũng giải quyết xong ván cờ cho sớm, ôm hộp kim ra đi.

Mấy hôm sau thì nghe tin Lê Khắc Quyền chết, chôn bên cạnh phi trường, chỗ “nghĩa trang tù”.

Kể lại chuyện đó với tôi, Trắc than phiền:

– “Tính mang người ta mà coi như chuyện chơi.”

Tôi cải:

– “Nhưng ông Quyền chết có phải vì châm cứu đâu. Tui chưa nghe ai nói vì châm cứu mà chết.”

– “”Đã đành” Trắc nói. “Nhưng làm thầy thuốc thì không phải tác phong như thế!”

Tôi nghĩ rằng Trắc không ưa Đạo vì tay nầy thường hay “show up” nên nói thế. Tuy nhiên, điều Trắc phê phán, không hẳn sai.

Thời gian ở L3-T3 do bộ đội quản lý, chẳng lao động, phá rừng, cày cuốc gì cả, cả ngày chúng tôi chỉ lang thang chuyện trò.

Để giết thì giờ, và có thêm rau “cải thiện”, chúng tôi tự kiếm đất trống, trồng rau, trồng đậu…

Khoảng một lần một tuần, bộ đội tổ chức đi cuốc đất, chuẩn bị trồng khoai mì ở phi trường, hai bên phi đạo.

Chỉ là chuẩn bị thôi, nghĩa là chúng tôi lấy cuốc đánh vồng, đắp từng mô đất bằng cái nón lá, chờ có mưa thì dăm hom khoai mì xuống đó. Những mô đất đó, chúng tôi gọi đùa là mả gió. Đi lao động có nghĩa là đi đắp mả gió.

Mỗi khi có gọi đi lao động, vài anh em chúng tôi tình nguyện xin đi. Ở hoài trong trại cũng chán.

Tuy kế hoạch thì vậy, nhưng ra tới nơi, mạnh ai muốn làm gì thì làm, có kẻ đi lang thang, thậm chí có anh vạch cỏ bắt dế về cho dế đá nhau xem chơi. Cả buổi, toàn thể chúng tôi miễn có đắp vài ba chục cái mả gió là được.

Có hôm trời nắng quá, thiếu úy Đậu, Dziệt Cộng, người dẫn chúng tôi đi lao động, tập họp chúng tôi lại. Anh ta đứng trên gò đất cao, tuyên bố một câu, lần nào cũng như lần nào:

“Điều kiện trời thì nóng, đất thì cứng, ta về thôi.”

Thế là chúng tôi hoan hô, vác cuốc kéo nhau về.

Gần chỗ chúng tôi đắp mả gió là “nghĩa trang tù”.

Anh em trong trại tôi, ai qua đời thì chôn ở đó. Những anh em các trại khác, khi chết, cũng chôn ở đó. Vì vậy, khi đi đắp mả gió, chúng tôi thường ghé lại “nghĩa trang”. Cứ vài ngày thì có một cái mả mới, có dựng bia, bằng gỗ thì viết tên, hay bằng “tôn” lợp nhà thì đục lỗ khắc tên cho lâu bền.

Có hôm, anh Thế của trại tôi ra tới nơi, bèn tới xem tên trên những bia mộ mới, rồi khóc òa lên.

Anh em đổ xô tới hỏi. Anh ta vừa chỉ lên mộ bia vừa nói: “Thằng nầy em tao. Nó chết rồi! Trời ơi. Nghe nổ ở T5, tao đã nghi. Ba má ơi, biết nói làm sao với ba má!”

Nghe khóc, chúng tôi ai cũng cảm động.

&

Vào trại, để giết thì giờ, chúng tôi thường kiếm việc làm tiêu khiển, vừa để làm vật kỷ niệm.

Trần Thanh Tuấn, khối 1 với tôi, nguyên Trưởng phòng Công xa Bộ Tư lệnh CSQG, tú tài kỹ thuật nên đục, đẻo, giũa, mài…khéo tay lắm. Cứ mỗi lần đi đắp mả gió, anh ta tới chỗ hai chiếc AD-6 bị hỏng, để bên phi đạo, đục, cạy lấy nhôm vỏ máy bay đem về. Anh ta làm cỡ vài chục cái lược, vài chục con dao.

Có hai anh em ở tổ 7, khối 1, quen tay nghề ở nhà khắc tượng Chúa, Mẹ nên họ lấy mấy khúc gỗ đun bếp, cắt, khắc chạm thành những cái ống điếu (vố) rất đẹp.

Ở T5, nghe nói có mấy ông thiếu úy còn trẻ, rủ nhau lấy hỏa tiển (loại gắn máy bay), lớn hơn cổ tay, chưa nổ, đem về cắt làm vòng tay, khắc tên, chạm hình, đeo chơi.

Có mấy người đã làm thì không sao. Bữa đó có mấy ông xúm nhau cưa một hỏa tiển như thế. Bất thần hỏa tiển nổ khiến bốn ông mạng vong. Ai ngờ, trong số đó có một người em của Thế. Hai anh em cùng đi Thủ Đức, cùng ra sĩ quan và cùng đi tù cải tạo, chỉ khác trại mà thôi.

Bấy giờ chúng tôi phá những ca uống nước của lính. Loại nầy bằng inox. Dùng inox nầy, chúng tôi cắt, khắc chạm, chùi bóng, làm những tấm “lắc” chờ khi được tha về hay được thăm nuôi thì tặng biếu gia đình.

Không lấy nhôm ở chiếc máy bay AD-6 bị hư ngoài phi trường được thì chúng tôi kiếm nhôm, cắt nhỏ, đem nấu, lại cắt, dũa mài, thành những cái lược. Tôi cũng làm cho con tôi mấy tấm lắc bằng nhôm. Hễ đứa nào tuổi con gì, thì tôi khắc hình các con đó: Trâu, mèo, ngựa …

Có người dùng “tôn” lợp nhà, cắt gò, thành dụng cụ dùng hằng ngày như nồi, soong, v.v… Sĩ quan Dziệt Cộng thì kiếm nguyên một tấm “tôn”, nhờ cắt gò thành những cái “vani” (valise) để đựng đồ đem về Bắc. Họ thích lắm.

Những cái lược nầy, “vệ binh” (lính Dziệt Cộng) cũng rất thích, nhờ cải tạo viên làm giùm hay xin lại ai đã làm sẵn.

Bấy giờ có bài hát phổ theo thơ của Hoàng Trung Thông: “Bàn tay ta làm nên tất cả, Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Có người nhại theo đó mà hát:

“Bàn tay ta làm nên cái lược,

Để mai nầy đem biếu anh vệ binh.

Vệ binh khen “lao động là quang vinh”

Hãy phát huy làm thêm nhiều nhiều nữa.”

Dĩ nhiên là để họ xin đem về bắc./

hoànglonghải

(1)-Tám loại người nếu phạm tội nặng thì trước khi xét xử phải được phép của vua và khi kết tội phải tâu lên vua để vua định đoạt. Bộ Quốc triều hình luật thời Lê ở Việt Nam (giữa thế kỉ 15) quy định tám loại người đó:

1-Những người thân thuộc của vua (nghị thân).

2-Những người giúp đỡ vua lâu ngày (nghị cố).

3-Những người có đức hạnh lớn (nghị hiền).

4-Những người có tài năng lớn (nghị năng).

5-Những người có công lớn (nghị công).

6-Những người có chức tước lớn (nghị quý).

7-Những người siêng năng cần mẫn trong chức vụ (nghị cần).

8-Những con cháu các triều trước (nghị tôn).

Tám loại người này được hưởng ba sự ưu đãi:

a)-Vua cho phép xét xử thì quan mới được xét xử và vua quyết định việc kết tội.

b)-Khi thẩm vấn, họ không bị tra khảo như dân thường.

c)-Nếu bị kết từ tội lưu trở xuống, họ được giảm một bậc. Đối với việc phạm thập ác (mười tội ác: 1/ Mưu phản. 2/ Mưu loạn 3/ Mưu đại nghịch: giết vua 4/ Ác nghịch: Giết cha mẹ 5/ Bất đạo: thiếu đạo đức 6/ Đại bất đạo 7/ Bất hiếu. 8/ Đại bất hiếu 9/ Bất mục 10/Bất nghĩa) thì không được áp dụng bát nghị. (Theo VNTĐ)

(2)-Lã Bất Vi (trước Công Nguyên) là một thương gia thời Chiến Quốc. Sau ông làm thừa tướng nước Tần. Lã Bất Vi là cha của Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, hoàng đế đầu tiên của Tầu. Ông là người nổi tiếng trong lịch sử về buôn bán, kể cả buôn vua. (Xem phần nói về Dược sĩ Nguyễn Cao Thăng trong Viết Về Huế, tập 3, cùng tác giả)

(3)-Tam Sơn là 3 ngọn núi ở vịnh Rạch Giá: hòn Me, hòn Sóc, hòn Đất (Hòn Đất là  đặc khu của VNCH, tên gọi là Đạc Khu Hòn Đất”

(4)-Chị Năm là 5 ngón tay, chị Mười là 10 ngón tay, để thủ dâm.

Advertisements

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: