Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Cựu “học sanh”

Gởi Tuệ và Ủy, để nhớ thời thơ ấu ...

            Ông già té ngang xuống đường, đầu va vào bậc cấp nhà ông nghè Văn kêu đánh rắc một tiếng gãy gọn. Tôi nghĩ thầm: “Thôi rồi, ông già vỡ sọ, chắc chết ngay”.

Tôi bị ám ảnh bởi cái chết của một anh “ét” (1) xe đò mấy tháng trước mà tôi đã chứng kiến tận mắt. Người tài xế “de” xe lui, đụng nhằm anh ta làm anh té xuống đất, đầu ngang bánh xe sau và bánh xe cán lên đầu kêu đánh rắc một tiếng, cái đầu anh “ét” xe dẹp lép. Tôi nghĩ chắc ông già bị vỡ sọ rồi vì cái tiếng rắc gãy gọn chính là bởi đầu ông va vào bậc thềm xi măng cứng.

Hai, ba người cùng xóm chạy lại và khiêng ông già vào nhà ổng kế bên nhà ông nghè Văn. Tôi còn sợ cái đầu dẹp lép của anh “ét” xe nên thấy người ta khiêng ông già đi rồi thì cũng bỏ lơ đi luôn.

            Vậy mà ông già chưa chết.

Ông không hề hấn gì cả vì cái té đó. Tiếng rắc gãy gọn mà tôi nghe và tưởng là tiếng sọ vỡ thì tôi đã lầm. Đó là tiếng gậy trúc của ông khi rơi khỏi tay, gõ lên thềm xi măng cứng. Ông già đã 72 tuổi, sức yếu lắm rồi, đi đâu cũng phải có cái gậy làm trợ lực cho hai cái chân thịt đã teo lại, da nhăn nhúm như mớ giẻ rách và cái đít thì không còn thịt bao nhiêu, làm cho cái quần cháo lòng rộng thùng thình của ông lại càng rộng hơn khi che cái xương chậu có gắn hai cái xương đùi y như trong bộ xương cách trí, còn mình ông thì xương sống xương sườn lộ ra rõ ràng lắm, khiến người ta có thể đếm đủ 36 cái, không sót một cái nào, kể cả những cái xương sườn cụt, rất khó thấy.

            Thế rồi chỉ một tháng sau, cả xóm Chợ Xép của tôi người ta xôn xao hẳn lên, đi đâu cũng nghe bàn tán, – đàm tiếu thì đúng hơn – việc cụ Hường cưới vợ bé. Cụ Hường là ông già tôi nói ở trên.

            Ông làm quan Nam triều – Triều đình “Nước An-Nam” – từ cuối thế kỷ trước, trải mấy đời vua, từ Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, và cả ông vua cuối cùng nhà Nguyễn: Bảo Đại. Ông về hưu trước khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945.

            Người ta gọi ông là cụ Hường là gọi theo phẩm trật trong triều, mà lại kỵ húy nên gọi trại tên. Phẩm trật của ông là “Hồng Lô Tự Khanh”, so với đời bây giờ thì cũng tương đương như chức Tổng Giám Đốc. Nhưng người ta không gọi là Cụ Hồng (Hồng Lô Tự Khanh) mà lại gọi cụ Hường bởi “trọng húy” vì tên vua Tự Đức là Hồng Nhậm. Phạm huý là bị truất, bị cách, có khi bị tù dễ như không.

            1Từ khi ông có vợ bé rồi – Bà này mới 19 tuổi, nhỏ hơn tuổi cháu nội ông – thì ông già không còn chống gậy nữa, mặc dù, như người trong xóm vẫn nói đùa, mấy cái “bù loong” nơi đầu gối ông lại càng “rơ” hơn trước, tức là bị lỏng lẻo lắm vì quá “đát”, quá cái độ không còn bảo trì được nữa. Mỗi lần ông đi xuống nhà cầu ở cuối vườn nhà ông – Phải đi ngang cửa sổ nơi phòng tôi ở, ông làm bộ dáng đi mạnh bạo – Không chống gậy, dĩ nhiên – như một thanh niên còn tuổi trẻ, yêu đời. Có lần, anh Toàn, trung sĩ quân cụ, nhà ở sát vách tôi, thường qua nhà tôi chơi, nói:

            – “Mấy đứa bây lắng tai mà nghe, hễ cụ Hường có “bổ” (tiếng Huế, có nghĩa là té -tg-) thì bây ra khiêng cụ Hường vô. Cụ “chịu không nỗi” con vợ “nớ mô”! (ấy đâu -tg).

            Bọn chúng tôi, kể cả tôi, đã 16 tuổi chẳng biết gì, cũng cười theo anh Toàn. Sau đó bọn trẻ con làm ầm ĩ nhiều chuyện. Chẳng hạn như bỗng nhiên tụi nó la ầm lên câu đồng giao: “Cà lơ đôộng, ca lơ đèo, trèo lên trụt xuống”.

“Cà lơ” là tiếng Huế, chỉ các sắc dân ở trong rặng Trường Sơn như người Hmông, Rhadé, Bhanà… Còn “độộng”, tiếng nhà quê, có nghĩa là động. Chẳng hiểu chuyện gì mà bọn trẻ la ầm lên rồi cười đùa như thế nên một hôm tôi hỏi anh Toàn.

Anh ta cười, nói:

– “Bộ chưa biết chi cả? Trèo lên trụt xuống là ông già làm như gà.” – Sợ tôi chưa hiểu, anh ta nói tiếp – “Chú thấy gà trống đạp gà mái thì biết. Ông già làm lẹ như gà. Gặp tay tau thì phải biết, con “dỏ” (nhỏ) đó đeo riết tau.”

            Sau này tôi mới biết anh Toàn rình nơi cửa sổ phòng ngủ cụ Hường, thấy sao đó, nói ra cho người ta nghe mà tới tai bọn trẻ rắn mắt trong xóm tôi.

            Lại có hôm, chúng nó reo đùa “Lúa vàng, Lúa vàng” rồi.

“Lúa vàng” là tên bản nhạc dân ca của Mặc Hy mà cặp Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết hồi đó thường ca trên đài phát thanh Huế. Với bọn trẻ chúng tôi, đó là tiếng lóng, ám chỉ con gái mới lấy chồng hay vì bồ bịch mà không còn đời con gái nữa.

Trong đám trẻ ồn ào đó, có Huỳnh, con trai của chú tôi.

Huỳnh có cái miệng cười rất tức cười. Khi cười, môi trên anh ta téc lên, lộ rõ cả răng, lợi hàm trên và mắt anh ta như cười theo, đượm nét vui thỏa mãn. Toàn bộ khuôn mặt Huỳnh biểu lộ sự vui tươi, thoải mái, về một chuyện gì đó, hình như làm cho anh ta thích thú lắm.

Đang reo hò cùng bọn trẻ, anh ta ra về, trên mặt còn nguyên nét rạng rỡ, hồn nhiên vì câu chuyện vui anh vừa tham dự. Nhìn Huỳnh cười, nếu lòng tôi không có gì buồn bực, thế nào tôi cũng cười theo vì cái vui tươi nơi khuôn mặt anh truyền qua cho tôi.

Bà thím tôi, mẹ Huỳnh, là một người rất “Hoàng phái”, biết con bà tham gia vào đám trẻ ồn ào này mà lại “động chạm” đến cụ Hường, chắc chắn bà không để yên. Trong bữa cơm, bà nói với chồng:

            – “Ba mày coi. Thằng Huỳnh mấy bữa nay tụ tập với mấy đứa “mất dạy”. Ăn nói, chọc ghẹo người lớn là vô phép. Nói không nghe là quất cho mấy roi “đứt cái đầu”.

            Ông chú tôi bỏ chén cơm xuống. Chỉ chừng đó thôi là tôi thấy tình hình nghiêm trọng rồi.

Tuy nhiên, sau một hồi cật vấn thằng nhỏ, ông chú tôi la rầy nó cũng chỉ ở mức vừa phải. Có phải ông thông cảm nó vì việc làm trái trăng của cụ Hường mà ai ai cũng đàm tiếu nhiều quá đó chăng? Huỳnh đỏ mặt, cúi gầm xuống và từ đó, dù không bị la rầy gì nhiều, anh ta cũng không chơi với bọn trẻ nữa.

            Một hôm, tôi đang ngồi sát cửa sổ, học bài, thỉnh thoảng nhìn ra ngoài trời thì cụ Hường đi xuống nhà cầu, ngang qua cửa sổ tôi, tay vẫn không chống gậy.

Khi trở vào, cụ Hường dừng lại bên ngoài, hỏi tôi:

            – “Anh học trường Quốc Học?”

            Tôi đứng dậy, lễ phép:

            – “Thưa cụ, vâng.”

            – “Hai đứa cháu nội tôi cũng học ở Quốc Học. Ba nó cũng trường Quốc Học mà ngay chính tôi, cũng là “Cựu Học Sanh” trường Quốc Học.

            Tôi nói:

            – “Dạ, cháu biết cụ có học Quốc Học. Năm ngoái, lễ kỷ niệm 60 năm trường Quốc Học Ngô Đình Diệm (khoảng thời gian từ 1956 đến 1963, trường có tên như vậy -tg-), các cựu học sinh về dự đông lắm. Cháu thấy cụ có đi dự, mặc quốc phục, đi đầu, chung với mấy cụ già, cụ nào cũng chống gậy.”

            Tôi nói các cụ già chống gậy là nói một cách tình cờ, thấy sao nói vậy. Cụ Hường, có lẽ nghĩ khác, nên cụ nói:

            – “Bữa đó tôi hơi váng đầu, phải chống gậy. Bữa nay thì khỏe rồi.”

            Rồi cụ nói tiếp:

            – “Tôi học khóa đầu tiên.”

            – “Thưa cụ, vậy hả? Chắc hồi đó trường ốc chưa có gì?” -Tôi tò mò hỏi.

            – “Hồi xưa, đó là trại lính thủy của Nam Triều.” – Ông cụ giải thích – “Sau khi Pháp đô hộ rồi thì lính thủy Nam Triều bị giải tán, còn lại mấy cái lán không. Cụ Ngô Đình Khả, thân sinh của cụ Ngô bây giờ, nhà ở Phú Cam, mỗi ngày đi làm việc ở Tòa Khâm Sứ hay trong Đại Nội, tôi không nhớ, ngang qua nơi này, thấy trại bỏ không, mới nảy ra ý kiến dùng làm trường Quốc Học, dạy cho sĩ tử học chữ Quốc Ngữ và chữ Tây. Khóa đầu tiên khai giảng năm 1896. Tôi học khóa đó.”

            Tôi nghĩ ông cụ nói sai. Theo dư luận, mở trường Quốc Học là do ý định của vua Thành Thái. Thời nhà Ngô, những người ủng hộ ông Ngô Đình Diệm muốn đem cái công ấy mà gán cho cụ Ngô Đình Khả.

            Tuy nhiên, tôi vẫn hỏi, vì tò mò:

            – “Hồi đó cụ thi vô có khó không?”

            – “Có thi đâu!” – Cụ Hường trả lời – thi đậu xong thì bắt học thêm ở trường Quốc Học. Vở với bút chì phải lận dấu trong bụng. May mà mặc áo dài ta nên dấu cũng dễ.”

            Tôi ngạc nhiên hỏi:

            – “Sao lại phải dấu?”

            – “Ai cũng sợ mang tiếng là theo Tây. Học chữ Quốc Ngữ, chữ Tây là theo Tây, chống lại Triều Đình, chống lại dân mình. Dân người ta thấy, người ta chê cười mình nên phải dấu.”

            – “Vậy cụ Ngô Đình Khả đứng ra chủ trương mở trường Quốc học, không sợ mang tiếng theo Tây sao?” -Tôi lại hỏi.

            – “Gốc ông ta làm thông ngôn cho Tây thì sợ mang tiếng gì nữa. Với lại nhiều khi tôi cũng nghĩ, cụ ấy hơn người, nhìn xa thấy rộng, không thể bo bo với mớ chữ Nho xưa mà cứu nước được. Thời thế đã đổi thay. Anh không học thơ của cụ Trần kế Xương sao?” -Rồi ông cụ đọc tiếp:

                        Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,

                        Mười người theo học, chín người thôi

            “Thơ văn của ta mà không học là dốt lắm đó. Biết chưa?”

            Nói câu đó, cụ Hường gằn giọng, tỏ ý khó chịu về cái dốt của học trò ngày nay.

Tôi vội vàng nói:

            – “Thưa cụ, cháu có học. Trong chương trình lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ -tg-) đã có rồi. Bài thơ đó cháu cũng thuộc.”

            – “Vậy là tốt. Trường ni là nơi đào tạo nhiều nhân tài, nhiều người nổi tiếng. Học ở đó là để sau làm việc “ích quốc lợi dân”. Biết chưa?”

            Nói xong, cụ Hường bỏ đi vào nhà, chẳng thèm chào tôi. Đó là lần đầu tiên mà cũng là lần chót cụ nói chuyện với tôi trong khoảng thời gian tôi ở đây hơn ba năm.

            Tôi nhớ tôi thuộc nhiều thơ Trần Tế Xương và trong tiểu sử, người ta nói tên ông là Trần Tế Xương, có lúc đổi ra Cao Xương. Gọi Kế Xương như cụ Hường là không đúng. Có thời người ta đã lầm Tế là Kế. Cụ Hường bỏ đi rồi. Giả như cụ còn đứng đây, tôi cũng chẳng dám nói ra điều này, sợ làm mất lòng cụ.

            Còn cô vợ trẻ của cụ Hường, tôi nghĩ là vì mắc cở việc cô ta còn trẻ mà lấy một cụ già gần đất xa trời nên ít khi ló mặt ra đường.

Hằng ngày, cô vẫn phải đi ngang cửa sổ nhà tôi để làm cái việc vệ sinh như cụ Hường, nhưng đi về thì cô ta đi một mạch, đầu cúi gầm xuống đất, không nhìn ngang, nhìn ngữa, không nhìn ai.

            Một hôm, anh Toàn ngồi chơi với tôi nơi cửa sổ, nhằm lúc cô ta đi ngang qua. Thấy cô ấy, anh Toàn nói:

            – “Trời cho “vốn liếng” rứa mà không xài cũng uổng. Tau không để sẩy khỏi tay tau.”

            Tôi chỉ để ý chữ “vốn liếng” mà không hiểu là gì. Hỏi anh ta, anh ta cười:

            – “Trời, chú không thấy chi hết? Thiệt không? Bộ ngực không thua chi đào ciné, còn cái “khu đại chang” (tiếng Huế có nghĩa là đít bự -tg-). “Sách tướng nói đàn bà có 72 tướng dâm, con ni (này-tg-) có tới 73 tướng.”

            Rồi anh ta cười khoái chí, vểnh bộ râu mà bọn trẻ thường gọi lầm là râu dê!

            Sau đó, nhiều đêm học bài khuya, tôi nghe tiếng chân người nhảy qua hàng rào giữa nhà tôi và nhà cụ Hường rồi đi về phía nhà bên cạnh. Có hôm tò mò, tôi hé cửa sổ ra xem. Nhờ ánh đèn đường, tôi thấy anh Toàn.

            Lại một đêm, thay vì tiếng chân người đi bình thường thì lại là tiếng chân thình thịch chạy nhanh. Cửa sau nhà cụ Hường mở rộng ra, đèn nhà chiếu hắt ra ngoài. Bóng cụ Hường thấp thoáng ở cửa. Tiếng cụ la to nhưng tôi không nghe rõ cụ nói gì. Sau đó là tiếng khóc của người con gái, có lẽ là tiếng vợ bé cụ Hường.

            Sau những tiếng náo động ban đầu, không khí yên tĩnh trở lại. Bây giờ tôi nghe được tiếng cụ Hường la rầy: “Mi phản tau thì tau chém đầu mi”.

Tôi thấy buồn cười. Cụ Hường thôi làm quan rồi mà cụ nói kiểu y như cụ còn chức tước ngày xưa. Vả lại, dù có làm quan đời bây giờ, cụ cũng chẳng chém được ai. Vậy mà cụ vẫn quen kiểu nói của vua quan, hễ động một chút là đòi “chém đầu”. Tôi đoán mò là giữa anh Toàn và cô vợ bé cụ Hường chắc có gì đây.

            Ở cái xóm nhỏ của tôi, việc gì trong nhà rồi người ngoài đường cũng biết hết, y như câu tục ngữ: “Trong nhà chưa rõ, ngồi ngõ đã hay”. Sáng hôm sau, người ta đồn ầm lên chuyện cô vợ bé cụ Hường ngoại tình với trung sĩ Toàn.

Nửa đêm, cụ dậy đi tiểu, bắt gặp hai người đang ngủ say như chết. Cụ yếu quá, chưa kịp đưa cái gậy lên đánh thì anh Toàn đã kịp mặc quần xà lỏn chạy mất tăm rồi. Biết cụ yếu nên hai người mới lộng như thế.

Từ đó về sau, cửa sau nhà cụ Hường đóng kỹ lắm. Mỗi lần cô vợ bé của cụ đi nhà cầu ở vườn sau, dù ban ngày, cụ Hường cũng đi theo. Mặt cụ bao giờ cũng hằm hằm. Thấy tôi ngồi học bài nơi cửa sổ, cụ chẳng thèm hỏi han như trước.

Việc người ta mà tôi bị ghét oan!

            Chỉ một tháng sau thôi, xóm tôi lại ồn ào việc cô vợ bé cụ Hường “Trốn nhà theo trai”. Trai là trung sĩ Toàn đấy. Thật ra, người ta “ác khẩu” đấy. Cô ta chỉ vì buồn tình mà bỏ nhà đi thôi.

            Rồi anh Toàn cưới vợ. Dĩ nhiên, cô dâu không phải là cô ấy. Ai lại “trai tơ cưới gái nạ dòng”, nhất là nhà giàu như nhà anh Toàn, bố anh ấy là chủ xe đò. Nhưng chuyện cưới vợ của anh Toàn cũng buồn cười. Trong khi hai họ trai gái đang làm lễ thì cô dâu mặc áo cưới tự động một mình ra khỏi nhà, chú rể lái xe đến chờ sẵn ngoài đường, đón cô dâu về nhà mình.

Thầy bói nói là hai người này có số “chồng đường vợ sá”, không cưới hỏi và rước dâu đàng hoàng được. Đón dâu ngoài đường như thế thì hai người ở với nhau mới bền. Còn cô vợ bé cụ Hường sau khi trốn khỏi nhà, sau khi trung sĩ Toàn cưới vợ, không ai trông thấy và bàn tán gì đến cô ta nữa.

Tuyệt tăm!

            Cũng chỉ ít tháng sau những chuyện đó mà thôi, cụ Hường bệnh đột ngột rồi qua đời. Ở cái xóm lắm chuyện này, chuyện cụ Hường cưới vợ bé, “chịu không nỗi” cô vợ trẻ hay nhớ thương cô ấy quá mà chết như người ta đồn khắp xóm, rồi cũng qua đi như bao nhiêu chuyện khác.

Chuyện cụ Hường chỉ là những dư âm cuối cùng của “chế độ phong kiến”, cũng như việc ra đi lẵng lặng của ông vua cuối cùng nhà Nguyễn vậy.

Những dư âm đó vội tắt bởi vì thời thế đã đổi thay, quan niệm về hôn nhân, hưởng lạc đã khác xưa nhiều lắm. Nó cùng với những hoạt cảnh, bích chương, truyền đơn bôi lọ ông Bảo Đại trong cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” ngày 23.10.1955 làm cho người ta thấy đó chỉ là những hưởng thụ bê tha, trụy lạc của một thời vua quan, chẳng ai nhắc đến làm chi nữa, chỉ là một đống tro tàn, ai buồn khơi ra để tìm một chút lửa mọn?

Người ta biết chắc là lửa đã tắt rồi, thời kỳ “áo mão cân đai” đó qua hẳn rồi. Ông vua cũ Bảo Đại, dù có trở về mặc áo long bào, ngồi lại trên ngai vàng, chưa chắc có nhiều người đến bái lạy và tung hô “Vạn tuế Đức Kim Thượng” như ngày xưa, để mong cầu một chút ơn vua lộc nước.

Chỉ mới mười năm kể từ ngày vua Bảo Đại thoái vị, câu chuyện cũ đã quá cũ, không ai còn mơ tưởng đến triều đình làm chi nữa. Người ta có vô Đại Nội thăm điện Thái Hòa, lầu Kiến Trung, cung Diên Thọ, nhìn sân chầu với hai hàng tượng đá, ắt hẳn cũng vì tò mò chớ không chắc họ muốn tìm lại một “hồn thu thảo” như Bà Huyện Thanh Quan ngày trước.

Khúc quanh lịch sử về những sự kiện xảy ra năm 1945 làm thay đổi triệt để quan điểm chính trị của người dân Huế vốn chịu ảnh hưởng nặng nề nếp sống vua quan.

Tấm màn sân khấu đã khép lại. Anh kép nghèo đóng vai vua đã cởi bỏ áo mão, mặc áo may-ô, quần xà lỏn, đang ngồi ăn chịu tô cháo gà khuya sau sân khấu.

Chấm dứt một tấn tuồng!

            Còn tôi?

            Chỉ một năm sau tôi cũng rời cái xóm nhỏ thân yêu thời niên thiếu ấy. Và cuộc đời phiêu bạt của một người chiến binh đưa tôi rời cố đô, lê gót khắp miền Nam lửa khói, lên tận vùng cao nguyên nắng bụi mưa bùn, tới Saigon hoa lệ và băng rừng lội suối tận Cà Mâu, Hà Tiên, điểm tận cùng đất nước. Có bến bờ nào mà tôi chưa đặt gót chân phiêu bạt? Và bến bờ cuối cùng ở mũi ông Trang, trong một đêm mưa gió đã âm thầm đưa tôi rời xa đất nước, bắt đầu một kiếp người khác, trôi giạt nơi xứ người.

&

            Tết năm rồi, Cộng đồng người Việt ở thành phố tôi đang cư ngụ có tổ chức “Họp Mặt Tất Niên” mời đồng bào đến dự. Trưởng Ban Tổ Chức là một ông bạn tôi quen từ trước 1975 ở Việt Nam, vì chút tình riêng, gọi tôi đến chơi. Lâu lâu, gặp được đông đảo người Việt, gợi nhớ quê hương, an ủi tâm tình vọng quốc, nên tôi hăng hái tham gia mặc dù biết chắc bữa họp mặt đó, như ông bạn nói, chỉ có chút kẹo bánh, nước ngọt, không có “Thịt mỡ dưa hành, câu đối đỏ…” và…bia Budweiser như cái “gu” của dân nhậu ở đây.

            Đang vui nửa chừng, bỗng có người quen yêu cầu tôi bày tỏ ý kiến.

Chết! Ý kiến gì bây giờ? Đang vui ngày Tết, nói bậy bạ, lớ ngớ không chừng bị người ta chưởi cho. Cuối cùng, tôi nảy ra một ý: Thôi đành kể một chuyện vui, chuyện của “Xứ Huế tui” chó cắn “không răng mô” làm ai cũng cười.

            Vừa về chỗ ngồi, bỗng có đứa bé gái Mỹ rất là Mỹ, tóc tai mũi mắt gì đều Mỹ hết mà lại nói tiếng Việt rất là Việt, không sai một âm, đến bên tôi, vòng tay lễ phép:

            – “Bà ngoại cháu ngồi đằng kia xin mời ông lại chơi.”

            Tôi nhìn theo hướng đứa bé chỉ. Một bà già tóc đã bạc lắm, mặt mày béo tốt, phúc hậu nhìn lại hướng tôi, cúi đầu chào rất lịch sự. Miệng bà hơi mĩm cười. Tôi chào lại rồi giã từ mấy người ngồi cùng bàn, đi theo đứa bé gái. Bà già chỉ ghế mời tôi ngồi, mời tôi uống nước rồi hỏi thăm:

            – “Tôi nghĩ chắc cậu – xin lỗi – ông, người Huế.”

            Cậu là tiếng để gọi người ngang tuổi mẹ mình hay nhỏ tuổi thua mình. Bà ta tính gọi tôi bằng cậu là theo cái ý thứ hai. Tôi cười, nói đùa:

            – “Thưa bà, vâng. “Quê hương tui ngoài… nớ!”

            Nghe tôi nói đùa tiếng nhà quê Miền Trung, bà ta cười. Tôi lại hỏi:

            – “Rứa” (thế -tg) chắc bà với tui cùng xứ với… “dau”!

            Bà ta đột ngột hỏi:

            – “Ông ở chợ Xép? Tôi nhớ mang máng như vậy!”

            – “Hay thiệt! Bà nói hay thiệt! Nhưng tôi ở đó hồi còn đi học thôi. Sau này có gia đình, tôi ở lung tung nhiều nơi cho tới khi đi lính, lưu lạc vào trong Nam.” – Tôi nói.

            – “Tôi nghĩ ông không nhận ra tôi, nhưng nếu như hồi đó ông có ở Chợ Xép thì ông biết chuyện tôi.”

            – “Thưa bà, tôi ở Chợ Xép khá lâu nhưng bà không nói rõ chuyện gì thì tôi không nhớ được. Xóm nhỏ mà, chuyện gì chẳng hay.”

            Bà ta nói, giọng buồn buồn:

            – “Thôi, chuyện cũ mà! Chuyện buồn, nhắc lại làm gì. Nhiều khi tôi muốn quên Việt Nam, quên hẳn đi, nhưng rồi như có một cái gì đó thôi thúc, như ngày hôm nay chẳng hạn, không muốn đi rồi cũng phải đi. Giống như khế chua vậy. Biết chua mà vẫn muốn ăn.”

            Tôi cải:

            – “Quê hương là chùm khế ngọt chớ! Bà không nghe người ta hát đó sao?”

            Bà già cười, chua chát:

            – “Ngọt là với những ai được ưu đãi thôi. Quan to, chức lớn, bỗng lộc nhiều, luôn luôn có kẻ hầu người hạ, vợ lớn, vợ bé, bảy tám chục tuổi cũng còn cưới vợ bé như cụ Hường nhà tôi ngày xưa, vàng bạc để từng rương thì quê hương là chùm khế chua thế nào được. Còn như tôi, trước khi về với cụ Hường, cuộc đời đã chua xót lắm rồi mà bỏ nhà cụ Hường ra đi lại càng đau đớn hơn nữa. Cái chuyện tôi ra đi hồi đó nhiều khi muốn tâm sự mà chẳng biết thố lộ cùng ai… ”

            Tôi ngồi trầm ngâm không biết nói gì trước những lời oán trách số phận của người đàn bà đã già này mà tôi đoán chắc bà là cô vợ bé của cụ Hường ngày xưa.

Một lúc lâu, tôi nói:

            – “Việc làm cụ Hường tôi thấy chẳng có gì sai. Ông Nguyễn Công Trứ bảy chục tuổi cũng còn cưới vợ bé. Cụ nói đùa là “Ngủ thập niên tiền, nhị thập tam”. (Năm mươi năm trước, tôi 23 tuổi). Vấn đề là do ở chế độ vậy. Vua có hàng ngàn cung phi thì quan có năm bảy vợ. Họ nghĩ là họ có quyền hưởng thụ… ”

            – “Vậy ông nói đàn bà là phương tiện của đàn ông sao? Không có bình đẳng, không có nhân phẩm… ” Bà ta gay gắt ngắt lời tôi.

            – “Chỉ là ngày xưa thôi, thời “phong kiến”. – Tôi cười, nói chữa lời. Còn bây giờ thì “Lệnh ông thua cồng bà”. Nói chung thì vậy, còn nói riêng từng người thì mỗi người một số phận. Giày dép còn có số. Suy cho cùng thì Tạo Hóa… bất công. Người thì được phận may, người toàn xui xẻo, chẳng ai giống ai.”

            – “Nói số phận thì cũng để an ủi mình mà thôi.” -Bà già nói- “Ông nội tôi ngày xưa giỏi chữ Nho lắm, không ra làm quan được vì khi ông có đủ chữ để đi thi thì vua đã bỏ thi theo cái lệ xưa. Ông nói theo sách tử vi thì tôi có số đào hoa. Đàn bà có cái số này thì đường tình duyên coi như hỏng, giống như ngọn lá trên cây trong câu thơ gì đó mà tôi không nhớ.”

            – “Vâng, vâng. “Chi nghinh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong”. “Dập dìu lá gió cành chim, sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh”. Truyện Kiều nói vậy mà. Cô Kiều có cái số đào hoa nên phải mười lăm năm lưu lạc!” -Tôi giải thích.

            – “Nhằm nhò gì. Tôi gấp đôi cái mười lăm năm đó. Mười chín tuổi tôi đã phải bán mình để mẹ có tiền chuộc cha ghẻ tôi ra khỏi tù. Tới bây giờ già như thế này gi mới yên thân.” -Bà ta nói.

            Tôi tò mò hỏi:

            – “Tôi vẫn còn cái thắc mắc của cả xóm hồi đó. Tại sao bà chịu lấy cụ Hường?”

            Giọng buồn bã, bà ta trả lời:

            – “Tôi đã nói rồi đó. Con gái nhà quê mà lại nghèo thì vậy thôi. Vậy mà tôi còn đi học được chút đỉnh đó. Hy sinh cho gia đình là điều lương tâm bắt buộc. Nhưng tôi thường oán ông già tôi, ông bỏ đi kháng chiến thành ra mẹ tôi mất nơi nương tựa, con cái không ai chăm sóc, nuôi nấng… ”

            Tôi góp ý:

            – “Làm sao vẹn toàn được cả nợ nước, tình nhà. Đi kháng chiến chống Pháp là hy sinh cho đất nước.”

            Bà già cười cười nói:

            – “Nhìn bên ngoài thì vậy nhưng hoàn cảnh mỗi người mỗi khác. Ông nội tôi có mặc cảm nhà Nho thất chí, có học mà bị bọn lý trưởng trong làng chèn ép. Hồi Việt Minh lên, cho con theo Việt Minh là để trả thù đời vì lúc đó ông nội đã già, không làm gì được ai. Đến khi Tây tới thì ông già tôi lỡ theo Việt Minh rồi, muốn về cũng không về được. Với lại cha ghẻ tôi hồi đó làm lý trưởng, mê mẹ tôi dữ lắm, sợ cha tôi về thì ông mất mẹ tôi nên ổng hăm, nếu cha tôi về ổng sẽ cho ở tù rục xương. Ông già tôi nhát gan, sợ không dám về, đành chịu mất vợ. Vậy rồi 54 ông tập kết ra Bắc luôn, lấy vợ khác ngoài đó, nay trở thành người cách mạng.”

            Tôi nói, giọng oán trách:

            – “Chiến tranh làm cho nhiều gia đình ly tán, mất mát… ”

            – “Khổ nhất là đời con gái, lại là con gái nhà nghèo như tôi.” -Bà già nói tiếp, giọng buồn bã.- “Không nói ông cũng biết, biết bao nhiêu người con gái trong Nam này có số phận như tôi. Có con đường nào khác cho tôi đi?! Làm sao có được một tấm chồng Việt Nam cho đàng hoàng?! Ông thấy cháu ngoại tôi thì ông biết phận tôi rồi đó… ”

            Tôi lại tò mò:

            – “Rồi bà rời Việt Nam trước 1975?”

            – “Đâu có ông! Ông ấy về Mỹ, biểu tôi theo, tôi không về. Quê hương mình, mình ở. Vả lại, lúc ấy tôi có tiền. Tôi khá giả lắm. Tôi làm cho mẹ tôi một cái nhà ngói lớn ở dưới làng, tính về ở với mẹ, với em, nuôi con, ước mong một đời sống yên lành nơi chôn nhau cắt rún. Không ngờ sau 75, mẹ tôi qua đời, chị em tôi lại ly tán. Ngoài quê đói khổ quá, tụi nó tìm vô Nam. Ông già tôi ngoài bắc về chưởi mắng tôi đủ điều, nào là “Ôm chân đế quốc”, nào là “Bơ thừa sữa cặn”, nào là làm xấu hổ phụ nữ Việt Nam, không biết “Kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang…. ” Cuối cùng tôi phải đem con vượt biên, quê mẹ không dung thì nó đành về quê cha… ”

            – “Bây giờ chắc ông cụ vẫn khỏe?” Tôi lịch sự hỏi.

            – “Khỏe làm sao được ông! Theo “Cách mạng” mấy chục năm bây giờ tháng nào cũng kêu đói. Bên nầy tôi phải gởi tiền về chu cấp, “Mỹ quốc viện trợ”. Hồi trước tôi lấy chồng Mỹ có tiền làm nhà cho mẹ mà ông ta chưởi tôi thiếu đường tắt bếp thì bây giờ nhà ấy ông ở cùng với bà vợ Bắc kỳ. Buồn cười nhất là bà này. Hồi ở ngoài Bắc mới vô, bả hách lắm, chụp hình nón cối dép râu sang thật to treo trong nhà, hù thiên hạ chơi, coi mẹ tôi với tôi như rác rưởi. Bây giờ gởi thư cho tôi, tự nhún mình, xưng là dì – dì ghẻ đó – chẳng qua cũng để xin tiền. Nói ra thì tội trời, không gởi tiền cho thì không được mà gởi tiền cho thì suy cho cùng, họ có cái tình gì với mình đâu!”

            Tôi đánh lãng qua chuyện khác:

            – “Bà có thấy bên Mỹ này khác với mình nhiều lắm không. Người ta coi trọng đàn bà.”

            Bà già cười:

            – “Chắc không? Tôi thì tôi cho rằng đàn ông hay đàn bà, ai có quyền, có tiền thì hơn, nô lệ người khác được. Trời thì lại bất công, không cho đàn bà có được sức lực và trí óc như đàn ông nên ở đâu họ cũng bị đàn áp, bị biến thành trò chơi. Hồi trước Mỹ đi đánh giặc bên Việt Nam cũng vậy, mà bây giờ ở đây cũng vậy, nhiều thằng dê cụ, hay coi thường đàn bà, đàn bà Mỹ cũng như đàn bà Việt Nam, tụi nó xổ dê hoài.”

            – Ý bà muốn nói các vụ sexual harrassement chớ gì. Nhưng mà ở Mỹ, đàn bà đứng hàng thứ hai, sau trẻ con” – Tôi nói.

            – “Tôi hỏi ông một câu.” – Bà già trả lời – “Xứ Mỹ là xứ luật pháp. Đàn ông Mỹ họ không xúc phạm đàn bà là vì họ tôn trọng phẩm giá của người đàn bà hay vì họ sợ luật pháp? Hai cái này khác nhau. Ông trả lời được câu đó mới trúng vấn đề.”

hoànglonghải

            (1) Người Huế gọi là “ét” xe, theo tiếng Pháp là aide. Phụ tài xế. Người miền Nam gọi là “lơ” xe đò.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: