Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Hồ “Coes”

1“Để nhớ và thương cụ Mỹ Tín”

Trông nhau mỏi mắt nghìn trùng

Còn hư huyễn mộng, còn không hư về

Chập chờ giữa giấc hoang mê

Nhớ người thôi hãy quay vè chiêm bao

Giữ nhau chưa một buổi nào

Tưởng xưa từng hẹn ước vào cuộc vui

Nửa xuân xanh đủ ngậm ngùi

Tóc thêm phiền muộn, mắt hoài phù vân

(Giấc hoang mê – Nguyễn Tử Hà)

 

            Cái hồ “Cốtx” nầy đối với tôi có nhiều kỷ niệm khó quên!

            Hồi mới đến Mỹ, con gái chúng tôi bảo lãnh cha mẹ về ở chung với mẹ con nó, tạm một thời gian, trước khi kiếm công ăn việc làm, rồi “ra riêng”, v.v…

            Nhà con gái tôi ở trong một cái “làng” nhỏ, Mỹ gọi là “town”, tôi ưa gọi là làng, cho “gần gủi” với cái ý nghĩa của quê hương, vì town nầy ở xa thành phố, trong một vùng đồi núi, không có ruộng.

Nếu không phải là nước Mỹ thời hiện đại thì có thể cái town nầy không có điện nước, không có cả điện thoại, nói chi tới TV.

Con đường từ đây lên thành phố Worcester, thành phố lớn thứ hai của tiểu bang Masachusetts khoảng hơn nửa giờ lái xe.

            Nhà nằm ở lưng chừng đồi, chung quang toàn là rừng thông, nhà hàng xóm cách khá xa. Theo cách sống của xứ Mỹ nầy thì nhà ai nấy ở, “cơm” ai nấy ăn, xe ai nấy đi…

Giả tỉ như bên Việt Nam, ở quê tôi ngày xưa, có việc chi phải kêu tới hàng xóm thì có lẽ người ta phải kêu như “kêu đò Ca-Cút” vậy (1).

Thỉnh thoảng, cũng có đêm trời nổi gió, nằm trong nhà nghe tiếng thông reo vi vút quanh nhà, bỗng thấy nhớ sông Thạch Hãn “dễ sợ”. Tôi sinh ra và lớn lên suốt cả thời thơ ấu và niên thiếu bên dòng sông ấy, không thể nhớ hết những đêm nghe tiếng gió bấc thổi suốt những hàng dương liễu trồng dọc theo bờ sông. “Gió bấc lạnh lùng thổi vào mái rạ”, như lời một bài hát, lạnh lắm!

Cái tiếng gió reo ấy, xa đã mấy chục năm, nay bỗng nghe lại, lòng nhớ quê sao mà da diết vậy?!

            Trước mặt nhà là một con đường ngắn và nhỏ, tên là RR-2. Hai chữ RR là viết tắt của Rural Road. Rural là xứ nhà quê! Phía đầu đường, chỗ có nhà máy dệt vải nằm bên cái thác nước nhỏ, bỏ hoang đã mấy chục năm nay, được tráng nhựa sơ sài. Phía cuối đường, đoạn băng qua khu rừng thông dày để nối vào quốc lộ liên bang 122, còn chưa tráng nhựa. Đường núi, hễ có cơn mưa lớn là có mấy vũng nước to hơn cái miệng giếng làng. Tránh vũng nước, người ta phải lái xe vòng qua một bên, khi tránh bên phải, khi tránh bên trái như rắn bò, giống như đoạn Quốc lộ 14, gần tới Đak-Nông vậy.

            Quốc lộ liên bang 122 nầy là con đường đi thẳng lên biên giới Mỹ và Canada, có thể qua Canada được. Vốn là người ưa lang thang, sau khi có bằng lái xe, một mình tôi lái xe đi theo con đường nầy. Tới biên giới thì tôi quay về, tự nghĩ như thế cũng đủ để thỏa một chút máu “giang hồ vặt”, “một người phiêu lãng”, như cách nói của Nguyễn Tuân vậy. Đường khá xa, khi tôi rời nhà thì trời đang trưa, khi về tới nhà thì đã tối mịt mùng, cả nhà hốt hoảng, không biết tôi đi đâu, sợ lạc đường. Gì chứ ở xứ Mỹ nầy, lạc đường là chuyện dễ như trở bàn tay.

Nhà nằm cheo leo bên sườn đồi, ngó xuống con đường nhỏ. Bên kia đường là hồ “Cốxt”. Hồ rộng, nước xanh ngăn ngắt. Phía bên kia hồ là một đồi thông dày, trông như một bờ tường che gió cho hồ. Hồi tôi mới tới, có lần thấy mấy chú nai xuống hồ uống nước, cảnh tượng giống như trong một bức tranh vẽ muôn đời không đổi, một cảnh thanh bình có từ hàng mấy trăm năm trước.

Nhìn cảnh ấy, lòng tôi xúc động bồi hồi. Ở quê tôi cũng có hồ, có sông, có nai, nhưng mấy chục năm chinh chiến, rừng thì đã cháy mà bóng nai thì mất biệt mù tăm, không còn cái cảnh như trong thơ Huy Cận: “Nai cao gót lẫn sương mù, Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về” như ở đây vậy.

            Phía bên kia đường, bóng thông đổ xuống ven hồ, làm cho màu nước hồ ở đó đen thẫm lại, tưởng như hồ sâu lắm. Thấy vậy, tôi cũng ngại. Thật ra, chỗ đó đâu có sâu đến vậy. Về sau, bọn trẻ vẫn tắm táp chơi đùa ớ đấy, không thấy bóng Hà Bá đâu cả.

            Tôi tới đây nhằm giữa mùa xuân, ít lâu sau thì tuyết tan. Mỗi ngày, cả nhà đi vắng, chỉ còn hai vợ chồng già và đứa cháu ngoại chưa tới tuổi đi học. Tôi chờ quá trưa, sau khi người đưa thư đến bỏ thư vào hộp ở tuốt dưới con đường nhỏ, tôi lần mò đi theo con đường mòn từ nhà xuống đồi để lấy thư. Ngoài cái TV để coi, thư từ và báo chí là cái phương tiện tôi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, với cộng đồng người Việt.

Bài tôi viết thường đăng trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong, tờ Dân Chủ Mới, và tờ Diễn Đàn Tự Do nên báo biếu gởi rất đều. Qua mấy tờ báo đó, tôi thấy gần gũi với người Việt hải ngọai hơn.

            Chờ lấy thư, lấy báo là nỗi vui của tôi hằng ngày. Đứa cháu ngoại mới hơn ba tuổi cũng khá nhanh trí. Hễ nghe tiếng tôi mở cửa là nó nói ngay: “Cháu đi với.” Tôi cầm tay đứa bé đi xuống đồi. Con đường đá khá gập ghềnh. Hình như tuần rồi, mẹ nó dẫn nó một lần, nó bị trượt chân té. Bữa nay, khi đi với ông ngoại, nó bảo: “Long times ago, Minh té ở đây, bị hurt ở đầu gối.” Kể chuyện ấy với cả nhà, khi đang ăn cơm, mẹ nó cười, nói: “Con nhỏ nầy, khi nào cũng “long times ago”. Chuyện xảy ra năm ngoái, chuyện xảy ra hồi nảy, cũng “long times ago”. Thiệt tức cười.”

            Sau khi tuyết tan, khu rừng nằm giữa con đường nhỏ và bờ hồ trống ra, không có bụi bờ gì cả, chỉ có cỏ mọc lấp xấp. Vì vậy, mỗi ngày, sau khi lấy thư xong, tôi đi lang thang vào khu rừng thông ấy. Cỏ non, màu xanh nhạt và mềm, cái mềm tôi nhận rất rõ vì tôi mang dép mà không mang giày, khiến con gái tôi cự nự: “Ở Mỹ nầy, không ai ra khỏi nhà mà mang dép như ba.” Cái bản chất “dân An nam” trong tôi khó thay đổi thật, khiến tôi vẫn cứ mang dép khi xuống rừng thông, để cảm nhận được cái mềm của cỏ khi đi lang thang bên bờ hồ, tay dắt cháu ngoại đi cùng, giống như ngày xưa, bọn học trò đi học, ưa đi trên bờ cỏ mềm hơn là trên đường nhựa nóng vậy.

            Đi chơi lang thang ở đây, không chỉ có mình tôi, thuộc một gia đình người Việt độc nhất ở cái “làng” này. Dân “làng” phần đông người Ý. Theo tấm bảng ghi ở trước cửa thư viện thì làng hình thành năm 1686, trước chiến tranh giành độc lập Mỹ khá lâu, có nghĩa là khi ấy ông vua nước Anh còn cai trị ở thuộc địa nầy.

            Dọc theo bờ hồ, cũng có mấy cái ghế sắt, mặt và lưng ghế bằng gỗ, để người ta ngồi nghỉ chân. Không ít lần, tôi cũng ngồi trên những cái ghế ấy, mỗi khi mỏi chân.

&

            Bỗng nhiên, một bữa, có một “ông Mỹ” – Cứ mắt xanh mũi lõ thì gọi là Mỹ cho nó xong – tới ngồi bên tôi, hỏi:

-“Xin lỗi. Ông là di dân, mới tới đây?”

            –   “Vâng! Tôi mới từ trại tỵ nạn đến đây.” Tôi nói. “Tôi là người tỵ nạn, “Tỵ nạn Cộng Sản”, không phải di dân”.

-“Ông là người “tỵ nạn Việt Nam”

            – “Ông nói đúng đấy. Tôi là người “tỵ nạn Việt Nam”.  Nhưng sao ông biết tôi là người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản.”

            – “Mấy năm nay, người Việt Nam đến Mỹ nhiều hơn mấy năm trước, đông hơn người Ba Lan chúng tôi.”

– “Ông người Ba Lan?” Tôi hỏi.

           –  “Vâng! Tôi cùng với cha tôi tỵ nạn ở đây sau cuộc khởi nghĩa Poznan. Hồi ấy tôi hơn hai mươi tuổi, con gái tôi mới hơn một tuổi.”

-“Con ông không có mẹ đi cùng?” Tôi hỏi.

-“Mẹ nó bị giết trong cuộc khởi nghĩa đó.” Ông ta nói, giọng chùng xuống.

-“Tôi chia buồn với ông. Vụ Poznan xảy ra năm 1958.” Tôi nói.

-“Ông cũng biết cuộc khởi nghĩa đó?” Ông ta hỏi.

Tôi giải thích:

            -“Trước đây gần ba mươi năm, tôi là thầy dạy lịch sử ở high school. Tuy những cuộc nổi dậy chống Liên Xô ở Đông Âu như vụ Budapest, vụ “Mùa Xuân Prague”, vụ Poznan của nước ông, không có trong chương trình giáo dục, nhưng tôi cũng phải biết để nói chuyện với học sinh của tôi. Nước tôi đang ở “Tuyến đầu chống Cộng”, “Bảo vệ Tự do”, chúng tôi cần phải biết những biến cố lịch sử ấy.”

-“Ông có dự tính tiếp tục tìm hiểu thêm về lịch sử không?” Ông ta hỏi.

             – “Tôi không phải là một sử gia, nhưng tôi yêu môn lịch sử khi còn nhỏ. Nếu có thì giờ, tôi sẽ tiếp tục cái sở thích đó.” Tôi trả lời.

Được một lúc, ông ta đứng dậy, nói với tôi:

            -“Thư viện ở đây cũng có nhiều sách, nhưng có lẽ không đủ cho ai muốn tìm hiểu. Ông có thể vào nhà sách kế bên thư viện, “order” sách nào ông cần.” Nói xong, ông ta mở ví, rút ra một tờ giấy bạc một trăm đô-la, đặt vào tay tôi, nói:

-“Ông giữ lấy số tiền nầy, để mua sách, tôi biếu ông.”

Nói xong, ông quày quả bước đi.

Tôi vội vàng đứng lên, nói to:

-“Ông lấy tiền lại đi. Tôi không lấy tiền của ông đâu!

Trong khi tôi chưa kịp xỏ chân vào đôi dép, ông ta đã ra tới đường, vào xe đi mất.

            Thôi! cũng là “đồng khí tương cầu” đây, tôi tự nghĩ và an ủi tôi như vậy. Tuy nhiên, từ đó về sau, mỗi ngày, tôi vẫn cố tìm xem ông ta có trở lại vườn thông nầy không, để trả lại số tiền, nhưng không thấy lại ông ta bao giờ.

&

            Thế rồi, như dự tính, tôi rời làng nầy sau đó ít lâu. Thắm thoát mà đã gần hai mươi năm. Tuy vậy, cuối hè hoặc đầu thu, khi lá sồi ở vùng nầy đổi màu rất đẹp, tôi lại lái xe đưa nhà tôi đi xem lá dọc theo những con đường ở đây.

Chúng tôi trở lại xóm cũ, lòng thấy xao xuyến, bồi hồi. Con gái tôi cùng với các con, vì việc làm, việc học, cũng đã rời nơi nầy, sau chúng tôi không lâu. Đúng là cuộc sống Mỹ, như dân du mục, không ai ở chỗ nào được lâu, phải luôn luôn di dời để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn, như những cuộc westward của cha ông họ từ hàng trăm năm trước vậy.

            Với người Việt Nam thì khác, người ta không muốn rời nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ làng mà đi, hoặc đi đâu thì đi, rồi người ta cũng cố “dần dà rồi sẽ liệu về cố hương” như tâm trạng cô Kiều suốt trong những năm lưu lạc vậy.

            Tôi mang cái tâm trạng của người Việt Nam để luyến lưu một “làng Mỹ”, nơi tôi dừng chân ngắn ngủi của cuộc đời tha hương một người tỵ nạn. Tôi không tìm hiểu tại sao tôi lưu luyến ngôi làng nầy! Có phải nó đã cho tôi những ngày sống êm ả, sau một thời gian lâu dài cuộc đời một người chiến binh xông pha trên nhiều chiến trường hay sau nhiều năm dài tù tội. Nó cho tôi một chút “tự do” mà trước đây, tôi chưa từng biết rõ nó là gì, dù tôi vẫn mang danh là người chiến đấu để bảo vệ tự do cho miền Nam và phần thế giới chưa bị nhuộm đỏ.

            Dù nghĩ như thế nào, sự đồng cảm giữa hai người tỵ nạn, dù quê quán và chủng tộc khác nhau, vẫn để lại trong tâm hồn tôi một mối xúc cảm bùi ngùi khó quên…

            Năm nay, tôi tập lái xe cho cháu nội gái của tôi, nó mới 16 tuổi. Nó đang chờ thi “road test” sau khi đã có bằng thi viết. Nhân tiện, tôi biểu cháu gái lái xe theo đường 122 North, rồi vào con đường nhỏ, kế bên hồ Cốxt, nơi kỷ niệm của tôi thời gian cũ.

Tôi bảo cháu dừng xe rồi tìm một cái ghế trống bên bờ hồ để ngồi chơi.

            Được một lúc, tôi thấy ông Mỹ ngày trước. Ông chấp tay sau lưng, đi chầm chậm, đầu cúi xuống, không nhìn ngang ngữa.

            Câu chuyện một trăm đồng ông ta cho tôi ngày ấy, vẫn canh cánh bên lòng, mong có dịp trả lại hay ít ra nói một lời cảm ơn. Vì vậy, khi thấy ông ta, tôi vội vàng đứng lên, đi lại phía ông, và cất tiếng chào.

Thay vì chào lại, ông ta hỏi tôi, sẳng giọng:

-“What?”

Tôi ôn tồn nói:

            -“Ông nhớ không? Cách đây lâu lắm, tôi đã gặp ông ở đây.”

Ông ta vẫn sẳng giọng:

-“What?”

Tôi lại ôn tồn giải thích, hy vọng ông ta nhớ lại chuyện cũ:

“Ông đã cho tôi một trăm đồng.”

Ông ta vẫn sẳng giọng:

-“What?”

Tôi bối rối, không biết nói gì thêm. Ông ta bỏ đi, lẳng lặng, đầu cúi xuống, bước từng bước chậm rải.

Lúc ấy, đứa cháu gái tới đứng bên tôi, nói:

-“Ông nội! Ông ta điên đấy!”

-“Sao cháu biết?” Tôi hỏi.

-“Ông ta dạy ở Clark (2), giỏi lắm. Nghỉ dạy rồi, vì điên. Bạn cháu, đứa nào cũng biết ông.”

            Giỏi quá mà điên? Tôi thoáng nhớ tới điều tôi cho là “dị đoan”, nhiều người nghĩ: “Vì mồ mả, những người giỏi thường mắc bịnh điên”. Ông Bửu Giao, ông Bửu Viên, dạy cùng trường với tôi, thường điện “xăng-đít lên đơ-xăng-vanh”, như tôi thường nói đùa với bạn bè dạy cùng trường hồi ấy. Hay ông Ba Lan nầy điên vì thời cuộc, vì cuộc đời tha hương?

Cháu nội tôi giải thích:

-“Năm vừa qua, con gái ông chết đuối ở hồ nầy. Các bạn cháu nói, ông điên vì thương con.”

-“Gia đình đâu?” Tôi hỏi.

           – “Ông không có vợ, con gái ông là teacher của cháu, không có chồng. Camping ở đây, xuống tắm dưới hồ, bị trượt chân.”

Đúng là bọn “học trò nhiều chuyện”, chuyện gì chúng nó cũng biết. Hồi còn dạy học, tôi thường mắng đùa học trò tôi như vậy. Một lúc sau, cháu gái tôi nói:

-“Ngày nào ông cũng đi dọc theo hồ nầy. Bọn học trò nói là ông đi tìm con gái ông.”

            Chuyện đời buồn như vậy sao?

Khi trốn chạy khỏi quê hương, ông tìm cái gì? Tìm sự Sống, tìm Tự do, tìm Hạnh phúc cho ông và con gái ông. Mấy chục năm tỵ nạn ở quê người, ông ta có tìm được gì như ông mong muốn không? Mỗi ngày lang thang bên hồ này, ông tìm con gái nhưng có lẽ ông ta còn tìm một cái gì khác nữa chứ? Cái gì đè nặng lòng ông khiến ông phải đi tìm? Thương con, thương quê hương hay thương phận mình.

Phận mình?

Thương cái gì cho phận mình? Cái số phận là do mình tự tạo cho mình đấy chứ. “Ai đưa em đến chốn nầy, Bên kia là núi bên nầy là sông!”

Ca dao nói vậy. Nhưng đâu có “ai đưa”. Tự người ta đi tìm, tự người ta nhớ người tình mà đi tìm người tình, tự người ta thương chồng mà đi tìm chồng, mà đến đây. Cái nhớ hay cái thương ấy là do tự nơi lòng mình, đâu phải tại ai mà trách cứ?

            Người tỵ nạn tự xin đến định cư ở đây, phần đông đều thành công, cho chính họ hay con cháu họ. Tuy nhiên, tôi tự nghĩ bản thân tôi, khó hội nhập vào cái xứ sở nầy, không hẳn vì mầu da, chủng tộc.

Có lẽ sự khác biệt về văn hóa là yếu tố quan trọng nhất.

Người Châu Á, dù đi xa mấy rồi cũng liệu một ngày trở về cố hương. “Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi!” Tôi thì ly gia năm 16 tuổi, mà “lão đại” thì ly càng xa hơn nữa, hơn nửa vòng địa cầu.

Vậy thì tôi không buồn sao được nhỉ? Con cháu chúng ta, sinh ra và lớn lên ở cái “melting pot” nầy, sự hội nhập đối với chúng, không còn là vấn đề. Ông giáo sư nầy, ít có sự khác biệt về màu da, về văn hóa, sự hội nhập cũng không khó như người Việt chúng ta.

            Nhưng tôi không thể hiểu hết tâm trạng ông giáo sư tỵ nạn. Ông ta có nỗi buồn nào giống tôi khi lưu lạc nơi xứ người; nhưng rõ ràng, đời người rất đáng buồn, dù ở quê nhà hay ở đây cũng vậy thôi.

Cộng Sản làm cho người ta mất mát nhiều, nhưng đáng buồn nhất là cái chế độ đó làm cho chúng ta mất cuộc đời của chính mình, mất mát ngay cuộc đời của chính mình, để lưu vong nơi quê người.

Người Cộng Sản xây dựng cái gọi là “hạnh phúc” của họ trên sự mất mát cuộc đời của hàng triệu người khác, như thế, ít ra, như người Mỹ thường gọi, là “unfair” đấy. Người Việt chúng ta thì nói rõ hơn. Việc ấy là “bất công”, có khi còn gọi là “bất nhân” mới đúng đấy.

            Làm người thật là buồn. Cái buồn cuộc đời tỵ nạn của ông ta mà cũng là cuộc đời tỵ nạn của tôi.

            Để xa lánh cái buồn đó, nhất là khi thấy mình đã già, tôi tự nhủ có lẽ tôi không nên trở lại hồ nầy nữa.

Tôi phải tìm một chút gì vui, không muốn nghe, không muốn biết những điều gì đau buồn, dù của tôi hay bất cứ của ai. Đó là những gì mà tôi đã trốn chạy nó, từ lâu lắm rồi, từ khi tôi biết thế nào là đời, dù cuộc đời lưu lạc của cô Kiều mà cũng chính là cuộc đời lưu lạc của tôi.

Tôi phải tìm quên đi để mà sống nốt cuộc đời buồn. Vậy thôi!/

hoànglonghải

(1)-Bến đò Ca Cút ở trên phá Tam Giang, một bến phía biển và một bến phía đất liền, cách nhau khá xa, khách qua đò không nhiều, nên mỗi khi cần, khách phải gọi. Gặp lúc trời mưa hay mờ sương, bên nầy không thấy bến bên kia, khách phải gọi thật to, nhiều lần, người chèo thuyền ở phía bên kia chưa chắc nghe được, thành ra mới có câu tục ngữ “Kêu như kêu đò Ca Cút”, kêu mãi mà không nghe được.

(2)-Clark, một trường đại học nổi tiếng ở đây. Xem thêm “Một lần về thủ đô…” cùng tg.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Comment on hoànglonghải – Hồ “Coes”

  1. Ôi chao ôi,câu chuyện ông giáo sư người Ba Lan mà tác giả Hoàng Long Hải mô tả thật là cảm động,già tôi đang mải miết theo dõi hồi ký Vết Nám của tác giả,phần 9,định tắt máy thì thấy tựa bài này ngồ ngộ có gì bí ẩn đây,nên cố đọc xem ra sao,hay quá ông Hải ơi,mình nghĩ đây là chuyện thật,không phải hư cấu chứ ông Hải? Hơn nữa,nơi ông tả lại gần gũi với thành phố Netic,nhà thằng út tôi,cu cậu đang dạy ở đại học College of Boston,ngành sinh hoá,nơi nhà nó cũng ở trên đồi,tôi rất thích,ngày nào tôi cũng đi bộ lên xuống cả tiếng đồng hồ,nhưng đành chịu thua với cái rét ở đấy,nên hai vợ chồng lại trở về Houston/TX,vùng nắng ấm quen rồi sau khi vợ chống nó có người giữ trẻ khác. Cám ơn Thầy Hoàng Long Hải hỉ,bye.

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: