Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Tiền tử tuất

Cảnh bắt thanh niên trốn quân dịch tại Sài Gòn
Cảnh bắt thanh niên trốn quân dịch tại Sài Gòn

Cảnh bắt thanh niên trốn quân dịch tại Sài Gòn

1)-Biên bản chấp cung:

Hôm nay là ngày xxxx, tháng xxx, năm 1970.

Chúng tôi là: XXX, cấp bậc: Thiếu úy. Phụ tá Hình Cảnh Lại Tòa Sơ Thẩm Tỉnh XXX. Chức vụ: Trưởng cuộc CSQG xã XXX. Quận: XXXX. Tỉnh: Gò Công. Có Trung sĩ Nguyễn Phương làm thư ký đánh máy.

Chấp cung đương đơn.

-Hỏi về lý lịch, đương đơn khai:

-Họ và Tên: Tô Văn Lai. Tuổi 55. Nghề nghiệp: Làm nông. Căn cước số: XXX. Trình độ học vấn: Biết đọc biết viết. Ngụ tại ấp Xóm Thủ 1. Xã XXX. Quận Hòa Lạc. Tỉnh: XXX. Gia cảnh: Có vợ. Một con trai tên Tô Văn Có, đã tử trận ngày XXX, tháng XXX, tại: XXX.

Cùng với đương đơn có vợ tên là: XXX. Tuổi 56. Nghề nghiệp: Nội trợ. Căn cước số: XXX. Cùng nghe hỏi và theo dõi trả lời của chồng.

-Hỏi về con trai, đương đơn khai:

-Vợ chồng tôi chỉ có một người con trai duy nhất tên là: Tô Văn Có.

Năm Có 18 tuổi, (1949), thay vì thi hành quân dịch, Có tình nguyện gia nhập Biệt Động Quân, cấp bậc: Binh nhì. Phục vụ tại Tiểu Đoàn XXX. Đóng ở Cao Nguyên Trung Phần.

Cùng tình nguyện nhập ngũ với con tôi, có: Mai Văn Đực, cùng tuổi, con ông Mai Văn Thực, và bà Lê Thị Thức, người cùng chòm xóm.

Một năm sau, ca hai người cùng đào ngũ, về lại nơi cư ngụ nói trên. Cả hai trốn trong ruộng, vì sợ Quốc Gia bắt bỏ tù.

-Hỏi lý do Có đào ngũ, đương đơn khai:

-Con tui mới 18 tuổi mà xa nhà lâu quá! Đi lính hơn một năm mà chưa cho về phép. Nhớ cha mẹ, hai đứa rủ nhau về nhà rồi đào ngũ luôn.

-Hỏi lý do đi lính trở lại, đương đơn khai:

-Trốn trong ruộng chưa được nửa năm, con tui tình nguyện đi lính trở lại. Nó ra chợ, chỗ có cái bàn ghi tên tình nguyện nhập ngũ, nó khai tên tuổi, nhận tiền thưởng, bữa sau nó trình diện đưa đi quân trường.

-Hỏi lý do khai tên tuổi Mai Văn Đực, đương đơn khai:

-Khi con tui tình nguyện nhập ngũ trở lại, nó rủ Mai Văn Đực cùng đi; Đực từ chối. Nó sợ súng đạn. Con tui nói nhập ngũ rồi, có chứng chỉ tại ngũ, nó sẽ cho Mai Văn Đực mượn để dễ đi lại, không sợ Cảnh Sát bắt. Vì thương bạn nên nó mới dùng khai sinh Đực để đăng lính.

-Hỏi về Tô Văn Có tử trận, đương đơn khai:

-Con tui tình nguyện đi lính Nhảy Dù. Ra tiểu đoàn chưa được nửa năm thì tử trận ở bên Miên. Xác được đưa về Saigon.

-Hỏi về việc chôn cất Tô Văn Có, đương đơn khai:

-Khi con tui tử trận, tui được thông báo. Tui với vợ tui lên Saigon thì được biết con tui đã được chôn cất ở Nghĩa Trang Gò Vấp. Tui qua đó thì thấy mộ phần được xây đắp đàng hoàng. Tui nghĩ thôi để con tui nằm đó cũng được, có bạn bè, đồng đội cho vui. Còn như đưa về xứ tui thì Quân Đội cũng bốc mộ lo cho, nhưng xứ tui không có đất cao. Chôn ngoài cồn thì vắng vẻ buồn bã lắm.

Tui có khiếu nại mộ bia ghi tên con tui là Mai Văn Đực, chớ không phải tên thiệt của nó là Tô Văn Có. Tui có khiếu nại.

-Hỏi về việc khiếu nại, đương dơn khai:

-Tui có khiếu nại, nhưng ông trung úy chỉ huy ở Gò Vấp nói ông không biết chuyện nầy, biểu tui khiêu nại bên Sư Đoàn Dù. Tui qua bên đó hỏi thì họ nói việc nầy thuộc về Tư Pháp, tui phải khiếu nại ở Tòa Án tỉnh của tui.

-Hỏi về việc khiếu nại, đương dơn khai:

-Tui có biết chữ nghĩa gì đâu mà khiếu nại. Cuối cùng, ông xã trưởng Nguyễn Thành Thông xã tui, sai một anh thư ký xã giúp, làm đơn thưa ở Tòa Sơ Thẩm. Bên Cảnh Sát gọi lên gọi xuống mấy lần rồi mà chưa thấy kết quả chi cả.

-Hỏi đương đơn được Cảnh Sát gọi điều tra mấy lần rồi, đương đơn trả lời:

-Ba lần.

-Hỏi về thời gian kể từ khi thưa ra tòa là bao lâu, đương dơn khai:

-Gần một năm.

-Hỏi về tiền Tử Tuất và Trợ Cấp Tổ Phụ do Ty Thương Binh Xã Hội cấp, đương đơn khai:

-Tui không nhận được đồng nào cả. Nghe nói cha mẹ Mai Văn Đực có nhận được mấy chục ngàn, hàng tháng nhận tiền Cấp Dưỡng Tổ Phụ gì đó. Có tiền, họ mua thêm mấy công ruộng và mua thêm nửa miếng vườn nhà bên cạnh để trồng màu.

-Hỏi về việc đương đơn khiếu nại về tiền Tử Tuất và Cấp Dưỡng Tổ Phụ, đương đơn khai:

-Tui chỉ xin lại sự công bằng. Tui nuôi con khôn lớn, vì nhiệm vụ mà hy sinh cho Tổ Quốc. Chánh phủ có thương tưởng tới cha mẹ tử sĩ, thì tui mới là người được hưởng số tiền ấy. Tiền ấy đưa cho ông Mai Văn Thực là không công bằng. Tui khiếu nại là để xin lui số tiền ấy.

-Hỏi về số tiền Mai Văn Thực đã lãnh, đương đơn khai:

-Về số tiền ông Mai Văn Thực đã nhận, đúng ra là của tui, để xin chánh quyền giải quyết. Còn từ nay về sau, số tiền trợ cấp chánh phủ cho, tui xin được nhận số tiền ấy, không giao cho ông Mai Văn Thực nữa.

Biên bản chấp cung nầy chấm dứt lức XXX giờ, cùng ngày.

Đương đơn và vợ cùng nghe đọc lại, và cùng đồng ý, không thêm bớt gì nữa và cả hai cùng ký tên dưới đây.

Kính trình ông biện lý.

2)-Biên bản chấp cung.

-Hôm nay là ngày xxx, tháng xxx, năm 1970

Chúng tôi là: XXX, cấp bậc: Thiếu úy. Phụ tá Hình Cảnh Lại Tòa Sơ Thẩm Tỉnh XXX. Chức vụ: Trưởng cuộc CSQG xã XXX. Quận: XXXX. Tỉnh: Gò Công. Có Trung sĩ Nguyễn Phương làm thư ký đánh máy.

Chấp cung bị đơn:

-Hỏi về lý lịch, bị đơn khai:

-Họ và Tên: Mai Văn Thực. Tuổi 65. Nghề nghiệp: Làm nông. Căn cước số: XXX. Ngụ tại ấp Xóm Thủ 1. Quận Hòa Lạc. Tỉnh: XXX. Gia cảnh: Có vợ. Một con trai tên Mai Văn Đực, chết.

Cùng với đương đơn có vợ tên là: Lê Thị Thức. Tuổi 64. Nghề nghiệp: Trồng màu. Căn cước số: XXX. Cùng nghe hỏi và theo dõi trả lời của chồng.

-Hỏi về Mai Văn Đực và các con, bị đơn khai:

-Con tui tên là Mai Văn Đực. Anh nó là Mai Văn Chuối, chết năm 1965. Có ba con gái đều lấy chồng.

-Hỏi riêng về Mai Văn Đực, bị đơn khai:

-Trước đây, Mai Văn Đực với bạn cùng chòm xóm là Tô Văn Có đi lính Biệt Động Quân. Khoảng hơn một năm, cả hai đều đào ngũ.

-Hỏi về lý do đào ngũ, bị đơn khai:

-Khi cả hai cùng nhập ngũ, người nào cũng mới hơn 18 tuổi. Đi lính cả năm không về, nhớ cha mẹ, nên cả hai trốn phép về thăm cha mẹ, rồi đào ngũ luôn, sợ bị phạt, không dám trở về trình diện đơn vị.

-Hỏi Mai Văn Đực đào ngũ rồi là gì, bị đơn khai:

-Cả hai kéo nhau dựng môt cái chòi nhỏ ở trong ruộng, ngày ngày làm đồng, làm cá giúp đỡ cha mẹ. Được ít lâu, Tô Văn Có trở lại nhập ngũ, dùng khai sinh con trai tôi tên là Mai Văn Đực.

-Hỏi lý do Tô Văn Có dùng khai sinh Mai Văn Đực, bị đơn khai:

-Vì tình chòm xóm, Có nói hai đứa chỉ đi lính một đứa thôi, khi có chứng chỉ tại ngũ và căn cước quân nhân, Có gởi về cho con tôi dùng để đi lại, còn Có thì khai mất để xin bản khác (phó bản).

-Hỏi về tội đào ngũ và dùng giấy tờ giả mạo, bị đơn khai:

-Có có gởi giấy tờ về cho con tui, con tui bỏ ruộng về nhà ở. Cảnh Sát không biết gì cả, nhưng Trưởng Ấp Mười Giò của ấp tui (ấp Xóm Thủ 1) biết, bèn tới nhà biểu con tui đi lính đi, không được làm việc trái luật pháp.

-Hỏi về Trưởng Ấp Mười Giò làm khó dễ, đòi tiền hối lộ, bị đơn khai:

-Trưởng ấp Mười Giò không có làm khó dễ, chỉ biểu con tui đi lính, không đòi tiền bạc hối lộ chi cả. Nhưng con tui không nghe lời.

-Hỏi tiếp về Mai Văn Đực, bị đơn khai:

-Sợ Trưởng ấp Mười Giò, con tui lại trốn vô ruộng. Trưởng ấp Mười Giò biểu tui nhắn con về mà đi lính.

-Hỏi tiếp về Mai Văn Đực, bị đơn khai:

-Tình hình an ninh càng ngày càng khó khăn. “Cách Mạng” hoạt động càng ngày càng mạnh.

-Nhắc nhở bị đơn, không được gọi là “Cách Mạng”, phải gọi là “Việt Cọng”, bị đơn khai tiếp:

-“Dziệt Cộng từ bên Thượng Đức (1) về hoạt động mỗi đêm, kêu gọi con tui theo họ. Ban đầu, con tui không muốn đi, sợ nguy hiểm. Rồi đêm nào họ cũng về tuyên truyền, hăm dọa con tui làm tình báo cho Mỹ Ngụy, túng thế, con tui phải theo họ, bỏ cái chòi lá ngoài ruộng, mà qua bên Thượng Đức(1) với họ.

-Chúng tôi nhắc nhở bị đơn không được gọi là Mỹ Ngụy, phải gọi Chánh Quyền Quốc Gia và Quân Đội Cộng Hòa. Hỏi tiếp về hoạt động của Mai Văn Đực, sau khi theo Việt Cộng, bị đơn khai:

-Theo Dziệt Cộng con trai tui làm du kích, canh gác và bảo vệ các cán bộ từ bên Thượng Đức, vượt sông Cửa Đại về hoạt động phía bên nầy sông, xã Phú Thạnh Đông.

-Hỏi về hoạt động của cán bộ Cộng Sản, bị đơn khai:

-Tui không được rõ. Có môt lần, con tui nhắn tui qua Thượng Đức, tui chèo ghe một mình qua bên ấy.

-Hỏi về bị đơn qua Thượng Đức có báo cáo gì Quốc Gia cho Việt Cộng không, bị đơn khai:

-Tui quanh quẩn trong ấp, không biết gì về lính tráng để khai. Tui qua bển là vì con trai tui nhắn về.

-Hỏi nhắn qua vì việc gì, bị đơn khai:

-Nhắn qua là để cho tui ba chục ngàn.

-Hỏi về số tiền ba chục ngàn, bị đơn khai:

-Con tui đi theo ông Kinh Tài Huyện thu thuế máy cày vì mùa cày đang tới. Ông Kinh Tài Huyện thu thuế khẳm lắm, cho con tui ba chục ngàn, biểu con tui giấu, không được nói cho ai biết só tiền thu thuế máy cày cả.

-Hỏi tiếp về hoạt động Mai Văn Đực, bị đơn khai:

-Tới giữa mùa cày, ông Kinh Tài Huyện cùng con tui bên Thượng Đức về, qua sông Cửa Đại. Tới giữa sông thì bị tàu Giang Cảnh phát hiện bắn chết cả hai.

-Hỏi về cái chết của Mai Văn Đực, bị đơn khai:

-Con trai tui bị bắn chết, Giang Cảnh cho kéo xác lên ấp Pháo Đài, xã Phú Thạnh Đông, rồi biểu dân ở đó đào lỗ đem chôn. Con gái tui có chồng ở ấp Pháo Đài nhận ra xác em nó, bèn nhắn tui qua. Tui bỏ xác con trai tui trên ghe, chèo về ấp Xóm Thủ 1, chôn ở trên cồn, là nơi có mấy ngôi mộ dân làng chôn sẵn ở đó.

-Hỏi về số tiền Tử tuất và Cấp Dưỡng Tổ Phụ do Ty Thương Binh Xã Hội cấp hàng tháng, bị đơn khai.

-Sau khi Tô Văn Có chết trận rồi, Ty Thương Binh Xã Hội tư giấy về gọi Mai Văn Thực là tui, ra tỉnh lãnh tiền Tử Tuất, sau đó nhận Cấp Dưỡng Tổ Phụ hằng tháng.

-Hỏi về số tiền Tử Tuất và Cấp Dưỡng Tổ Phụ, bị đơn khai:

-Tiền Tử Tuất tui nhận là một trăm hai chục ngàn, Cấp Dưỡng Tổ Phụ mỗi tháng là một ngàn sáu trăm đồng.

-Hỏi về tiền Cấp Dưỡng Tổ Phụ, bị đơn nhận được mấy tháng rồi, bị đơn khai:

-Tui không nhớ rõ, khoảng một năm.

-Hỏi về con trai Mai Văn Đực theo Việt Cộng bị Quốc Gia giết, bị đơn khai là đúng.

-Hỏi về con bị của bị đơn không đi lính Quốc Gia mà làm du kích Việt Cộng lại lãnh tiền Tử Tuất của Quốc Gia, bị đơn khai là đúng.

-Hỏi về con theo Việt Cộng lại lãnh tiền Quốc Gia, bị đơn xác nhận một lần nữa là đúng.

-Hỏi về số tiền đã lãnh của Quốc Gia, phải là cho Tô Văn Lai lãnh mới là hợp lý, vì người hy sinh cho Tổ Quốc là Tô Văn Có, con của Tô Văn Lai, bị đơn xác nhận ông Tô Văn Lai nhận tiền mới là đúng.

-Hỏi tại sao con không chết vì Quốc Gia mà lại lãnh tiền trợ cấp của Quốc Gia, bị đơn khai:

-Không biết chi hết, Quốc Gia biểu ký tên nhận tiền rồi về nên làm y theo.

-Hỏi về có trả tiền “trà nước” gì cho y Thương Binh Xã Hội không, bị đơn khai:

-Không biết, họ đưa bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu.

-Hỏi số tiền nhận có khớp với số tiền ghi trong biên nhận không, bị đơn khai là:

-Không nhớ.

Biên bản chấp cung nầy chấm dứt lức XXX giờ, cùng ngày.

Bị đơn và vợ cùng nghe đọc lại, và cùng đồng ý, không thêm bớt gì nữa và cả hai cùng ký tên dưới đây. (Ghi chú: Hai vợ chồng đều dốt chữ nên lăn tay dưới đây)

Kính trình ông biện lý.

(ghi chú):

Thưa ông Biện Lý,

Xã Thượng Đức, thuộc quận Bình Đại, tỉnh Kiến Hòa bên kia sông Cửa Đại, là căn cứ của Việt Cộng.

Ấp Pháo Đài tọa lạc giữa sông Cửa Tiểu và Cửa Đại, thuộc sông Tiền Giang, xã Phú Thạnh Đông, Quận Hòa Bình, Tỉnh Gò Công. Ấp nầy có Pháo Đài xây hồi Pháp thuộc nên được đặt tên như vậy.

2)-Trình diện ông Biện Lý

Sau khi chấp cung hai bên nguyên bị, Thiếu úy Khang gởi hồ sơ vụ án cho ông Biện Lý Lê Đình H., Tòa Sơ Thẩm Gò Công.

Chưa được một tuần, ông Biện Lý cho gọi Khang lên trình diện.

Sau khi đứng nghiêm chào kính xưng tên họ xong, ông Biện Lý ôn tồn biểu Khang: “Thiếu úy ngồi xuống đây, tôi hỏi chút chuyện.”

Khang nói “xin phép” rồi ngồi xuống cái ghế trước “buy-rô” ông Biện Lý. Ông liền nói:

-“Tôi có thể làm văn thư gởi cho Thiếu úy, yêu cầu điều tra cũng được, nhưng việc nầy, tôi nghĩ phải làm gấp cho xong, nên gọi Thiếu úy lên hỏi việc cho chóng.”

Khang “dạ” nhỏ.

Biện lý hỏi:

-“Thiếu úy có biết tại làm sao phải làm gấp không?

Khang nói: “Dạ thưa không!”

Biện lý nói tiếp:

-“Bây giờ “mấy ông đối lập” ở Quốc Hội với mấy ông “Hội Đồng Tỉnh” quậy dữ lắm. Họ muốn kiếm điểm để sắp tới tranh cử, nên có việc chi hơi lôi thôi một chút là họ mần um lên. Việc thưa kiện nầy cũng đã cả năm chưa động đậy gì tới, nên tôi phải làm gấp để mấy chả khỏi lợi dụng.”

-Khang nói: “Dạ, tui cũng nghĩ vậy.”

Biện lý hỏi:

-“Ở xã thiếu úy, tình hình chung như thế nào?”

Khang hỏi: “Ông Biện lý muốn hỏi về tình hình gì? An ninh hay kinh tế.

-“Anh nói an ninh trước đi.”

-“Thưa mấy năm nay được yên. Từ thời Tướng Nguyễn Viết Thanh tới ông Lê Văn Tư làm tỉnh trưởng, mấy ông “đuổi” Viẹt Cộng dữ lắm. Việt Cộng xuất hiện ở đâu, mấy ông đích thân tới ngay. Việt Cộng đặt “mọọc” pháo vô tỉnh, ông Quận trưởng chưa kịp tới chỗ đặt súng thì ông Tỉnh trưởng đã tới rồi. Riết rồi Việt Cộng chịu không nỗi, rút vô “Đám lá tối trời” cũng không yên, nên phải chạy qua Kiến Hòa, bên nầy được yên.”

-“Việc ấy tôi biết rồi. Tôi muốn hỏi xã anh.” Biện lý hỏi.

-“Dạ! Cũng vậy. Không còn “Hạ tầng Cơ sở Cộng Sản”. Ai có cảm tình với Việt Cộng đều bị dân chúng theo dõi chặt nên không có chuyện chi xảy ra.”

-“Dân chúng theo Quốc gia có đông không?” Biện lý hỏi.

-“Dân họ muốn ở yên để làm ăn. Điều đó là trước nhứt.” Khang trả lời.

-“Còn về trộm cắp, cướp giựt?” Biện lý hỏi.

-“Hôm kia tui được dân báo cho biết có chiếc xe Honda ai bỏ giữa lộ. Tưởng là của ăn cắp bỏ lại, ai ngờ của ông thầy giáo làng, nhậu say về khuya quá, chạy xe không nỗi nữa, bèn bỏ xe giữa lộ mà bò về nhà. Chiếc xe không ai lấy. Tình hình như vậy là êm lắm!”

-“Về kinh tế?” Biện lý lại hỏi.

-“Xã bây giờ làm nông được, cũng trúng mùa, nhưng ai có tiền, ít chịu mua ruộng.” Khang nói.

-“Sao vậy?” Biện lý hỏi.

-“Xứ tui ruộng không lớn, chỉ xài máy Kubota cầm tay! Còn như công cấy, công cày, tìm không ra.” Khang trả lời.

-“Sao vậy?” Biện lý hỏi.

-“Cày thì phải có sức trai. Tụi nó đi “quân dich quân gà” hết, thanh niên còn ai mà cày. Còn như cấy, gặt thì cũng tàm tạm, con gái làm được. Nhiều cô học trò cấp 3, vừa học thi tú tài, vừa làm ruộng. Vất vả lắm.”

-“Anh thấy như trong biên bản hỏi cung. Hai gia đình nguyên bị có con trai đều chết cả. Mai mốt nước mình dân số già hết.” Biện lý nhận xét.

-“Ông Biện lý nói sao, tui chưa hiểu.” Khang hỏi.

-“Có gì đâu! Thanh niên chết cả, chỉ còn ông bà già. Nước mình thành nước già. Chiến tranh dài quá, chán thật.” Biện lý giải thích.

Khang nghĩ thầm trong trí, không lý ông Biện lý là thành phần phản chiến? Cái nầy đáng cho đi “lao công chiến trường”.

Một lúc, Khang nói:

-“Dân họ đang đồn với nhau “Người cày có ruộng”. Ở xứ tui chắc Tổng thống Thiệu thua to.”

-“Thua to là sao?” Biện lý hỏi.

-“Dân xứ tui buồn cười lắm. Có ruộng làm mùa “mệt”, tìm không ra người cày, tìm không ra công gặt. Người ta đi làm “dzần công” (vần công) khỏe hơn. Hết làm cho chủ ruộng nầy, qua làm chủ ruộng khác, lấy lúa hay lấy tiền. Hết mùa lúa, qua trồng màu. Phần đông là đàn bà con gái, chỉ đủ sức làm chừng đó, không giàu nhưng đủ ăn cả năm.”

-“Còn ruộng?” Biện lý hỏi.

-“Ruộng cho cũng không lấy. Lấy về ai cày ai bừa? Đàn ông con trai có ở nhà đâu? Ông Một Lục đang ngất ngư!” Khang trả lời.

-“Ông Một Lục nào?” Biện lý lại hỏi.

-“Ông nầy dân Tây. Con chủ điền, nhà giàu lắm. Hồi Chiến tranh thứ hai, ông bị gọi đi lính, qua Tây. Hết chiến tranh, đóng loon quan Một, được cho về nước. Ông thứ sáu nên dân chúng gọi là Một Lục. Hiện giờ ông có khoảng gần một ngàn mẫu ruộng. Nếu không giao cho tá điền, ruộng ông không truất hữu được, làm sao ông lãnh được tiền bồi thường “Người cày có ruộng”. Ít ra cũng cỡ chục triệu. Ông ấy lo là phải.”

-“Nhưng ai làm ruộng cũng được vay tiền?” Biện lý hỏi.

-“Vâng, ai có cỡ vài ba công ruộng, cũng được Ty Điền Địa cho vay vài chục ngàn để làm ruộng. Hết mùa thì trả. Nhưng vay được tiền mà không thuê được người cày, người cấy thì ruộng bỏ hoang được đâu! Chết là ở chỗ đó.”

Ông Biện lý nghe xong, thở dài.

            Một lúc, Khang nói:

            -“Ông Biện lý tha lỗi, đúng ra là tui trình diện ông Biện lý ngày hôm qua; nhưng hôm qua, có tin tình nghi Việt Cộng về xã tui, tui phải đi.”

            -“Anh mới nói xã của anh yên lắm, sao bây giờ lại nói Việt Cộng về.” Biện lý hỏi.

            -“Tin “dổm”, ông Biện lý. Mới sáng sớm, Xã báo cho tui biết trưởng ấp Long Thạnh Đông báo về, nói tình nghi Việt Cộng từ bên quận Hòa Bình qua. Nhân Dân Tự Vệ tuần tra thấy dấu chưn in rõ trên cồn. Tui rủ ông Ba Mẹt, nguyên Phó Xã trưởng An Ninh cùng đi với tui, kêu thêm vài nhân viên của tui. Về tới nơi, xem dấu chân thì có người từ bên Hòa Bình về thiệt, đi vô xóm. Ba Mẹt nói với tui: “Không phải Việt Cộng đâu! Thằng Tư Đáng trốn quân dịch, từ bên Hòa Bình lén về thăm vợ. Điều tra con vợ nó, biết ngay.”

            “Tui với Ba Mẹt vô hỏi con vợ Tư Đáng; nó chối ngoay ngoảy. Ba Mẹt chơi đòn tâm lý, nói: “Mày nói thằng Tư Đáng không về. Về là có ngủ với mày. Không về là nó không ngủ. Mai mốt cái bụng mày chang bang, tao bắt về Xã nọc đòn ra đánh, mày ngủ với ai mà chữa hoang. Lúc đó đừng năn nỉ tao nghe!”

            “Con vợ thằng Tư Đáng nghe hăm, sợ quá, nói thiệt. Tối qua, trời có trăng, thằng chồng nó vè dặm giúp cho nó mấy chục vồng cải để bán Tết. Xong, gần sáng nó lại trốn qua Hòa Bình.

            “Ba Mẹt mánh lắm. Hỏi một chặp, con nhỏ khai khi thằng chồng lúc mới về, ngủ với nó một lần. Trồng cải xong, vô ngủ với nó một lần nữa, rạng sáng còn chưa đi. Nếu trời tốt, chạy xe Honda về kịp là “múm” được đầu thằng chồng rồi. Đường ruộng, mùa mưa, đất dính sình, tui phải cởi “bốt đờ-xô” vắt lên vai, lội ruộng mà đi mới được đó.”

-“Anh khoái bắt quân dịch lắm hả?” Biện lý hỏi.

-“Khoái gì đâu! Thấy đau lòng. Hôm ở ấp Bà Lụa, Trưởng ấp gọi về báo thằng “Ba Lan” trốn quân dịch, lén về thăm vợ. Tui với Ba Mẹ cùng đi. Về tới ấp, Ba Mẹt chui vô nhà con dzợ bé, tui với hai nhân viên, vô nhà thằng Ba Lan. Thấy động, nó chui vô trốn trong cái kệ tủ cũ để ở nhà sau. Tui đi vòng lui, rọi bèn “pin” vô cái kệ, cửa đóng không kín, hở một đường bằng ngón tay. Tui thấy một đường vàng như da người hiện ra nơi đường hở. Nó mặc quần xà lỏn, ngồi co chưn, da bày ra. Biết nó trốn trong đó, tự nhiên tui thấy khớp. Tui kêu hốt hoảng “Anh Tư” – Tư Ngọc, nhân viên của tui. Tư Ngọc nghe tui kêu cũng hốt hoảng chạy tới. Tư Ngọc chỉa súng vô kệ nói: “Ra không! Tui bắng nè!” Thằng Ba Lan run lập cập, mở cửa chui ra. Tư Ngọc còng tay dẫn đi.

Ra tới sân, vợ nó bồng đứa con nhỏ trên tay, chạy theo khóc lóc: “Mấy ông đừng bắt chồng tui mấy ông ơi! Chồng tui đi lính ai nuôi mẹ con tui. Chắc tui đi ăn mày mấy ông ới!”

            “Nghe tiếng “Mấy ông ơi!” tui cũng muốn chảy nước mắt. giặc giã chi mà khổ dzầy.”

            -Biện lý hỏi: “Anh có đọc “Thạch Hào lại” của Đỗ Phủ không?”

            -“Dạ có. Năm tôi học lớp Đệ Nhị, ông thầy Việt Văn có đọc cho nghe!”

            -“Anh còn nhớ câu nào khong?”

            -“Dạ nhớ! Lõm bõm.” Rồi Khang đọc:

Chiều trú Thạch Hào thôn
Ðêm có lại bắt người.
Ông lão vượt tường trốn
Bà lão ra cửa coi.
Lại quát tháo, ghê thật!
Bà kêu khổ, thương ôi!
Thoạt nghe bà lão thưa:
“Ba con đi lính trấn,
Một đứa gửi tin về:
Hai đứa vừa chết trận,
Ðứa sống, sống qua ngày.
Ðứa chết đành thiệt phận.
Trong nhà chẳng có ai
Chỉ đứa cháu bú mẹ. (1)

            Biện lý bảo: “Thôi anh đừng đọc nữa. Tôi lại khóc mất!

            Một chốc, Biện lý hỏi: “Anh uống nước không? Tôi biểu đem cho anh.”

            -“Thôi! ông Biện lý, tui không khát.” Khang nói.

            Một chốc, Khang hỏi ông Biện lý:

            -“Ông Biện lý đọc “Động rắn chúa” chưa?”

            -“Của Lê Xuyên phải không?” Biện lý nói.

            -“Xã tôi, Xã trưởng, Xã Phó như động rắn chúa. Tui cười hoài.”

            -“Sao? Tôi chưa rõ.”

            -“Xã tôi có mười ấp. Ông Xã trưởng có 9 bà ở 9 ấp. Ấp thứ mười là vợ ông. Phó Xã An Ninh cũng bốn năm bà gì đó. Hôm tui với ông ta đi ấp Bà Lụa, tui thì lo bắt thằng Ba Lan, còn ông thì vô nhà Bà Tư, vợ bé ông ta. Bà nầy góa chồng, có thằng con trai lính Biệt Động Quân, tử trận. Kế vách nhà bà là nhà cô Hoa, con gái, có đứa con nhỏ, cũng có chồng lính tử trận. Bà thì cặp với ông Ba Mẹt, con gái bà cặp với một anh cán bộ “Xây Dựng Nông Thôn”. Đâu có phải một mình xứ của ông Lê Xuyên mới có “Động rắn chúa.”

            -“Xây Dựng Nông Thôn” cũng quậy lắm à?” Biện lý hỏi.

            -“Không có đâu!” Việt Cộng sợ đám nầy dữ lắm. Họ hoạt động từng ấp, từng nhà, nhà nào mà chứa Việt Cộng được! Cũng có nhiều anh ma mãnh. Khi chọn nhà để vào công tác, thấy có đòn sào phơi nhiều quần áo đàn bà con gái thì xin vô phục vụ.” Nói xong, Khang cười. Ông Biện lý cũng cười theo.

            -“Tình hình an ninh rồi sẽ xấu đi.” Khang nói.

            -“Tại sao?” Biện lý hỏi.

            -“Từ khi chính phủ bắt trưởng cuộc Cảnh Sát kiêm luôn chức Phó Xã trưởng An Ninh, trưởng cuộc nói Nhân Dân Tự Vệ không nghe. Đêm đi canh gác, có người mặc áo trắng. Biểu họ thay áo màu, họ nói không có áo. Hồi trước, Phó Xã trưởng An Ninh là dân địa phương, đâu có tình trạng chống ngầm như thế đâu!” Khang nói.

            -“Như vậy là anh muốn nói tới tính cách tự trị của làng xã Việt Nam?” Biện lý hỏi.

            -“Trước khi có việc nầy xảy ra, “Phối trí viên” (2) có gọi các Trưởng cuộc về phỏng vấn. Tui có nói rồi. Tự trị là truyền thống của làng xã Việt Nam. Bây giờ là Phó Xã trưởng An Ninh, xưa, là Khán thủ, Trương tuần, Hương quản. Người của làng, không phải là người của quan trên đưa xuống. Ông Biện lý đọc “Thầy Hương Quản” rồi chớ gì? Đụng chạm vô việc tự trị của làng là không được đâu. Dân không hợp tác với người của chính quyền. Làm việc ở xã, tui phải kèm với Ba Mẹt đi cùng, không có ông ta như “ếch ngồi đáy giếng”. Khang giải thích.

            -“Còn tư cách “Hình cảnh lại” thì sao?” Biện lý hỏi.

            -“Phó Xã trưởng An Ninh làm “Hình cảnh lại” cũng được vậy.” Khang nói.

            -“Nhưng họ không có trình độ để chấp cung, khi tôi cần.”

            -“Trước đây, Trưởng Cuộc là mấy ông trung sĩ Cảnh Sát, trình độ tới đâu! Chấp cung thường là việc của Cảnh Sát viên, trình độ của họ bây giờ ít ra cũng có bằng tiểu học. Viên chức xã ấp cũng có trình độ ngang vậy. Mở cho họ vài khóa học, họ làm được ngay. Một thời gian, họ có kinh nghiệm. Ông Biện lý lo gì.” Khang lại giải thích.

            -“Hôm về họp ở Bộ, tui cũng có nói tới việc tự trị làng xã. Nhưng tôi nghe loáng thoáng nói chính quyền muốn đưa người của chính quyền vào làng xã, để chuẩn bị cho các cuộc bầu cử về sau, nhất là bầu Tổng Thống. Bộ Trưởng Tư Pháp, tối Cao Pháp Viện là người do Tổng Thống chọn. Tình hình như thế thì nói làm gì vô ích, cũng đi dần tới chế độ độc tài, dân chủ chỉ là mạo hóa thôi.”

            Khang ngồi yên, không có ý kiến gì cả.

            Một lúc sau, ông Biện lý nói: “Ta đi vào vụ án điều tra đi!”

            Khang trả lời “Vâng”.

            -“Theo tôi,” Biện lý nói, “phải chấm dứt việc trả tiền cấp dưỡng tổ phụ cho Mai Văn Thực mà chuyển cho Tô Văn Lai được lảnh. Sau đó, Mai Văn Thực phải trả lại cho Tô Văn Lai tất cả số tiền Tử tuất và tiền cấp dưỡng Mai Văn Thực đã lảnh.”

            Khang nói: “Vâng, làm như thế là hợp lý.”

            -“Nhưng Mai Văn Thực có đủ tiền trả lại cho Tô Văn Lai không? Nếu không có đủ, phải giải quyết bằng cách nào.”

            -“Tiền tiêu lung tung hết rồi, nhà chỉ đủ ăn, lấy đâu mà trả cho người ta. Nhà Tô Văn Lai cũng nghèo lắm, vợ chồng già không đủ ăn.”

            -“Nếu vợ chồng ông Lai có cấp dưỡng tổ phụ thì có đủ sống không?” Biện lý hỏi.

            -“Theo tui nghĩ thì đủ. Người nhà quê họ có tiêu pha bao nhiêu đâu! Kẹt là Mai Văn Thực sợ không đủ tiền trả lui cho ông Lai.” Khang nói. “Hay buộc ông Thực giao lại mấy công ruộng với sở vườn ông Thực mua bằng tiền lảnh được cho ông Lai. Vậy cũng “Trả của Xê-Da lại cho Xê-da”. Khang nói tiếp.

            -“Nhưng rồi ông Thực lại nghèo. Vợ chồng già lấy chi sống. Không lý yêu cầu Chính Phủ của ông Huỳnh Tấn Phát trả tiền trợ cấp cho ông ta. Con ông “hy sinh vì Việt Cộng” mà./

(1)-Thạch Hào Lại

Mộ đầu Thạch Hào thôn,
Hữu lại dạ tróc nhân.
Lão ông du tường tẩu,
Lão phụ xuất môn khan.
Lại hô nhất hà nộ,
Phụ đề nhất hà khổ!
Thính phụ tiền trí từ:
“Tam nam Nghiệp Thành thú
Nhất nam phụ thư chí
Nhị nam tân chiến tử.
Tồn giả thả thâu sinh,
Tử giả trường dĩ hỹ!
Thất trung cánh vô nhân,
Duy hữu nhũ hạ tôn.
Hữu tôn mẫu vị khứ,
Xuất nhập vô hoàn quần.
Lão ẩu lực tuy suy,
Thỉnh tòng lại dạ quy.
Cấp ứng Hà Dương dịch,
Do đắc bị thần xuy”.
Dạ cửu ngữ thanh tuyệt,
Như văn khấp u yết.
Thiên minh đăng tiền đồ,
Độc dữ lão ông biệt.

Dịch nghĩa:

Chiều tối chạy vào thôn Thạch Hào,
Có viên lại bắt người ban đêm.
Ông lão vọt tường tẩu thoát
Bà già ra cửa nhòm.
Viên lại hò hét sao mà dữ dằn thế!
Bà lão kêu van sao mà khổ thế!
Lắng nghe bà lão tiến lên thưa:
“Ba con trai đều đi thú ở Nghiệp Thành,
Một con trai vừa gửi thư cho biết:
Hai con trai vừa chết trận.
Đứa còn sống qua ngày
Đứa chết thế là hết!
Trong nhà quả không còn người,
Chỉ còn đứa cháu đang ấp vú
Vì có cháu nên mẹ cháu chưa đi,
Ra vào không có lấy một manh quần lành.
Bà lão này tuy sức đã yếu
Cũng xin theo về ngay đêm nay,
Ứng phó gấp rút việc phục dịch ở Hà Dương
Cũng còn nấu được bữa cơm sáng tối”.
Đêm khuya tiếng nói im bặt
Vẫn còn nghe tiếng nấc nghẹn ngào.
Sáng mai khách lên đường
Chỉ còn từ biệt một mình ông lão!

Bản dịch của Khương Hữu Dụng:

Chiều ghé xóm Thạch Hào,
Quan bắt người nửa đêm.
Ông già vượt tường trốn,
Bà già ra cửa nhìn.
Viên lại quát đà dữ!
Bà già van đà khổ!
Van rằng: “Có ba trai
Thành Nghiệp đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn,
Hai đứa vừa chết trận.
Đứa chết đành thôi rồi,
Đứa còn đâu chắc chắn!
Trong nhà không còn ai,
Có cháu đang bú thôi.
Mẹ cháu chưa rời cháu,
Ra vào quần tả tơi.
Tuy sức yếu già đây,
Xin theo ngài đêm nay,
Đến Hà Dương còn kịp,
Thổi cơm hầu buổi mai.”


Đêm khuya lời đã tắt,
Dường nghe khóc ấm ức.
Sáng ra chào lên đường,
Chỉ cùng ông lão biệt.

 

Tháng hai năm 759, quân đội triều đình nhà Đường đánh bại An Lộc Sơn, thu phục Trường An. Tháng ba năm 759, bộ tướng của An Lộc Sơn là Sử Tư Minh lại phản công. Quân triều đình đại bại ở Nghiệp Thành, chết trên mười vạn. Tướng Quách Tử Nghi phải lui về cố thủ ở Hà Dương. Đường Túc Tông hoảng hốt gấp rút sai bọn nha lại đi vét lính bắt phu bừa bãi ở các châu huyện đồng thời ra sức bóc lột dân chúng. Trên đường từ Lạc Dương về Hoa Châu nhậm chức mới, Đỗ Phủ đã thấy tất cả những thảm trạng nói trên và viết nên 6 bài thơ “Tam lại” và “Tam biệt”. “Thạch Hào lại” thường được xem là bài thơ tiêu biểu nhất trong hai chùm thơ nói trên.

Ba bài thơ “Đồng Quan lại”, “Tân An lại” và “Thạch Hào lại” được gọi là “Tam lại”.

(Theo Thi Viện)

(2)-Phối Trí Viên: Cố vấn Mỹ trong ngành Cảnh Sát

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: