Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Biến Động với Biến Loạn

1            Sách Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh, giải thích chữ “Động” có nghĩa là hoạt động, chấn động, cảm động… và “Loạn” có nghĩa là Lộn xộn, không có trật tự. Loạn dân, có nghĩa là “Những người làm loạn” (rebelles). Loạn đảng là bọn làm loạn để phản kháng chính phủ (émeutiers).

            Để rõ hơn, tôi tra trong Khai Trí Tiến Đức Từ Điển: Động Làm, phát khởi, lay chuyển, không yên. Loạn: Rối loạn, không yên trị. Nước loạn. Loạn thần là kẻ bầy tôi phản vua.

 

            Sở dĩ tôi phải tìm hiểu kỹ một chút như vậy vì tên hai cuốn sách, hầu như giống nhau, chỉ khác có một chữ rất quan trọng, sách của ông Liên Thành thì nhan đề là “Biến Động Miền Trung” và sách của ông Lê Xuân Nhuận thì đề là “Biến Loạn Miền Trung”.

            Hai cuốn sách nầy khác gì nhau?

            Là hai cuốn sách nói về hai biến cố ở miền Trung, ở hai thời điểm khác nhau, đặc biệt là ở Huế, về hai biến cố:

            a)-Cuộc đấu tranh của Phật Giáo Đồ năm 1966,

            b)-và những hoạt động nhằm lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa của nhóm linh mục Trần Hữu Thanh, qua cái gọi là “Phong Trào Chống Tham Nhũng”, nhiệm vụ lãnh đạo ở Huế là do linh mục Nguyễn Kim Bính, cha xứ họ đạo Phú Cam.

1)- Bối cảnh cuốn sách thứ nhứt.

            Tham vọng của tướng Khánh trong “Hiến Chương Vũng Tầu”, khiến ông phải từ chức. Bác sĩ Phan Huy Quát lên thay.

            Vì tình hình chính trị không ổn định, tháng 5/ 1965, Bác sĩ Phan Huy Quát thay đổi nội các nhưng bị phe Thiên Chúa Giáo biểu tình phản đối dữ dội. Mâu thuẫn giữa Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu, tín đồ đạo Cao Đài và Thủ Tướng Phan Huy Quát, một Phật tử, không giải quyết được. Qua tháng sáu năm đó, Bác sĩ Quát từ chức thủ tướng. Các tướng lãnh nắm chính quyền dưới danh xưng “Hội Đồng Quân Lực”.

            Việc quân đội nắm chính quyền là động cơ chính khiến Phật Giáo đồ biểu tình phản đối.

            Ở tình trạng nầy, có hai vấn đề quan trọng nảy sinh:

Một là quân đội nắm chính quyền, không có hiến pháp; luật pháp không rõ ràng. Quân đội có thể nhân danh đất nước, tình hình khẩn trương mà lạm quyền. Chính Thiếu tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ đã cho xử bắn Tạ Vinh ở bùng binh chợ Bến Thành, dằn mặt mọi phe phái chính trị, tôn giáo, những ai không ủng hộ nhóm quân nhân nầy chớ không riêng gì đám gian thương Ba Tàu ở Chợ Lớn.

            Hai là, từ sau khi chế độ nhà Ngô bị lật đổ, Phật giáo Bắc-Nam-Trung hợp nhất, càng ngày càng mạnh lên. Đó là mối lo ngại cho người Mỹ, mặc dù họ nắm được Quân Đội, Tài Chánh, nhưng không kiểm soát được đa số dân chúng. Trong viễn tượng đó, chia rẽ Phật giáo đồ là điều người Mỹ phải làm.

            Và họ đã làm: Phật Giáo miền Nam lui về Chùa Xá Lợi. Phật giáo miền Bắc, lui về Chùa Vĩnh Nghiêm. Phật giáo miền Trung lui về chùa Ấn Quang, là cứ điểm.

            Hai phe Bắc/ Trung giành nhau Việt Nam Quốc Tự. Nơi nầy trở thành ngọn lửa để đốt cháy bông hoa sen Phật Giáo Việt Nam. Người Mỹ trong tòa đại sứ Mỹ ở Saigon cảm thấy an tâm!

            Thất bại ở Saigon, ông Trí Quang cùng một vài nhà sư khác lui về Huế, mở ra cuộc đấu tranh chống chính quyền Quân Đội, đòi hỏi:

            a)-Quân Đội phải rút lui, trao chính quyền lại cho phe dân sự

            b)-Tổ chức bầu cử, thiết lập những định chế căn bản cho một chế độ dân chủ.

            Chủ trương của Phật giáo là không nhằm lật đổ chính phủ.

            Nhận định về cuộc đấu tranh nầy, ông Lê Xuân Nhuận viết trong “Biến Loạn Miền Trung” như sau:

            “Tháng 3 năm 1966, nhân dịp Trung-Tướng Nguyễn Chánh Thi (Tư-Lệnh Quân-Đoàn I & Vùng I Chiến-Thuật, mà bản-doanh đóng tại Đà-Nẵng), vì công-khai chỉ-trích hai Tướng Thiệu+Kỳ là bất-công và tham-nhũng, nên bị cách-chức; đồng-bào Đà-Nẵng đứng lên biểu-tình, rồi Huế cũng xuống đường theo. Đa-số là Phật-Tử. Tại Saigon các Tướng Thiệu+Kỳ và Đại-Sứ Mỹ Henry Cabot Lodge, Jr. điều-đình với Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất, kết-quả là Viện Hóa-Đạo tuyên-bố không chống chính-phủ mà chỉ đòi hỏi bầu-cử và thành-lập chính-phủ dân-sự. Chính-quyền không nói rõ có chấp-thuận hay không, nên các cuộc biểu-tình vẫn tiếp-diễn. Thiếu-Tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên-bố là cộng-sản đã xâm-nhập vào phong-trào tranh-đấu ở miền Trung, và sẽ dùng vũ-lực để tái-lập an-ninh. Lời tuyên-bố đó đã đổ thêm dầu vào lửa.

           

            Như ông Lê Xuân Nhuận nhận định ở trên, “chính quyền Quân nhân không nói rõ chấp thuận hay không nên các cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn…”

            Bên cạnh đó, sự mâu thuẫn giữa các tướng lãnh, đặc biệt giữa Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Quân Khu I, Vùng I Chiến Thuật, và các Tướng Thiệu, Kỳ vì vấn đề tham nhũng, đã lôi kéo một số tướng lãnh, một số đông sĩ quan cao cấp và trung cấp cùng binh lính thuộc Vùng I tham gia các cuộc biểu tình cùng với Phật Giáo đồ chống lại chính quyền Quân Nhân ở Saigon.

            Cuối cùng, với sự tiếp tay về phương tiện chuyển vận của Mỹ, chính quyền Quân Đội Saigon đã đem binh lính đàn áp các cuộc biểu tình ở Đà Nẵng và Huế, ổn định an ninh trật tự.

            Về mục đích, việc chống đối nầy không có gì sai lầm:

            Việc đòi hỏi bầu cử và thành lập chính quyền dân cử đem lại kết quả của nó là nền Đệ Nhị Cộng Hòa được thiết lập. Các quân nhân, muốn làm chính trị, phải rời khỏi quân đội.

            Do tình hình đó, các cuộc bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống, Thượng Nghị Viện, Hạ Nghị Viện, các Hội Đồng Tỉnh và Thị Xã, Hội Đồng Xã lần lượt được tổ chức và dân chúng tham gia đông đảo.

            Tuy chưa phải là một chế độ dân chủ tự do thật sự như ở Âu Mỹ, nhưng chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa là một chế độ dân chủ thật sự, đa đảng, đa thành phần, có đối lập. So với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa của ông Ngô Đình Diệm, chế độ mới nầy tiến bộ hơn rất nhiều.

            Nếu không có chiến tranh xâm lược miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt, với tình hình ổn định và phát triển trên nhiều lãnh vực, con đường Dân Tộc đi tới tự do dân chủ như Âu Mỹ, không phải là con đường xa vời.

            Tuy nhiên, cuộc đấu tranh nầy của Phât Giáo Miền Trung không phải không có nhiều khuyết điểm.

            Thứ nhất, bởi vì đây là một tổ chức quần chúng, nhiều người và nhiều thành phần tham gia nên nó có nhiều sơ hở để Cộng Sản xâm nhập và lợi dụng.

            Nếu kể những người thường vô ra chùa Từ Đàm, gặp các thầy lãnh đạo cuộc tranh đấu, người ta thấy chỉ có, một là anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan và hai là Nguyễn Đắc Xuân.

            Thật ra hai người nầy, lúc ấy chưa phải là cán bộ Cộng Sản. Họ chỉ là những người tiểu tư sản, thiên tả, có “bệnh lãnh tụ”. Thiên tả chỉ là cái “mốt” của họ hơn là bản chất; chính họ cũng sợ gian khổ, cũng sợ bom đạn, sợ chết, không muốn lên “mật khu Việt Cộng”. Khi “Quân Thiệu Kỳ”, – danh xưng dân chúng thường gọi hồi đó – giải tỏa Huế, các tên nầy lẩn quất ở các chùa ở phía tây Huế; mãi đến khi không còn trốn đâu được nữa, không còn con đường nào khác nữa, mới lên núi theo Việt Cộng. Vậy mà mãi đến năm 1973, sau bảy năm sau khi lên rừng, Nguyễn Đắc Xuân mới được vô đảng Cọng Sản, mới là đảng viên.

            Bên cạnh đó, trong cuộc đấu tranh có tổ chức lỏng lẻo như vậy, không chỉ có thành phần Cộng Sản mới len lỏi vào được. Nhiều thành phần khác, như đảng Đại Việt, Việt Quốc, xịa (CIA), Phòng Nhì Pháp và cả tín hữu Thiên Chúa Giáo cũng “chui” vào đấy, giữ cả những “chức vụ” lớn nhỏ, công việc tham mưu, chỉ huy, v.v… để thu thập tin tức cho phe phái của họ.

            Nhiều người không ưa cái gọi là “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc”; trước hết là về các danh xưng như “Nhân Dân”, “Cứu Quốc” là những tiếng Cộng Sản thường dùng. Lại thêm cách tổ chức và hoạt động theo kiểu “Ba Lê Công Xã” hay “Quảng Châu Công Xã”, thường không đạt thắng lợi.

            Ngoài những người ở ngoài không ưa thành phần lãnh đạo trong “hội đồng”, ngay chính những người trong “hội đồng” cũng “biết” nhau, không ưa nhau, thù nhau. Rõ ràng nhất là trường hợp Nguyễn Đắc Xuân (tay sai Cộng Sản) giết Trần Mậu Tý (Đại Việt) khi Xuân theo Việt Cộng về chiếm đóng Huế trong tết Mậu Thân 1968.

            Những người lãnh đạo “mặt nổi” cuộc đấu tranh, lại là những người tiểu tư sản háo danh, ưa làm lãnh tụ, nói năng khó nghe. Đó là các ông Lê Tuyên, giáo sư Viện Đại Học Huế, ông Hoàng Văn Giàu, phụ khảo, cũng thuộc cơ quan nói trên, Ngô Văn Bằng, cũng vậy. Hôm tướng Huỳnh Văn Cao bị mưu sát ở sân Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, ở thành Mang Cá, thiếu úy Nguyễn Đại Thức bị một xạ thủ trực thăng Mỹ bắn chết vì Thiếu Úy Thức bắn vào trực thăng, thì ông Ngô Văn Bằng đang “chỉ huy” một cuộc biểu tình ở Thương Bạc Huế. Ông Bằng cầm micro, ra lệnh Cảnh Sát chặn đường nầy, chặn đường kia, không cho đồng bào qua lại để ông ta biểu tình, khiến nhiều người bất mãn. Có người đứng bên cạnh tôi trong số người ở Thương Bạc hôm đó nói: “Bọn nầy làm cái gì mà tưởng là nhà cầm quyền, có quyền ra lệnh cho người nầy, người kia.”

            Ngoài ra, việc Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, một tín hữu Thiên Chúa Giáo, được cử làm Thị Trưởng Đà Nẵng là một sai lầm. Việc bổ nhiệm nầy là từ lệnh của Tướng Nguyễn Chánh Thi, nhưng người ta cũng đoán mò được rằng, động lực để Tướng Thi làm công việc chọn lựa ấy là từ Chùa Từ Đàm.

            Người Huế vốn không ưa tôn giáo làm cái công việc cai trị. Kể từ khi bị Pháp đô hộ tới giờ, Thực dân Pháp và các ông linh mục, giám mục ở Huế “song hành” trong công việc ấy. Nay Chùa Từ Đàm (phía tôn giáo) và Tướng Thi (phía chính quyền) “hợp nhất” trong việc chọn Thị Trưởng Đà Nẵng, là dẫm lên chính con đường Tây đô hộ và đạo Thiên Chúa ở VN đã đi, đụng chạm ngay tới việc mà từ trước tới giờ người Huế đã chống đối.

            Ấy là chưa nói tới những việc làm quá khích như đốt phòng Thông Tin Hoa Kỳ, chiếm đóng các công sở, cản trở lưu thông và việc “bàn thờ xuống đường”, là lá bài chót trong cái gọi là “sách lược” của Chùa Từ Đàm, làm nhiều người bất mãn.

            Tất cả những sơ hở và sai lầm đó, là cái “luận cứ” để những người chống Đạo Phật VN chụp cho ông Trí Quang cái mũ Việt Cộng.

            Nhiều người Huế không tin ông Trí Quang là Việt Cộng.

            a)-Trước hết, ông Trí Quang là một nhà sư hoạt động tích cực cho đạo Phật.

            Sau khi chiến cuộc bùng nổ ở Huế năm 1947, thế lực của Pháp và đạo Thiên Chúa càng ngày càng yếu đi. Năm 1949, “Quốc Trưởng hồi loan”. Bấy giờ ông Bảo Đại đã thoái vị trước dân Huế, có một người “vợ” là dân Tây, tín đồ ngoan đạo của Vatican, nên ông ta cần dân chúng ủng hộ, nhất là ở Huế, cựu kinh đô nhà Nguyễn. Đông đảo người Huế biểu tình “hoan hô Đức Quốc Trưởng hồi loan” khi ông Bảo Đại lần đầu tiên về lại Huế, sau khi thoái vị và rời Huế năm 1945.

            Tình hình thế giới sau Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai cũng như tình hình Việt Nam bấy giờ thuận lợi cho việc thống nhất Phật Giáo ba kỳ, sau hơn một trăm năm đô hộ đã bị Thực dân Pháp cố tình đàn áp, chia rẽ.

            “Hội Nghị Thống Nhất Phật Giáo” năm 1951 được tổ chúc tại Chùa Từ Đàm, Huế.

            Khi ấy các sư già chỉ quen việc kinh kệ mà không quen việc đời. Ông Trí Thủ là người đứng ra tổ chức hội nghị, cần phải có nhiều nhà sư trẻ hơn phụ giúp. Do công việc tổ chức hội nghị nầy, cũng như phong trào thành lập các “Gia Đình Phật Tử” dậy lên ở Huế rất mạnh mẽ, người ta mới biết nhiều đến ông Trí Quang, ông Thiện Minh, ông Nhất Hạnh… Các “huynh trưởng” Gia Đình Phật Tử là ông Võ Đình Cường, ông Phan Cảnh Tuân, nhạc sĩ Lê Cao Phan…

            b)-Kế đến nữa. Ông Ngô Đình Cẩn là người cục bộ, thường yêu mến và gần gũi với những người cùng quê với ông. Do đó, khi ông Ngô Đình Cẩn làm “Cố Vấn Chỉ Đạo” thì ông Trí Quang, người cùng quê Quảng Bình với ông Ngô Đình Cẩn, rất thích hợp trong vai trò liên lạc giữa Chùa Từ Đàm và ông Cố Vấn Chỉ Đạo. Bên cạnh đó, gia đình ông Ngô Đình Cẩn chỉ mới theo đạo từ đời thân phụ ông nên việc kỵ giỗ tổ tiên, ông bà hằng năm, đều nhờ Chùa Từ Đàm. Việc thờ phụng là nhờ thờ ở chùa nầy.

            Đạo Thiên Chúa cấm thờ ông bà trong nhà, vì cho là thờ ma, trong khi gia đình họ Ngô coi trọng việc hiếu trung của đạo Nho.

            Về cái gọi là “Phong Trào Hòa Bình”:

            Trong khi chuẩn bị thi hành “Hiệp Định Genève 1954”, Việt Cộng (hồi ấy thường gọi là Việt Minh), đã tranh thủ cái gọi là hòa bình, thực chất là để gây khó khăn cho chính quyền Quốc Gia bằng phương tiện hòa bình.

            Trong ý đồ đó, âm mưu của Cộng Sản là cố lôi kéo và vận động nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ và chức sắc các tôn giáo, đặc biệt là Phật Giáo tham gia cái gọi là “Phong Trào Hòa Bình” do Cộng Sản giựt giây.

            Tại Saigon, “Phong Trào Hòa Bình” được thành lập ngày 1 tháng 8 năm 1954 với các nhân vật như Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, nhà thơ Phạm Huy Thông…

            Nửa tháng sau, “Phong trào Hòa Bình” ở Huế được thành lập với các ông Tôn Thất Dương Kỵ, giáo sư Trường Khải Định, Nguyễn Hữu Đính, kỹ sư; Lê Khắc Quyến, bác sĩ; Võ Đình Cường, nhà văn, Cao Xuân Lữ, giáo sư Trường Khải Định; Nguyễn Hữu Ba, giáo sư âm nhạc Trường Khải Định nhỏ (sau nầy có tên là Nguyễn Tri Phương). Phong trào tổ chức biểu tình và thả chim bồ câu ở Phú Văn Lâu ngay sau khi Hiệp Định Genève có hiệu lực, tháng 8 năm 1954.

            Phong trào cũng vận động thành lập các lớp Bình Dân Học Vụ tại Huế và vùng phụ cận. Những người đứng đầu các lớp Bình Dân Học Vụ nầy là hai người thuộc “hoàng phái” (nói theo cách của Huế, tức hoàng tộc). Đó là các ông Bửu Đáp, trưởng và người phó là ông Tôn Thất Lôi, một giáo viên có uy tín của Huế.

            Bên cạnh đó, “Phong Trào Hòa Bình” Huế ấn hành “Tập Văn Ngày Mai”.

            Tham gia tập văn nầy có nhiều nhân vật, nhà thơ, văn có uy tín của Huế như cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị (“nguyên soái” Hương Bình Thi Xã), Thảo Am Nguyễn Khoa Vi, và một số chỉ có bút hiệu, không rõ người là Văn Đường, T. Hậu, H. Nam, Nam Quan, Liên Cầm, Trụ Vũ (tên là Trần Bính, em của Vi-Khuê Trần Trinh Thuận); Tôn Thất Dương Tiềm, giáo sư Trường Bồ Đề Huế; Lê Quang Vịnh: giáo sư trường Nguyễn Tri Phương; Hoàng Nguyên (Cao Cự Phúc): giáo sư Trường Nguyễn Tri Phương và Bồ Đề Huế, và các vị khác như Nguyễn Hữu Ba, Cao Xuân Lữ, đã nói ở trên.

            Sau khi ấn hành được 4 số, do đề nghị của ông Võ Thu Tịnh, Giám Đốc Nha Thông Tin Trung Việt gởi lên Chính Phủ Ngô Đình Diệm, tập văn bị cấm phát hành. Số đầu tiên (số 1) tập văn nầy được in ở nhà in Tráng Liệt, gần bến xe Nguyễn Hoàng sau nầy, vì lúc ban đầu, ông Tráng Liệt có tham gia “Phong trào”. Các tập tiếp sau, được in ở nhà in Khánh Quỳnh, gần ngã tư Anh Danh, là nhà in của ông Tôn Thất Dương Kỵ. (1)

            Bên cạnh đó, một vài nhà thơ như Vân Sơn Phan Mỹ Trúc, Vũ Hân, không tham gia “Phong trào…” nhưng cũng không ủng hộ chính quyền. Nhóm “thân chính quyền” là những cây viết cho tuần báo “Mùa Lúa Mới”, người đứng đầu là ông Võ Thu Tịnh, Giám Đốc Nha Thông Tin Trung Việt, Tổng Thư Ký là thi sĩ Đỗ Tấn, ông Quang Đạo, ông Kỳ Quang, ông Nguyễn Đình Hoè (báo “Lửa Thiêng” của Đẹ Nhị Quân Khu; tuần báo “Ý Dân” (của Phong trào Cách Mạng Quốc Gia, tổng thư ký là nhà văn Phan Du).

            Về Tập Văn Ngày Mai nầy, tôi có một kỷ niệm. Cũng thời gian ấy, tôi đến thăm ông Lê Đình Ngân, tức nhà văn Đình Ngân, tác giả tập truyện ngắn Phong Lan, giáo sư Việt Văn cũ của tôi. Ông Ngân nói, (nguyên câu): “Tập Văn Ngày Mai dở hơn Tập Văn Học Sinh Khải Định”. Quả thật lúc đó, tôi mới đậu Trung Học, đến thăm thầy, trình độ kiến thức của tôi, biết gì nhiều để khen hay chê. Tuy nhiên, tôi nhớ trong Tập Văn Học Sinh Khải Định năm đó, có Tạ Ký, Châu Liêm, Đăng Tín. Bài của họ, đọc tôi đã thấy hay.

            Khoảng tháng 5/ 1955, sau khi “Phong Trào Hòa Bình” tổ chức biểu tình nhân ngày Quốc tế Lao Đông 1/ 5 tại Phú Văn Lâu nhưng thất bại thì “Phong trào” bị đàn áp. Gần như hầu hết đều bị bắt giam. Có dư luận nói rằng, có cả ông Trí Quang trong số người bị bắt. (2)

            Chỉ một thời gian ngắn, tất cả đều được tha. Mỗi người có những lý do khác nhau:

            Bác sĩ Lê Khắc Quyến là người được “cậu” (tức ông Ngô Đình Cẩn) kính trọng. Bác sĩ Quyến cũng là bác sĩ riêng của gia đình “cậu”.

            Ông Trí Quang (nếu có bị bắt như dư luận), thì vì nhiều lý do như tôi đã trình bày ở phần trên, cũng không ngồi tù lâu được.

            Ông Tôn Thất Dương Tiềm có người bà con đang làm Trưởng Ty Công An…

            Các ông Tôn Thất Dương Kỵ, Cao Xuân Lữ, Lê Quang Vịnh, Hoàng Nguyên đều được thả ra cả, nhưng bị “trục xuất” khỏi Huế. Tôi không rõ ông Tôn Thất Dương Kỵ đi đâu, nhưng ông Dương Tiềm vẫn được tiếp tục dạy ở Trường Bồ Đề Huế. Lê Quang Vịnh vào học đại học Saigon. Nhạc Sĩ Hoàng Nguyên lên dạy ở Trường Bồ Đề Đà Lạt với hai anh em nhà sư Nhất Hạnh. Ít lâu sau, Hoàng Nguyên bị tù và bị đày Côn Đảo, do hành động vu cáo của Phạm Xuân Lý (cha ghẻ của danh ca Khánh Ly), Trưởng Ty Công An Đà Lạt, vì muốn đàn áp trường Bồ Đề. (Xin xem bài viết về Hoàng Nguyên trong cuốn “Quê Mẹ, những bài viết về Quảng Trị”, cùng tác giả)

            Nhìn chung, số đông những người tham gia “Phong trào” không phải là Việt Cộng. Cụ Ưng bình Thúc Giạ Thi, cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi, các ông Bửu Đáp, Tôn Thất Lôi không thể là Việt Cộng được.

            a)-Trường hợp bác sĩ Lê Khắc Quyến cũng không thể, bởi vì lúc bấy giờ, người em trai của ông theo Việt Minh đã mấy năm, hiện đang ở Thanh Hóa. Bác sĩ Quyến nhờ một người đàn bà ra Thanh Hóa để đưa người em ông về Huế – lúc bấy giờ, Hiêp Định Genève mới thi hành, việc qua lại vĩ tuyến 17 còn tương đối dễ. Sự việc bị đổ bể, người đàn bà bác sĩ Quyến nhờ cậy, bị Cộng Sản bắt giam tù, mãi đến 1975 mới trở lại Huế. Người em bác sĩ Quyến cũng không về được miền Nam.

            Năm 1977, khi bác sĩ Quyến qua đời, ông Lê Khắc Trực, cựu Trung Úy Thiết Giáp thuộc Thiết Đoàn 18/ Kỵ Binh/ QĐVNCH, đang ở “tù cải tạo” trại Gia Ray Xuân Lộc, được người chú bảo lãnh cho về đám tang cha. Do sự việc nầy, có nhiều người tù cải tạo cùng trại, không biết việc ông Lê Khắc Trực được người chú bảo lãnh, nên cho rằng vì bác sĩ Quyến “là Việt Cộng” nên Trung Úy Trực mới được ưu tiên như thế. Đây là một sự hiểu lầm đáng tiếc.

            b)-Về nhạc sĩ Hoàng Nguyên, ông từ vùng Việt Minh về năm 1951, trở lại đi học, nhưng có vài bản nhạc ca tụng kháng chiến như “Đàn ơi xa rồi”, “Anh đi mai về” nên người ta dễ lầm tưởng ông là Việt Cộng, nhất là việc ông hàm oan, bị vu cáo, đày tù Côn  Đảo sau khi ông bị bắt ở Đà Lạt (Sự việc nầy tôi có nói đến trong bài viết về Hoàng Nguyên, in trong tập “Quê Ngoại”, do Văn Mới xuất bản).

            c)- Ông Cao Xuân Lữ bị thôi dạy ở Trường Khải Định, vào Đà Nẵng mở tiệm… chữa răng để sinh nhai. Đến năm 1958, ông được mời về dạy ở Trường Trung Học Bán Công Đệ Nhi Cấp Huế. Tôi là học trò cũ của ông, được hân hạnh làm đồng nghiệp với ông ở ngôi trường nầy. Nhờ đó, tôi được biết thêm:

            -Ông Cao Xuân Lữ, thuộc dòng dõi cụ Cao Xuân Dục, theo khuynh hướng Trotskyism (Đệ Tứ), cùng với ông Phạm Bá Nguyên, chủ báo Dân Đen ở Huế, 1949,50.

            Nhóm “Đệ Tứ” từng bị Hồ Chí Minh ra lệnh triệt hạ, giết hết. Trường hợp Tạ Thu Thâu là rõ ràng nhất. Ông Cao Xuân Lữ không có hoạt động chính trị cụ thể nào, ngoài việc tham gia “Phong Trào Hòa Bình” ở Huế, khi nói chuyện với các giáo sư cùng trường, ông có vài ý tưởng “thiên tả” như một số đông người Huế, không bao giờ ông có thể là người Cộng Sản Đệ Tam.

            c)-Phần đông trí thức Huế, là tín đồ đạo Phật. Khi Pháp xâm lăng và cai trị nước ta, đạo Phật bị đàn áp nên họ có lập trường chống Pháp, khá tích cực. Từ chỗ đứng đó, họ có “khuynh hướng ủng hộ Việt Minh chống Pháp”, thiên tả, và rất dễ ủng hộ hay theo Việt Minh, – xin nói rõ là Việt Minh. Tuy nhiên, họ biết rõ chủ trương của Cộng Sản, không thể dung chấp họ, là những người vừa có liên hệ đến giới vua quan của Huế, vừa là tiểu tư sản thành thị. Họ chỉ có thể bị Cộng Sản lợi dụng.

            Chính vì vậy nên Trần Hân, bí thư Thành Ủy Huế, vừa từ vùng Việt Minh về Huế để chỉ đạo “Phong Trào Hòa Bình” chưa được một năm thì đã bị bắt, đày Côn Đảo, mãi tới 1975 mới được Cộng Sản giải thoát.

            Khi Nhạc Sĩ Hoàng Nguyên bị tù Côn Đảo, ông cũng không bao giờ quan hệ với Trần Hân, cùng bị tù Côn Đảo như ông. Hoàng Nguyên không biết tới nhân vật Cộng Sản nầy.

            -Về trường hợp ông Trí Quang, sự xung khắc về tôn giáo giữa gia đình ông và phía Đạo Thiên Chúa khá kịch liệt.

            Sau khi chia cắt đất nước theo Hiệp Định Genève 1954, mẹ ông Trí Quang ở lại phía Bắc, nghe tin phía Nam còn Thực Dân Pháp, bà nói: “Vậy là quạ đen vẫn còn hoành hành trong đó.” Quạ đen là ám chỉ các linh mục. Tuy nhiên, sau đó, mẹ ông bị Việt Cộng đấu tố. Là một tăng sĩ, ông Trí Quang phải kịch liệt chống lại những hành động lộng quyền của các tu sĩ Thiên Chúa Giáo như giám mục Ngô Đình Thục. Ông chỉ có thể dựa vào sức mạnh dân tộc để chống Thiên Chúa Giáo, chớ không thể dựa vào Cộng Sản, theo Cộng Sản để chống Thiên Chúa Giáo như đám “Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm” chụp mũ cho ông.

            d)-Cho tới bây giờ, những vị tôi nêu dẫn tên ở trên, ngoài vài ba người mà người ta biết rõ họ là ai, còn như số đông còn lại, người Huế cố cựu cũng không biết chắc ai thiên tả, cực tả, thiên Cộng hay chính danh Cộng Sản, bởi vì nhiều lời đồn đãi lung tung, người bênh vực, kẻ chụp mũ, vu váo với nhiều ác ý…

            Khi tôi còn dạy học ở Huế, cũng như bây giờ, tôi từng nói chuyện với các vị có tên ở trên hay các con cái của họ, tôi thấy họ không mấy quan tâm tới dư luận về họ thế nầy thế nọ. Họ cho rằng cha ông họ hay chính họ có cái tâm đối với Đất Nước, Đồng Bào, với Đạo Pháp, Dân Tộc. Còn như dư luận, nhất là với những người có dã tâm, ác ý thì họ không để tâm tới.

            Nghe những lời nói đó của họ, tôi nghĩ tới câu nói của ông Nhất Linh trước khi quyên sinh: “Đời tôi để lịch sử xử”. Trong hoàn cảnh đất nước phân ly cùng cực như hiện nay, trong nước cũng như hải ngoại, hay giữa người trong nước cũng như bên ngoài, mâu thuẫn, ngộ nhận còn đầy dẫy, thì bàn chi tới những kẻ giá áo túi cơm cho thêm phiền lòng.

            “Đời tôi để lịch sử xử…” Đời của họ, cũng tương tự như câu nói của Nhất Linh, lịch sử vô tư, chẳng “riêng tư” gì cho ai!

            Có lẽ sự tàn ác của Cộng Sản trong việc tàn sát 5 ngàn người tết Mậu Thân ở Huế, cũng như cuộc chiến năm 1972, hàng chục vạn người “bỏ phiếu bằng chân” trốn chạy Cộng Sản, cũng làm cho giới trí thức Huế, hầu hết là thành phần tiểu tư sản thành thị, phải suy nghĩ lại về khuynh hướng, tình cảm “Thiên Tả” hay “Thiên Cộng” của họ, chỉ ngoại trừ những kẻ vốn đã ăn phải “bã Cộng Sản” hoặc kiếm một chút hư danh trong chế độ mới.

            Rồi ra, họ cũng chẳng được gì, cũng phải “bán” một chút kiến thức vơ nhặt đâu đó để kiếm sống qua ngày như Nguyễn Đắc Xuân chẳng hạn.

2)-Bối cảnh cuốn sách thứ hai

  1. A) Quan hệ giữa Đạo Thiên Chúa và Cộng Sản ở Việt Nam

 

            Khi chế độ Ngô Đình Diệm còn mạnh, các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo chia làm hai phe:

            Phần đông ủng hộ chính quyền, theo đuôi Ngô Đình Thục.

            Hai là phe chống lại chính quyền vì không sai bảo hay gây áp lực được với chính quyền được như nhóm Giám Mục Lê Hữu Từ và Lm Hoàng Quỳnh.

            Sau khi anh em nhà Ngô sụp đổ, nhất là thời kỳ Đệ Nhị VNCH, một số không ít linh mục là thân Cộng hay hoạt động có lợi cho Cộng Sản; họ là các linh mục du học ở Pháp về như Thanh Lãng (bênh vực tích cực cho nhà văn Cộng Sản Vũ Hạnh), Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Du, Nguyễn Quang Lãm, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, v.v…

            Về nhóm nầy, sách “Biến Loạn Miền Trung” (BLMT) của Lê Xuân Nhuận nhận xét:

            B)-Trích dẫn 1:

            từ “Biến Loạn Miền Trung” của tác giả Lê Xuân Nhuận:

 

            “ …

            “Trong lúc đó, ngay tại Thủ-Đô, trong cơn dầu sôi lửa bỏng, những tay điệp-viên chiến-lược của Cộng-Sản, từ lâu vẫn nấp dưới lớp áo tu-hành, như các Linh-Mục Thanh Lãng, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Du, Nguyễn Quang Lãm, Trần Ngọc Nhuận, v.v… (cùng với Trần Hữu Thanh trong “Phong Trào Chống Tham-Nhũng”), cũng sách-động quần-chúng xuống đường hằng ngày để gây thêm rối-loạn, hoang-mang trong quần-chúng, và tạo sức ép đối với Tổng-Thống Thiệu, làm nản thêm lòng người Mỹ, và tạo thêm lợi-thế về mặt chính-trị cho Bắc-Việt xâm-lăng.

(trang 436)

            C)-Trích dẫn 2:

                 cũng trong sách nói trên, ông Lê Xuân Nhuận nhận xét:

            “Nói đến “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, tưởng cần nhắc lại một số hoạt-động nổi bật của giới Kitô-Giáo trong và ngoài Việt-Nam Cộng-Hòa.

            a)-Trong thời-gian diễn ra Hội-Nghị Paris (từ 1968 đến 1973), Giáo-Hoàng Phaolô VI đã nhiều lần “nhân đạo” kêu gọi chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam. (BLMT – LXN)

            b)-Tháng 12-1969, Giám-Mục Phạm Ngọc Chi, Phó Chủ-Tịch Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam, qua Hoa-Kỳ, đã tuyên-bố với báo-chí Mỹ: Miền Nam [Việt-Nam] đồng-tình với chính-sách “Việt-Nam-Hóa Chiến-Tranh” của Tổng-Thống Nixon.(BLMT – LXN)

            c)-Tháng 9-1972, Đại-Hội lần 2 của tổ-chức “Kitô-Hữu Quốc-Tế” gồm hơn 20 nước họp tại Quebec (Canada),  với đề-tài giải-phóng các dân-tộc ViệtLàoCampuchia, đã tố-cáo các cuộc xâm-lăng và ném bom vô-nhân-đạo của Mỹ, khẳng-định quyền tự-quyết, tự-do được sống hòa-bình của nhân-dân Việt-Nam.

            (Tức là việc Mỹ chuẩn-bị rút lui đã được Kitô-Giáo Việt-Nam, giáo-dân mấy chục nước khác, và nhất là Giáo-Hoàng Phaolô VI tán-đồng, không còn đánh nhau với Cộng-Sản nữa). (BLMT – LXN)

            d)-Ngày 20-9-1970, Linh-Mục Phan Khắc Từ, Tuyên-Úy Thanh Lao Công Sài-Gòn, qua Châu Âu, đã tuyên-bố tại Thành-Phố Firenze (Ý, nơi có Tòa Thánh Vatican):

            “Kinh-nghiệm trước mắt cho chúng tôi xác tín rằng Giáo-Hội [Kitô] tại Việt-Nam hôm nay là một công-cụ hữu-hiệu của người Mỹ.(BLMT – LXN)

            e)-Tháng 3-1971, Linh-Mục Nguyễn Viết Khai tuyên-bố: “Từ chính-quyền trung-ương xuống cho tận anh Trưởng Ấp, người Miền Nam không được phép giải-quyết vấn-đề của mình mà không có người nước ngoài xen vào.” (BLMT – LXN)

            f)-Tháng 11-1971, Linh-Mục Trương Bá Cần, Tuyên-Úy Thanh Lao Công toàn-quốc, tham-gia vụ đình-công tại Hãng Pin “Con Ó”, bị Cảnh-Sát bắt, đã viết: “Giáo Hội của tôi không biết chọn, nhất là chọn để chống lại những kẻ đang nắm quyền-hành trong xã-hội này… Giáo Hội của tôi cũng đã biết lựa chọn, nhưng không biết lựa chọn người nghèo khổ…”

            (Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đồng-ý với lời cáo-buộc và chiêu-bài của đối-phương). (BLMT – LXN)

 

            Nhưng, sau Hiệp-Định Paris 27-1-1973 (chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam), thì Bắc-Việt gia-tăng nỗ-lực và quyết-tâm tiến-chiếm Miền Nam. (BLMT – LXN)

            g)-Ngày 19-9-1973, Tổng-Giám-Mục Sài-Gòn Nguyễn Văn Bình đọc diễn-văn khai-mạc “Năm Thánh”:

            “Chúng tôi hy vọng rằng những cuộc giết chóc và hận thù sẽ thực-sự chấm dứt trên mảnh đất này và đồng thời có được quan hệ hai chiều giữa Bắc và Nam, trong lúc đất nước tạm thời còn phân chia.” (BLMT – LXN)

            h)-Ngày 10-1-1974, sau cuộc Hội-Nghị toàn-thể hàng giáo-phẩm, các Giám-Mục Miền Nam đã công-bố một bản tuyên-ngôn “tha thiết kêu gọi hai chính phủ Bắc và Nam cùng đồng loạt, vì tình thương dân tộc, mà ngưng mọi hoạt động gây chiến và mọi chiến dịch bôi nhọ và thù ghét lẫn nhau.”

            (Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam [Cộng-Hòa] không đề-cập đến việc Bắc-Việt vi-phạm Hiệp-Ước, mà chỉ muốn Miền Nam bắt tay làm hòa với Miền Bắcđối-nghịch lập-trường “4 Không” của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu). (BLMT – LXN)

            i)-Giáo-Hội Kitô-Giáo Việt-Nam ở Sài-Gòn ra “Thư Chung” phát-động cuộc tranh-đấu “chống tham nhũng”, chống Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu. Họ đòi Thiệu phải từ-chức, vận-động trưng-cầu dân-ý buộc Thiệu phải ra đi.

 

            (Lời kêu gọi đó đã dấy lên liền một “Phong-Trào” gọi là “Chống Tham-Nhũng”). (BLMT – LXN)

            (ghi chú: các mục a, b, c… là do tôi, HLH tự thêm vào)

D)- Mục đích của “Phong Trào Chống Tham Nhũng.

            1)-Thành phần:

            Nhận định về phong trào nầy, tác giả Lê Xuân Nhuận viết:

            a)-“Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” do Linh-Mục Trần Hữu Thanh cầm đầu, các LM Đinh Bình Định và Nguyễn Học Hiệu cùng Bác-Sĩ Nguyễn Thị Thanh phụ-lực, qua một bản “Tuyên Ngôn” được sự bảo-trợ của 301 linh-mục khác, kể cả “Tuyên-Úy Công Giáo”, ra mắt tại Giáo-Xứ Tân Việt, Sài-Gòn, từ năm 1973, là một tập-hợp tương-đối lớn, có nhiều tín-đồ nhất, và tại nhiều địa-phương nhất với Nhóm các linh-mục cộng-sản nằm vùng và thân-Cộng tại Sài-Gòn.

            b)-“Phong-Trào” được sự tham-gia của các nhân-vật ngoài Kitô-Giáo:

            -như Thượng-Nghị-Sĩ  Hoàng Xuân Tửu và Dân-Biểu Nguyễn Văn Kim cùng nhiều DB thuộc Đảng Đại-Việt của Hà Thúc Ký

            -phía Dương Văn Minh; DB Đặng Văn Tiếp

            -phía Nguyễn Cao Kỳ; DB Nguyễn Văn Cử (chống chế độ Ngô Đình Diệm)

            -phía Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng;

            -DB Vũ Công Minh phía Hòa-Hảo.

            -DB Đỗ Sinh Tứ phía quân-đội;

            -Bác-Sĩ Nguyễn Tuấn Anh; Luật-Sư Đặng Thị Tâm; Nhân-Sĩ Nguyễn Trân; v.v… (BLMT – LXN)

            (ghi chú: các mục a, b, c… là do tôi, HLH tự thêm vào)

            2)-Hành động:

            (Cũng tác giả Lê Xuân Nhuận, ông viết:)

            a)-Linh-Mục Thanh được báo-chí ngoại-quốc tặng cho danh-hiệu “Hiệp Sĩ của Người Nghèo”.

            b)-Sau đó, “Phong-Trào” công-bố các bản “Cáo Trạng” trong các cuộc biểu-tình, xuống đường rầm-rộ dữ-dội và liên-tục của các tín-đồ do các linh-mục lãnh-đạo có khi có hàng chục ngàn người tham-dự tại Huế, Đà-Nẵng, Quy-Nhơn, Nha-Trang, Cam-Ranh, Sài-Gòn, Mỹ-Tho, Cần-Thơ, v.v… (BLMT – LXN)

            c)-Cuối năm 1974, nhất là đầu năm 1975, những cuộc biểu-tình chống-chính-phủ của nhóm Linh-Mục Trần Hữu Thanh, có:

            d)-sự tham-gia của một số chính-khách, lãnh-tụ đảng-phái, cộng với việc

            e)-Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam phổ-biến “Thư Chung”, kêu-gọi các Nhà Thờ toàn-quốc “chống tham nhũng”, thúc-đẩy giáo-dân xuống đường rầm-rộ, liên-tục…

            (Việc làm nầy) khiến cho các binh-sĩ ngoài tiền-tuyến chán-nản, mất tinh-thần, và ảnh-hưởng tai-hại đến sự sống-còn của đất-nước.

            g)-Bên cạnh “Phong-Trào” của LM Trần Hữu Thanh, còn có các Nhóm tay sai Cộng-Sản và thân-Cộng, là các LM Trương Bá Cần, Thanh Lãng, Huỳnh Công Minh, Vương Đình Bích, Hồ Thành Biên, Nguyễn Thành Trinh; (BLMT – LXN)

            h)-Nhóm “Đối Diện” của 11 linh-mục phản-chiến Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Phan Khắc Từ, Nguyễn Hữu Khai, v.v… trong mấy tháng cuối-cùng, đã lợi-dụng các buổi thuyết-giảng tại các Nhà Thờ để công-khai tuyên-truyền cho “người anh em bên kia”.

            (Điển-hình là Phan Khắc Từ, từ năm 1969 đã đi dự đại-hội Thanh Lao Công Thế-Giới có xu-hướng thân-Cộng được Mạc-Tư-Khoa đỡ đầu, tại Liban).

            i)-Ở Pháp thì (linh mục Từ) đã đến hội-ý với Nguyễn Thị Bình, Trưởng Phái-Đoàn thương-thuyết của “Mặt Trận Giải Phóng”; tham-gia đình-công; biểu-tình đòi công-bằng cho giới lao-động; cùng sinh-viên và công-nhân đòi hòa-bình cho Việt-Nam.

            Sau này về nước (linh mục Từ) dính vào Mặt Trận Nhân-Dân Tranh-Thủ Hòa-Bình, Phong Trào Học-Sinh Sinh-Viên Đòi Quyền Sống, Phong-Trào Chống Tăng Học-Phí, Chống Độc-Diễn;

            -(linh mục Từ) đóng vai “linh-mục hốt rác” gây sự chú ý của dư-luận;

            -(linh mục Từ) dùng Nhà-Thờ Vườn Xoài làm nơi chế-tạo bom xăng cho phong-trào đốt xe Mỹ trên đường phố; cùng

            -(linh mục Từ xúi giục) công-nhân đình-công để gây trở-ngại cho các cuộc hành-quân;

            -(linh mục Từ) tiếp tay CS dựng lên Ủy-Ban Bảo-Vệ Quyền-Lợi Lao-Động Miền Nam; rồi lại

            j)-giả-danh từ-thiện hoạt-động trong tổ-chức trá-hình của CS là Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói…).

            (Hợp đồng cùng nhóm linh mục nói trên, ông) Trần Văn Lắm -Chủ-Tịch Thượng-Nghị-Viện lên án Tổng-Thống Thiệu “lạm quyền, tham nhũng”. (XXXXXX)

            k)-Một số lãnh-tụ đảng-phái và tôn-giáo, như Phan Bá Cầm (Hòa-Hảo), Trần Quang Vinh (Cao-Đài), Hà Thế Ruyệt (Duy-Dân), Thượng-Tọa Pháp-Tri và các Ông Ngô-Văn-Ký, Nguyễn Văn Lục, Xuân Tùng (Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng) thành-lập “Trận Tuyến Nhân Dân Cách Mạng”, kêu-gọi TT Nguyễn Văn Thiệu từ-chức và các phe liên-hệ “chấm dứt chiến-tranh, giải-quyết vấn-đề Miền Nam bằng phương-thức hòa-bình”.

            l)-Nhóm “Sóng Thần” thì tổ-chức “Ngày Ký-Giả đi Ăn Mày” rồi tiếp theo là “Ngày Công-Lý và Báo-Chí Thọ-Nạn” vào tháng 10-1974.

            m)-Các Tuyên-Úy Công-Giáo thì tổ-chức Đại-Hội tại Thủ-Đô. Họ rao giảng với giáo-dân quân-nhân rằng cộng-sản cũng là con-cái của Chúa”, rằng “Công-Giáo và CS có thể sống chung hoà-bình”

            o)-Bản “Cáo Trạng số 1” được ghi là ký tại Huế vào ngày 8-9-1974, khi được tung ra tại Nhà Thờ Tân-Sa-Châu, Sài-Gòn, có báo bảo là “làm lung-lay ghế Tổng-Thống Thiệu.”

            p)-Các báo Time, Newsweek; các đài BBC, VOA đều loan tin.

            “Hậu-quả là Quốc-Hội Mỹ quá chán-ngán Chiến-Tranh Việt-Nam và mệt-mỏi vì đã yểm-trợ một đồng-minh có quá nhiều khuyết-điểm và thối-nát.

(Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đã tiếp tay cho Hoa-Kỳ chấm dứt viện-trợphủi tay đối với Việt-Nam Cộng-Hòa). (BLMT – LXN)

            “Việc Mỹ cắt-giảm quân-viện đã làm tê-liệt hẳn khả-năng chiến-đấu của Quân-Lực VNCH, và từ đó làm suy-nhược tinh-thần kháng-cự, yếu-tố quan-trọng nhất trong bất-kỳ cuộc chiến-tranh nào.

            (ghi chú: các mục a, b, c… là do tôi, HLH tự thêm vào)

*

            “Về phần Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu thì ông đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu tại chính-quốc Hoa-Kỳ, nhưng đã không được nghênh-đón long-trọng tại Thủ-Đô Hoa Thịnh Đốn. Năm 1968, Johnson (chủ-chiến, Dân-Chủ) chỉ tiếp Thiệu tại thành-phố đảo Honolunu, và chỉ để thảo-luận sách-lược hòa-đàm với Cộng-Sản. Năm 1969, Nixon (chủ-hòa, Cộng-Hòa) cũng chỉ tiếp Thiệu tại Đảo Midway, và cũng chỉ để thỏa-thuận về chính-sách Việt-Nam-Hóa và lịch-trình rút quân của Mỹ.

            “Thiệu lại đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu với Giáo-Hội Kitô La-Mã, là một trung-tâm quyền-lực chính-trị khác của thế-giới. Tuy nhiên, Giáo-Hoàng Paul VI, trong cuộc viếng-thăm lục-địa Á-Châu lần đầu-tiên, đã không ghé đến Việt-Nam là quốc-gia đang bị Cộng-Sản đe-dọa, nhất là Việt-Nam có tỷ-số giáo-dân đông thứ nhì tại lục-địa này. Thiệu đến Tòa Thánh, nhưng không được Giáo-Hoàng tiếp-kiến – dù Thiệu là một Tổng-Thống, một con chiên – vì lập-trường của Vatican về vấn-đề Chiến-Tranh Việt-Nam là chỉ bênh-vực Hà-Nội, chỉ muốn chấm dứt chiến-tranh dù Miền Nam có rơi vào chế-độ Cộng-Sản sắt máu. Đã thế, Giáo-Hoàng còn chỉ-trích Thiệu, lại còn tiếp-kiến cặp Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy, trưởng phái-đoàn Cộng-Sản tại Hòa-Hội Paris.

            “Từ năm 1968, Giáo Hoàng Phaolồ Đệ-Lục đã lập ra “Ngày Quốc-Tế Hòa-Bình”, cổ-vũ Hòa-Bình bằng thương-thuyết tại Việt-Nam. Vatican xác-định lập-trường là chấm dứt chiến-tranh, quan-hệ tốt với Miền Bắc và Chính-Phủ Lâm-Thời Miền Nam. Chính Giáo-Hoàng trao-đổi công-điện trực-tiếp với Hồ Chí Minh. (BLMT – LXN)

 

            “Vào tháng 6-1971, đang lúc tên gián-điệp cộng-sản Vũ Ngọc Nhạ (kẻ được Linh-Mục Hoàng Quỳnh che-chở) bị Việt-Nam Cộng-Hòa cầm tù ở Côn-Đảo, mà Tòa ThánhGiáo-Hoàng Phaolô VI lại tặng Bằng KhenHuy ChươngVì Hòa Bình” cho y.

            “Tức là Giáo-Hoàng Paul VI đã biến Vatican và nhiều Giáo-Hội địa-phương thành một guồng máy chính-trị, ngoại-giao, tình-báo khổng-lồ để giúp Hà-Nội tiến chiếm Miền Nam. (BLMT – LXN)

*

 

            “Thế mà Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng vẫn chưa thấy là Hoa-Kỳ sắp bỏ rơi Việt-Nam, không thay-đổi đường-lối chính-trị, vẫn cứ sử-dụng giải-pháp quân-sự, và không tin là Hà-Nội có đủ sức tấn-công đại-quy-mô.

            “Ông sửa-đổi Hiến-Pháp để làm Tổng-Thống thêm một nhiệm-kỳ năm năm nữa, khiến Đại-Tướng Thủ-Tướng Trần Thiện Khiêm phải ra mặt chống-đối, làm tình-hình chính-trị trong nước càng rối-ren thêm.

            “Ðầu tháng 2-1975, “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” phổ-biến tiếp bản “Cáo-Trạng số 2”, tố-cáo TT Thiệu nhiều tội và hô-hào lật đổ bằng vũ-lực, khiến ông phải dùng biện-pháp mạnh, cho bắt giam nhiều chính-khách, trí-thức, lãnh-tụ đảng-phái, như các Thượng-Nghị-Sĩ Thái Lăng Nghiêm, Phạm Nam Sách, Nguyễn Văn Chức; các ông Hà Minh Lý, Trần Thúc Linh, và một số ký-giả trong đó có những nhân-vật nổi tiếng chống-Cộng như Mặc Thu, Lê Trần, Vũ Bằng, Đinh Từ Thức, Trương Cam Vĩnh, Ngô Đình Vận…

            “Để đối-phó với “Phong-Trào”, Thiệu vận-dụng nhiều đồng-đạo ủng-hộ mình.

            “Có sáu linh-mục, trong đó có cả Linh-Mục Hoàng Quỳnh, sáu đêm liền, thay phiên nhau lên đài truyền-hình bênh-vực và ca-ngợi Thiệu; ngoài ra, còn có các Nghị-Quyết, Quyết-Định, Đề-Nghị, có chữ ký của 70 Dân-Biểu ủng-hộ Thiệu.

            “Có cả Giám-Mục Lê Văn Ấn, đặc-trách Tuyên-Úy, Giám-Mục Nguyễn Văn Thuận, Linh-Mục Cao Văn Luận, đứng ra cãi giùm cho Thiệu.

            “Tình-hình gay-cấn đó, do “Phong Trào Chống Tham-Nhũng”* gây nên, đã tạo ra thế “nội công, ngoại kích”, quả là đã phá rối hậu-phương, làm lung-lạc tinh-thần binh-sĩ nơi tiền-tuyến, làm lợi cho Cộng-Sản, trong khi đó thì Bắc-Việt xua quân tấn-công Miền Nam… (BLMT – LXN)

——-

*

            “Năm kia, nhà văn Nguyễn Văn Lục có hỏi xin tôi tài-liệu về “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” của Linh-Mục Trần Hữu Thanh; nhân dịp, tôi đã giới-thiệu với anh nhà văn Nguyễn Lý Tưởng, cũng ở miền Nam Bang California. USA.

      (Thời-gian 1973-75 anh Tưởng chưa nắm vững, nhưng đến năm 1989, trong nước Việt-Nam Xã-Hội Chủ-Nghĩa, anh Tưởng đã trực-tiếp hỏi chuyện Linh-Mục Thanh nên biết rõ-ràng hơn.) (BLMT – LXN)

            “Kết-Luận: (BLMT – LXN)

            “Có người cho rằng “Phật-Tử Tranh-Đấu”, tức [số người hậu-thuẫn cho] Phái Ấn-Quang của Phật-Giáo Việt-Nam (về sau là Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất) đã liên-tục chống-đối Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Hòa, khiến cho Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa sụp-đổ, rồi Nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa cũng suy-tàn theo.

            “Nhưng, theo như tôi đã lược-dẫn trên, thì:

            “Phật-Tử Tranh-Đấu” đã chấm dứt hoạt-động từ ngày thành-lập Nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa, cuối năm 1967. Mãi đến lâu sau Hiệp-Định Paris 1973 mới tái-xuất-hiện trong “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc”.

            “Cả phía “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” bên giới Phật-Tử, lẫn phía “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” bên giới Giáo-Dân, đều tranh-đấu chống Thiệu để có được một Tổng-Thống trong-sạch.

            “Tuy nhiên, các điểm khác nhau là:

            “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộcchỉ họp tại Chùa, sinh-hoạt ôn-hòa, bất-bạo-động, không đòi lật Thiệu, chỉ chờ đến ngày bầu-cử Tổng-Thống vào cuối năm 1975 sẽ sử-dụng lá phiếu hợp-Hiến và hợp-Pháp của mình.

            “Phong-Trào Chống Tham Nhũngthì rầm-rộ xuống đường, biểu-tình tuần-hành, đòi Thiệu từ-chức, và hô-hào dùng bạo-lực để lật đổ Thiệu tức-thời.

            “Phật-Tử Tranh-Đấu” mít-tinh ôn-hòa thì không xáo-trộn trật-tự công-cộng, tiến-hành trong vòng luật-pháp cho phép, và theo truyền-thống sinh-hoạt dân-chủ tại các nước Tự-Do.

            “Giáo Dân Tranh Đấu” thì triệt-hạ uy-tín và hiệu-năng quyền-lực của một Tổng-Tư-Lệnh Quân-Đội đang đứng trước họng súng của quân thù, lại còn đòi dùng vũ-lực để lật đổ một Tổng-Thống dân-cử, tức là xóa bỏ Hiến-Pháp, tức là trở thành nội-phản/ nội-thù của Quốc/ Dân.

            “Phía “Giáo-Dân Tranh Đấu” thì đòi trừng-phạt một cá-nhân tham-nhũngmà tổng-số vật-sản bị lạm-chiếm so ra không đáng bao lăm đối với tài-nguyên quốc-gia, lại vẫn còn đó, rồi sẽ lấy lại, chưa mất đi đâu trong lúc Phía “Phật-Tử Tranh Đấu” thì đặt “nợ nước trước thù nhà”, mọi người chung sức đồng lòng chống giặc trước đã, trước hết là để trì níu lại cái Cơ-Đồ Dân-Chủ đang trong cơ nguy bị vĩnh-viễn cướp mất đi.

            “Phần tôi, tôi đối-lập với chính-sách quân-phiệt của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệucũng như với chế-độ độc-tôn của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm trước kianhưng tôi đã chọn trước tiên là làm tròn bổn phận của một công-dân đối với Chính-Thể Cộng-Hòa.

            “Riêng về “Phong Trào Chống Tham Nhũng”, có ít nhất là ba vấn-đề quan-trọng hàng đầu mà phía “Giáo Dân Tranh Đấu” (“trả thù cho cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm”, theo lời trối-trăn của Diệm “Tôi chết thì trả thù cho tôi” tham chiếu) cố ý không đề-cập đến:

            “I. Việc hạ bệ Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu:

            a/ Họ muốn đảo-chánh quân-sự, nhưng không thuyết-phục được ai, nên không thành-công.

            b/ Họ quyết hạ Thiệu, nhưng không tìm ra được một “ứng-viên” nào của “phe ta” xứng-đáng để lên thay Thiệu. Chỉ nhắm trước mắt mà không nhìn thấy xa hơntình-hình hậu-Thiệuthì tức chỉ là “không lấy thì khuấy cho hôi” mà thôi.

            “II. Lý-do hạ Thiệu:

            “1)-Thiệu là thủ-phạm, đã tấn-công Dinh Gia-Long, đưa đến cái chết của Diệm.

 

            “2)-Nhưng, cái tội lớn nhất của Thiệu, là đã có Đảng Dân-Chủ, lan trong quần-chúng, len trong chính-quyền, luồn trong quân-ngũ, mà lại chỉ lo gia-tăng phe-cánh cho cá-nhân mình, chứ không chịu dùng nó [như một Đảng Cần-Lao tái-sinh] để “mở-mang nước Chúa”.

 

 

            III. Mục-đích đích-thực của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”:

            “Danh-xưng thực-thụ của Nhóm này (cái đuôi mà họ cố giấu) là:

            “Phong trào nhân dân chống tham nhũng để cứu nướckiến tạo hòa bình”.

            “Toàn câu đã được ghi rõ phía dưới “Cáo Trạng số 1”, làm tại Huế, ngày 8 tháng 9 năm 1974.

            “Trong các hoạt-động sôi-động trước mọi người, họ cố tình nhấn mạnh mấy chữ “chống tham nhũngmà lơ đi cái đuôi là mấy chữ “kiến tạo hòa bình”.

 

            “Thử hỏi: trong tình-thế dầu sôi lửa bỏng lúc bấy giờ, có ai còn có cách nào “kiến-tạo hòa-bình” khác hơn là tuân giữ “đức vâng lời”, tuân lệnh Giáo-Hoàng PhaoLô VIngoại-bang Vatican, bỏ súng, bắt tay với cộng-sản, rước địch vào nhà?

*

            “Sau Hiệp-Định Paris năm 1973, chậm nhất là kể từ sau “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972, các vụBàn Thờ Phật Xuống Đường” cũng như “Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân đã là chuyện cũ, đã lùi vào dĩ-vãng rồi.

            “Các ván cờ đó đã được các bên tham-dự xóa hết rồi.

            “Hệ-quả có chăng là sau vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” năm 1966 thì Nhóm “Phật-Tử Tranh-Đấuđã không còn “tranh-đấu” nữa; và sau vụ VC “Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân” năm 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 thì tinh-thần chống-Cộng của Dân và Quân Miền Nam đã lên cao hơn.

            “Cho nên Biến-Động Miền Trung là chuyện đã xưa rồi.

            “Mới nhất, gian-xảo nhất, và nham-hiểm nhất, là chuyện Biến-Loạn Miền Trung.

 

            “Trên bàn cờ thời-sự Miền Nam Việt-Nam, vào giai-đoạn cuối-cùng của lịch-sử Việt-Nam Cộng-Hòa, chỉ còn có một ván cờ mới- chung-kết và chung-quyết:

            “Đối-thủ chính bên phía đối-lập với Chính-Quyền là các Nhóm “Giáo-Dân Tranh Đấu”, do đại-khối hơn 300 linh-mục trong “Phong Trào Chống Tham Nhũng” và cả đám linh-mục nằm vùng và thân-Cộng, “lãnh-đạo tinh-thần” Kitô-Giáo Việt-Nam, đứng ra thao-túng tình-hình.

            “Ở trên đầusau lưng họTòa Thánh La-Mã với đích-thân Giáo-Hoàng Phaolô VI cùng với hàng chục quốc-gia chư-hầu của Vương-Quốc Vatican.

            “Nhưng quốc-gia Việt-Nam của Kitô-Giáo đâu được làm một chư-hầu. Chư-hầu là một nước nhỏ/yếu, tùng-phục một nước lớn/mạnh, để được tồn-tại, nghĩa là vẫn còn là một nước. Đằng này, chỉ một Dòng Chúa Cứu-Thế là một giáo-đoàn/chi-phái của Giáo-Hội Kitô, mà đã tự xem là một Quốc-Gia, và thu-tóm cả nước Việt-Nam làm thành một Tỉnh nội-thuộc của Nước họ rồi:

 

            Nguồn: http://www.cuuthe.com/dong/dongmain.html>

Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.)

            “Thế đánh cạn-tàu ráo-máng của nội-thù đã chiếu bí Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, trực-tiếp mở đường cho ngoại-địch hạ gục đối-thủ trong nước cờ kết-thúc giữa Bắc-Việt Xâm-Lược với Việt-Nam Cộng-Hòa. (Định Nguyên, bài trên Web)

*

            “Vận Nước suy-đồi, mỗi người dù nhiều dù ít đều có một phần trách-nhiệm (thất-phu hữu-trách).

            “Chỉ có những kẻ đầy thiên-kiến, mù lương-tri, có ác-ý, và không tôn-trọng Sự Thật, mới đổ hết lỗi cho một riêng ai.

            “Ngày nay, mang thân-phận thất-quốc, lưu-vong, chỉ trừ những kẻ đã ở hẳn bên phía cộng-sản Việt-Nam rồi, còn thì không có “Phật-Tử Tranh-Đấu” nào mà không luyến-tiếc Việt-Nam Cộng-Hòa.

            “Trong lúc đó, có một số “Giáo-Dân Tranh-Đấu”, đến tận ngày hôm nayđã gần 40 năm quamà vẫn còn tự-hào, hãnh-diện về những âm-mưu, toan-tính, nỗ-lực, và hành-động của cái-gọi-là “Phong-Trào Chống Tham Nhũng”, vì mình không những chỉ chống-phá cá-nhân Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu mà đã đạp đổ cả cơ-chế Hiến-Phápvới Lập-Pháp, Hành-Pháp, Tư-Pháp ở trong Chính-Quyềnvà các Khối, các Nhóm trong Dân-Nhânvới các Chính-Đảng và các Giáo-Hội sống dưới Chính-Thể Việt-Nam Cộng-Hòanói chung là Việt-Nam Cộng-Hòa.

*

            “Tóm lại, nếu vì một lý-do nào đó mà phải gán riêng cho đích-danh một số người nào đó là “thủ-phạm chính” quấy-rối an-ninh trật-tự công-cộng nhất, lũng-đoạn tình-hình chính-trị quốc-gia nhất, gây cho tinh-thần dân-chúng hoang-mang nhất, khiến cho ý-chí chống-Cộng của chiến-sĩ giao-động nhất, vào mấy năm cuối-cùng của Chiến-Tranh Việt-Namtức là đâm một nhát dao chí-tử vào Việt-Nam Cộng-Hòa khi đang hấp-hối- thì số người đó rõ-ràng, không thể chối-cãi được, phải là thành-phần cực-đoan trong Nhóm “Giáo-Dân Tranh-Đấucác linh-mục cộng-sản nằm vùng, tay sai và thân-Cộng, cùng với Ban Lãnh-Đạo của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũngdù là một bộ-phận nhỏ của giới tín-đồ Kitô-Giáo Miền Nam Việt-Nam.

(các trang 472-84)

    LÊ XUÂN NHUẬN  

            “Cước-chú:

                                                                                                “Hồi-ký “Biến-Loạn Miền Trung” được in vào năm 2012. Lúc sắp in xong, tôi đã rút bớt 2 trang 484 và 485.

            Nhưng nay tình-hình đã khác, tôi xin phổ-biến 2 trang liên-hệ dưới đây:

            “LM Trần Hữu Thanh cùng với 301 Linh Mục khác ký tuyên ngôn lập Ủy Ban Chống Tham Nhũng, chống VNCH

E)_Góp ý về những nhận định của ông Lê Xuân Nhuận:

            Có lẽ nhận định của ông Lê Xuân Nhuận về “Phong Trào Chống Tham Nhũng” như ghi nhận ở trên là đầy đủ. Từ tài liệu trên, người đọc có thể có vài nhận xét như sau:

-Một là:

            Phong Trào Chống Tham Nhũng” của LM Thanh có hai động lực hỗ trợ:

            A)- Thứ nhứt: Động lực từ “bên ngoài”:

            Động lực từ bên ngoài, với “Phong Trào” của Lm Thanh, là từ Giáo Hội La-Mã. Tuy nhiên, La-Mã không trực tiếp tác động vào “Phong Trào” mà qua trung gian là Tổng Giám Mục Saigon. Điều đó được Lm Thanh khẳng định:

            a)-Ngày 19-9-1973, Tổng-Giám-Mục Sài-Gòn Nguyễn Văn Bình đọc diễn-văn khai-mạc “Năm Thánh”:

            “Chúng tôi hy vọng rằng những cuộc giết chóc và hận thù sẽ thực-sự chấm dứt trên mảnh đất này và đồng thời có được quan hệ hai chiều giữa Bắc và Nam, trong lúc đất nước tạm thời còn phân chia.” (BLMT- LXN)

            b)-Ngày 10-1-1974, sau cuộc Hội-Nghị toàn-thể hàng giáo-phẩm, các Giám-Mục Miền Nam đã công-bố một bản tuyên-ngôn “tha thiết kêu gọi hai chính phủ Bắc và Nam cùng đồng loạt, vì tình thương dân tộc, mà ngưng mọi hoạt động gây chiến và mọi chiến dịch bôi nhọ và thù ghét lẫn nhau.”

            “Giáo-Hội Kitô-Giáo Việt-Nam ở Sài-Gòn ra “Thư Chung” phát-động cuộc tranh-đấu “chống tham nhũng”, chống Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu. Họ đòi Thiệu phải từ-chức, vận-động trưng-cầu dân-ý buộc Thiệu phải ra đi. (BLMT- LXN)

            c)-Về “động lực từ bên ngoài”, sách “Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên” của Pierre Darcourt, Dương Hiếu Nghĩa dịch, ở Chương 7, bản điện tử, người đọc cũng thấy viết (xem phụ lục), giống như trong BLMT của ông LXN:

            Đức Cha Bình của Tòa Giám Mục Sài Gòn đã ủng hộ hành động của tôi.” (BLMT- LXN). “Tôi” là Lm Thanh. (ghi chú của HLH)

            d)-“Bên ngoài” còn vận động vòng ngoài:

            Giáo-Hoàng Phaolô VI đã nhiều lần “nhân đạo” kêu gọi chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam.

            e)-Tháng 12-1969, Giám-Mục Phạm Ngọc Chi, Phó Chủ-Tịch Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam, qua Hoa-Kỳ, đã tuyên-bố với báo-chí Mỹ: Miền Nam [Việt-Nam] đồng-tình với chính-sách ‘Việt-Nam-Hóa Chiến-Tranh’ của Tổng-Thống Nixon.” (BLMT- LXN)

            f)-Tháng 9-1972, Đại-Hội lần 2 của tổ-chức “Kitô-Hữu Quốc-Tế” gồm hơn 20 nước họp tại Quebec (Canada), với đề-tài giải-phóng các dân-tộc ViệtLàoCampuchia, đã “tố-cáo các cuộc xâm-lăng và ném bom vô-nhân-đạo của Mỹ, khẳng-định quyền tự-quyết, tự-do được sống hòa-bình của nhân-dân Việt-Nam.”

            g)-“Kinh-nghiệm trước mắt cho chúng tôi xác tín rằng Giáo-Hội [Kitô] tại Việt-Nam hôm nay là một công-cụ hữu-hiệu của người Mỹ.” (Phan Khắc Từ) (BLMT- LXN)

 

            h)-Tuy nhiên, Giáo-Hoàng Paul VI, trong cuộc viếng-thăm lục-địa Á-Châu lần đầu-tiên, đã không ghé đến Việt-Nam là quốc-gia đang bị Cộng-Sản đe-dọa, nhất là Việt-Nam có tỷ-số giáo-dân đông thứ nhì tại lục-địa này. Thiệu đến Tòa Thánh, nhưng không được Giáo-Hoàng tiếp-kiến – dù Thiệu là một Tổng-Thống, một con chiên – vì lập-trường của Vatican về vấn-đề Chiến-Tranh Việt-Nam là chỉ bênh-vực Hà-Nội, chỉ muốn chấm dứt chiến-tranh dù Miền Nam có rơi vào chế-độ Cộng-Sản sắt máu. Đã thế, Giáo-Hoàng còn chỉ-trích Thiệu, lại còn tiếp-kiến cặp Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy, trưởng phái-đoàn Cộng-Sản tại Hòa-Hội Paris. (BLMT- LXN)

            Có phải ý kiến sau đây, cho người đọc thấy rằng, ngay sau Hiệp Định Paris 1973, Giáo hội La Mã đã chuẩn bị bắt tay với Cộng Sản (Miền Bắc cũng như Việt Cọng miền Nam) để “sống chung hòa bình”. Đây là nhát dao đâm sau lưng người chiến sĩ VNCH:

            Từ năm 1968, Giáo Hoàng Phaolồ Đệ-Lục đã lập ra “Ngày Quốc-Tế Hòa-Bình”, cổ-vũ Hòa-Bình bằng thương-thuyết tại Việt-Nam. Vatican xác-định lập-trường là chấm dứt chiến-tranh, quan-hệ tốt với Miền Bắc và Chính-Phủ Lâm-Thời Miền Nam. Chính Giáo-Hoàng trao-đổi công-điện trực-tiếp với Hồ Chí Minh. (BLMT- LXN)

 

            Mai mỉa thay, điều đó lại được chính Cộng Sản Việt Nam xác nhận qua tuyên bố: Hà Nội và MTGPMN khẳng định là Cha hành động theo sự xúi giục của người Mỹ. (P. Darcourt)

Hai là:

            B)-Kẻ “Nội Thù”

            Việt Nam Cộng Hòa có nhiều “kẻ nội thù”. Đau đớn là những kẻ nội thù đó, lại chính là tôn giáo của miền Nam:

            Chẳng những Cha đã tỏ ta thành thật mà còn tin chắc rằng ông được trao cho một “sứ mạng”.

 

            ÔngThiệu đã trở thành một biểu tượng của người xấu mà ông phải hạ bệ bằng mọi giá để cứu đất nước và để ông ta phải chịu đền tội.

            Tại sao Lm Thanh nghĩ rằng ông được “trao một sứ mạng”?

            Ai trao cho ông?

            Chắc hẳn “người trao” không phải là dân chúng miền Nam. Bởi vì, nếu dân chúng miền Nam trao cho Lm Thanh, thì khi ông hô hào lật đổ chế độ VNCH thì người dân miền Nam phải đứng lên sau lưng ông!

Ở đây, ông chỉ có một mình. Những người theo ông, chống cái gọi là “tham nhũng”, chống TT Thiệu là những người, theo nhận xét của Pièrre Darcourt là: Tất cả những người nầy đều là những thằng điên và vô ý thức. Họ phải đầu hàng cộng sản hay là đi tù mà thôi.

 

Còn đối với Cha Thanh thì ông sẽ có dịp may nếu ông còn có quyền giữ được tràng hạt của ông ta để tụng trong khám tối…”

            Thành ra, đúng như nhận xét của LS Trần Trung Dung: “Cha Thanh là một “anh hùng rơm” (nguyên tác: Don Quichotte).

 

            Anh hùng rơm thì có giá trị gì?

            Ca dao có câu:

                        Anh hùng là anh hùng rơm

                  Cho một mồi lửa hết cơn anh hùng!”

 

            Cho một mồi lửa, rơm sẽ cháy nhanh, thành tro. Tuy nhiên, khi nó cháy, cũng làm nóng lưng chút ít những người lính đang cầm súng đánh nhau với Việt Cộng ở Ban Mê Thuột, ở Xuân Lộc, hay nóng lưng cho chính các con chiên của Lm Thanh ở Hố Nai, khi họ tự cầm súng xông ra chống quân Cộng Sản Bắc Việt khi bọn chúng tiến tới Hố Nai vậy.

            Người miền Nam, dù muốn dù không, dù có cảm tình với TT Thiệu ít nhiều hay không có chi cả, hay người ta ghét ít nhiều gì đó. Tuy nhiên, khi nhìn lại những trận đánh ở An-Lộc, ở Cổ Thành Quảng Trị, với vai trò Tổng Tư Lệnh Quân Đội, là những nơi TT Thiệu đến thăm binh lính VNCH khi tiếng súng chưa dứt hẳn, người dân miền Nam hoan hô TT Thiệu không ít, chưa hẳn TT Ngô Đình Diệm hay ai đó sánh được.

            Người miền Nam chống Cộng Sản, không ai coi TT Thiệu là kẻ thù cả, nhất là thù TT Thiệu như thù Cộng Sản.

            TT Thiệu và Cộng Sản khác nhau chứ, mà khác xa lắm. Ở miền Nam, dân chúng không ít người kính cẩn TT Thiệu, coi TT như ân nhân. Có người cầm cái bằng khoán được TT cấp trong chương trình “Người Cày Có Ruộng” mà khóc đấy. Cộng Sản chỉ cướp đất, cướp ruộng chứ có cấp đất ruộng cho ai đâu! Vậy mà, Lm Thanh chống TT Thiệu như chống Cộng Sản.

            TT Thiệu và Cộng Sản khác nhau, mà khác xa lắm. Thế tại sao có thể thù ghét TT Thiệu như thù Cộng Sản. Lm Thanh nói với P. Darcourt: “Tôi cũng là một người chống cộng sản như tôi đã chống ông Thiệu.

Người ta phải hiểu cái thù ghét của Lm Thanh với ông TT Thiệu là do đâu? Người ta biết quá đấy, vì Lm Thanh cho rằng TT Thiệu đã giết anh em TT Diệm. Cái “lăng kính tôn giáo” che mờ sự sáng suốt của Lm Thanh. Nói như thế, người ta cũng khó tin Lm Thanh chống TT Thiệu là vì TT Thiệu yêu Dân Tộc, Đất Nước. Vậy Lm Thanh chống TT Thiệu là vì động lực nào đó. Cứ đọc lại những nhận xét trên là độc giả thấy ngay.

Lm Thanh còn phủ nhận ông không phải là một chính trị gia: Tôi không phải là một chánh trị gia. Không phải là chính trị gia thì ông đứng ra lãnh đạo công việc lật đổ TT Thiệu để làm gì?

Là vì cái “sứ mạng” như ông đã nói. Sứ mạng đó ai giao cho ông?

            Say sưa với cái “sứ mạng” mà ai đó đã giao cho, Lm Thanh quên mất rằng Nhiệm vụ của các linh mục không phải để tấn công cảnh sát ngoài đường phố hay để lớn tiếng rao giảng bằng loa sự bất phục tùng, mà phải chăm sóc cho giáo khu và các nhà thờ của họ.” (P. Darcourt)

 

            Ngày xưa, một người ra làm vua thì tự cho là do “mệnh trời”. Nói như thế để kẻ khác không dám chống lại vua, vua không sợ bị cướp ngôi. Cái cách tuyên truyền như vậy, nó chỉ có thể có được khi người dân có trình độ chính trị thấp kém, “thần quyền đè trên thế quyền” của Thế Kỷ thứ 19 trở về trước. Nay, ai ra cầm quyền lãnh đạo đất nước mà nói là do “mệnh trời” thì dân chúng cười cho và đè cổ xuống mà lật đổ cho mau.

            Những cách nói như thế chỉ là cách nói của Muhammad Ali, Mobutu hay Bokassa bên Châu Phi Đen dân chúng còn lạc hậu hay các ông đạo xứ Iran, Irắk dân Hồi còn cuồng tín mà thôi.

            Người dân miền Nam, đã mấy lần đi bầu tổng thống, họ có đủ trình độ, khó mà có thể tin rằng Chúa sẽ giúp chúng ta tìm người cần phải có” như Lm Thanh nói. Không lý Chúa sẽ cho ông Ngô Đình Diệm sống lại?

            “Người cần phải có” tức là người sẽ lãnh đạo miền Nam, ngăn chận Cộng Sản Bắc Việt xâm lược đó hay sao? Hèn chi P.Darcourt “phán” một câu: “Tất cả những người nầy đều là những thằng điên vô ý thức.” Họ là những người “đi theo” LM Thanh. Vậy thì LM Thanh là người như thế nào?

            Dĩ nhiên, câu trả lời của P. Darcourt là rất có lý: Nhưng nếu cộng sản không thừa nhận người đó thì sao?

            Và đây chính là hành động “vuốt ve” kẻ thù, làm vui lòng Hà Nội:

            “Vào tháng 6-1971, đang lúc tên gián-điệp cộng-sản Vũ Ngọc Nhạ (kẻ được Linh-Mục Hoàng Quỳnh che-chở) bị Việt-Nam Cộng-Hòa cầm tù ở Côn-Đảo, mà Tòa ThánhGiáo-Hoàng Phaolô VI lại tặng Bằng KhenHuy ChươngVì Hòa Bình” cho y.”

            Không có chế độ Cộng Sản nào trên thế giới được thiết lập mà không dùng bạo lực, tức là dùng gươm giáo, súng đạn và sức người. Sức mạnh đó của Cọng Sản không có chính nghĩa nên họ thường núp dưới mỹ từ “Bạo lực cách mạng”.

            Năm 1945, “Việt Minh cướp chính quyền”. Sau đó, họ thành lập chế độ Cộng Sản. Hỏi Lm Thanh có bao nhiêu người hoan hô cái chế độ đó? Năm 1954, nhờ cái gọi là “Chiến thắng Điên Biên Phủ”, Cộng Sản áp đặt chế độ Cộng Sản ở Bắc Vĩ Tuyến 17. Hỏi LM Thanh có bao nhiêu người hoan hô cái chế độ đó? Chắc chắn Lm Thanh biết tại sao có gần một triệu người di cư vào miền Nam chứ?

            Vậy thì Cộng Sản sợ cái gì mà họ không thể áp đặt một chế độ không hợp với 20 triệu dân Miền Nam Việt Nam.

 

            Lm Thanh không biết lịch sử hay không thuộc lịch sử Việt Nam, và cũng không có kinh nghiệm gì với Cộng Sản hay sao? Hay Lm Thanh nói bừa cho đúng đường lối của La Mã, đang chuẩn bị cho dân chúng Miền Nam sống chung với Cộng Sản vì La Mã biết quá rõ con đường “bỏ của chạy làng” của Đế Quốc Mỹ?

            Biết rõ con đường “bỏ của chạy làng” đó nên “Các Tuyên Úy Công Giáo thì tổ chức Đại Hội tại Thủ Đô. Họ rao giảng với giáo dân quân nhân rằng “cộng sản cũng là con cái của Chúa”, rằng Công Giáo và CS có thể sống chung hòa bình” (“Biến Loạn Miền Trung-Lê Xuân Nhuận-trang 476).

            Đúng là có “bài bản”, có “hợp đồng tác chiến” mà nạn nhân là quân dân Việt Nam Cộng Hòa.

            Từ “bài bản” đó, Lm Thanh nói bừa: Họ cũng thừa thông minh và thực tiễn để phải hiểu rằng chỉ có một cách duy nhất để tái lập hòa bình thật sự là phải thành lập một Chánh Phủ Đoàn Kết Quốc Gia, ở đó có đủ mọi xu hướng và phải có sự ủng hộ của toàn dân. Dù sao thì họ cũng đã từng và không bao giờ ngưng hứa như thế mà.

            Tôi gọi là nói bừa, vì nếu Lm Thanh nói đúng, thì sau khi chiếm xong miền Nam, thì “họ” (theo nghĩa của Lm Thanh là Cộng Sản Hà Nội) thành lập Chánh Phủ Đoàn Kết Quốc Gia, ở đó có đủ mọi xu hướng và phải có sự ủng hộ của toàn dân.”

 

            Nghe lời Lm Thanh nói, người dân thấy ngọt, như một tô nước đường, nhưng không biết nó có pha “thuốc độc Cộng Sản” đấy. Cũng chắc chắn Lm Thanh không ngây thơ tin vào lời hứa của Cộng Sản, nhưng Lm Thanh cũng cứ nói “và không bao giờ ngưng hứa như thế mà”.  Đây không phải là lời hứa từ Hà Nội đâu, có thể nó từ La Mã đến đấy!

            Khốn khổ cho Dân tộc Việt Nam nầy!

            Linh mục Thanh không đơn độc trong cuộc “chiến đấu” chống Việt Nam Cộng Hòa đâu! Cộng Sản không bao giờ “duồng gió bẻ măng”. Do đó, Cộng Sản ra lệnh cho đám tay sai:

            “Trong lúc đó, ngay tại Thủ-Đô, trong cơn dầu sôi lửa bỏng, những tay điệp-viên chiến-lược của Cộng-Sản, từ lâu vẫn nấp dưới lớp áo tu-hành, như các Linh-Mục Thanh Lãng, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Du, Nguyễn Quang Lãm, Trần Ngọc Nhuận, v.v… (cùng với Trần Hữu Thanh trong “Phong Trào Chống Tham-Nhũng”), cũng sách-động quần-chúng xuống đường hằng ngày để gây thêm rối-loạn.

            “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” do Linh-Mục Trần Hữu Thanh cầm đầu, các Lm Đinh Bình Định và Nguyễn Học Hiệu cùng Bác-Sĩ Nguyễn Thị Thanh phụ-lực”.

            Trên là những người lãnh đạo, rõ nhất là “Bác Sĩ Kăm-pu-chia” Nguyễn Thị Thanh. Bác sĩ Thanh hiện giờ đã trở về Saigon. (3)

            Người ta còn thấy đây nữa:Bên cạnh “Phong-Trào” của LM Trần Hữu Thanh, còn có các Nhóm tay sai Cộng-Sản và thân-Cộng, là các LM Trương Bá Cần, Thanh Lãng, Huỳnh Công Minh, Vương Đình Bích, Hồ Thành Biên, Nguyễn Thành Trinh…

            Bấy giờ ở Saigon có tạp chí “Đối Diện” của 11 linh mục phản chiến Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Phan Khắc Từ, Nguyễn Hữu Khai, v.v…

            Cộng sản Hà Nội đánh chúng ta nhiều mặt, ngay cả việc giả-danh từ-thiện hoạt-động trong tổ-chức trá-hình của CS là Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói…)

            Nền dân chủ non trẻ của miền Nam VN làm cho những nhà chính trị mang nhiều ảo tưởng. Không mấy ai nghĩ rằng miền Nam sẽ hoàn toàn sụp đổ khi Mỹ rút bớt viện trợ. Ngay TT Thiệu cũng nghĩ rằng đã tìm được dầu hỏa ngoài khơi hải phận VN. Một thời gian ngắn nữa, sau khi khai thác được dầu, bán được tiền thì sự tùy thuộc vào viện trợ Mỹ cũng bớt đi.

            TT Thiệu có những toan tính cho miền Nam, càng ngày sẽ càng tự túc hơn. Nhận xét việc ấy, P. Darcourt viết:

            “Vào tháng hai năm 1975, ông viết cho Tổng Trưởng Tài Chánh rằng: “Viễn ảnh kinh tế đã cho thấy phần bất lợi đã giảm. Bằng mọi giá ta phải thu hút vốn đầu tư ngoại quốc. Tất cả nỗ lưc của ông phải được dồn hết vào việc nầy. Không cần phải quảng cáo. Hồ sơ của chúng ta đã tốt rồi. Thị trường của Miền Nam đã trên hẳn mức trung bình ở Á Châu. Với dân số 20 triệu, mà hết 9 triệu nhân công chúng ta đã hơn hẳn Úc Châu, Hong-Kong, Mã Lai Á, Tân Gia Ba và Đài Loan rồi. Giá thuê nhân công rẻ là một cái lợi thế rất quan trọng cho các cuộc đầu tư ngoại quốc. Và một số lớn nhân công của chúng ta lại có khả năng nói tiếng Pháp và tiếng Anh. Chúng ta có sẵn 100.000 thợ chuyên môn, 10.000 thợ máy và nhân viên điều hành đã được huấn luyện để coi sóc các dụng cụ máy móc có phần phức tạp hơn là tàu bè và trực thăng nữa. Con số chuyên viên kỹ thuật có giá trị (từ tin học đến máy móc) cần thiết cho kỹ nghệ sẽ rất cao khi cuộc giải ngũ có thể xảy ra. Trang thiết bị cho ngân hàng khá nhiều và nhân viên cũng thành thạo. Đó là những luận cứ mà từ đó ông phải triển khai ra thêm. Tôi đã viết thơ cho Tổng Thống Ford để nói với Ông ta rằng một sự viện trợ đúng mức trong 3 năm là quá đủ để bảo đảm nền độc lập của chúng tôi. Chỉ 3 năm thôi, không quá một ngày nào!”

            “Vô ý thức? Mộng du chánh trị hay lạc quan của lãnh đạo để kích thích các cộng sự viên kém nhiệt thành?

            “Trên thực tế, sự táo bạo của Tổng Thống Thiệu trong cách tính toán của ông và lòng tin cứng rắn của ông đối với tương lai của đất nước ông đều dựa vào một cuộc khám phá huyền diệu ngoài khơi bờ biển Miền Nam Việt Nam: Dầu lửa.

            “Phải, đã có dầu lửa ở ngoài khơi Vũng Tàu và đảo Poulo Pajang. Sáu mũi khoan, mũi nào cũng trúng đích! Như vậy người dân Miền Nam Việt Nam và Tổng Thống của họ có quyền mơ ước: Sáu giếng dầu mà khai thác từ năm 1977 sẽ đem lại lợi tức là một tỷ mỹ kim! Nhưng còn cần phải giữ vững được từ nay cho đến ngày đó. Vả lại 3 năm cũng không lâu lắm.

            Những người chống TT Thiệu, liệu họ không thấy mối lợi về dầu lửa sắp tới đó chăng? Vậy thì tại sao họ không tham gia việc lật đổ TT Thiệu ngay từ bây giờ để kiếm tư lợi về sau?

            Giả tỉ như TT Thiệu mất chức, sẽ có nhiều lợi ích cho các đảng phái, phe nhóm, tôn giáo… Người ta hy vọng sẽ giành được nhiều cái ghế, từ ghế tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, các tổng bộ trưởng, và nhiều lợi ích từ việc khai thác dầu lửa…

            Giai cấp thống trị xã hội miền Nam VN là “hậu duệ” của giai cấp thống trị VN từ nhiều thời kỳ trước: Giới sĩ phu thời quân chủ, thời kỳ Tây đô hộ, những kẻ thủ cựu, thành phần “theo mới”, “Tây học” và những ông đốc phủ sứ, tham biện của Nam Kỳ thuộc địa và những thượng thư, tổng đốc, tuần vũ, án sát, tri phủ, tri huyện… khi vua Bảo Đại chưa thoái vị, cho tới các bộ trưởng, tổng trưỏng, tướng lãnh, sĩ quan… của hai thời kỳ VNCH.

            Do đó, “Một số lãnh-tụ đảng-phái và tôn-giáo, như Phan Bá Cầm (Hòa-Hảo), Trần Quang Vinh (Cao-Đài), Hà Thế Ruyệt (Duy-Dân), Thượng-Tọa Pháp-Tri và các Ông Ngô-Văn-Ký, Nguyễn Văn Lục, Xuân Tùng (Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng) thành-lập “Trận Tuyến Nhân Dân Cách Mạng”, kêu-gọi TT Nguyễn Văn Thiệu từ-chức và các phe liên-hệ “chấm dứt chiến-tranh, giải-quyết vấn-đề Miền Nam bằng phương-thức hòa-bình”.

            Hòa bình theo cách nào?

            Theo kiểu “sống chung hòa bình” của Cộng Sản quốc tế, nay thu hẹp lại trong phạm vi VNCH hay sao?

            “Lợi ích” về việc TT Thiệu bay chức, còn được Nhóm “Sóng Thần” thì tổ-chức “Ngày Ký-Giả đi Ăn Mày” rồi tiếp theo là “Ngày Công-Lý và Báo-Chí Thọ-Nạn” vào tháng 10-1974.

            Cái gọi là “tài nguyên quốc gia” nhiều khi là mối đại họa cho dân tộc. Những ông hoàng xứ Ả Rập nhờ dầu lửa mà sống trong nhung lụa, nhưng dân chúng Ả Rập thì được cái gì?

            Dầu lửa ở ngoài khơi Vũng Tầu có làm cho nước ta giàu mạnh hơn, dân VN sung sướng hơn hay sẽ gánh tai họa? Bao nhiêu nước đầu sỏ trên thế giới sẽ “chúi mũi” vào những giếng dầu ấy, và sẵn sàng tranh giành nhau, đánh phá nhau, gây nên giặc giã. Ai chắc rằng việc tranh giành đó sẽ không xảy ra, hay sự tranh giành sẽ rất quyết liệt. Súng nổ đạn bay, tên rơi đạn lạc. Dân tộc VN chưa chắc đã có được gì mà sẽ gánh lấy cái hậu quả do chiến tranh gây ra? Tình hình Biển Đông bây giờ không cho chúng ta thấy đó sao. Trong tương lai, điều gì sẽ xảy ra nữa đây?

            Người ta cần nhớ kỹ rằng: “con buôn” chỉ nghĩ đến cái lợi. Một người bạn “mê xem bóng tròn” nói đùa mà thiệt: Chính sách ngoại giao của Mỹ giống như ông bầu đi mua cầu thủ. Tay nào đá hay thì mua về để kiếm lợi, đâu cần chọn cầu thủ áo vàng hay áo đỏ. Hà Nội hay Saigon ai đá hay thì bắt, để bảo vệ mấy giếng dầu ngoài biển Đông cho chắc ăn.

            Câu nói đùa nghe đau lòng quá đấy!!!

&

            Tất cả những hoạt động của nhóm “Chống Tham Nhũng” và bọn theo đuôi có hiệu quả tức thì:

            Người lính VNCH có súng mà thiếu đạn, có xe tăng, có máy bay mà thiếu xăng bởi như người ta thấy: “Các báo Time, Newsweek; các đài BBC, VOA đều loan tin hậu-quả là Quốc-Hội Mỹ quá chán-ngán Chiến-Tranh Việt-Nam và mệt-mỏi vì đã yểm-trợ một đồng-minh có quá nhiều khuyết-điểm và thối-nát.

            (Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đã tiếp tay cho Hoa-Kỳ chấm dứt viện-trợphủi tay đối với Việt-Nam Cộng-Hòa/ BLMT LXN).

            Tất cả những “sức mạnh” nói trên, đối với LM Thanh chẳng có trọng lượng bao nhiêu. Vấn đề là Đức Cha Bình của Tòa Giám Mục Sài Gòn đã ủng hộ hành động của tôi.(“Tôi” là LM Thanh)

 

            Còn như Các sĩ quan, các bác sĩ, luật sư đã viết thư cho tôi hay đã đến đây gặp tôi để ủng hộ tôi và khuyến khích tôi tranh đấu” thì chẳng có ý nghĩa gì cả. Họ cũng chỉ là những người theo Lm Thanh để kiếm chác một chút gì đó, sau khi LM Thanh lật đổ được TT Thiệu.

            Tuy nhiên, dưới nhãn quan của LS Trần Trung Dung, như ông đã nói với P. Darcourt thì đó chỉ là:

“Cha có nói với anh là Đức Cha Bình đã đồng ý và khuyến khích Cha tiếp tục tranh đấu phải không? Tất cả hai người đều có thể nghiêng về trường hợp Cha Quản Lý của Giáo xứ mà phía sau lưng ông nầy có một số bù nhìn tay sai đang kiểm soát nửa tá ngân hàng tư, buôn hối đoái và cho vay cắt cổ , (28 % lời), giết chết đồng bạc trong thời gian không quá 4 năm. Ông ta cũng đầu cơ về đất đai và tài trợ cho các dịch vụ địa ốc.

Và LS Trần Trung Dung còn cho biết thêm vài điều, mà có lẽ, là một nhân vật từng đảm nhận những chức vụ quan trọng trong cả hai nền Cộng Hòa VN, ông hiểu rõ hơn người khác:

Tòa Tổng Giám Mục còn là sở hữu chủ của nhiều khách sạn đặc biệt là khách sạn Caravelle, nơi đó các phòng thường tiếp bọn gái nhẹ dạ còn nhiều hơn là những người đi hành hương ở Fatima.

Tuy nhiên, tin tưởng vào Đức Cha và thế lực ngoại quốc ở đằng sau Đức Cha, có phải Lm Thanh nghĩ rằng ông có thể thành công, thời cơ đã tới nên ông đưa ra “Cáo-Trạng số 2”, tố-cáo TT Thiệu nhiều tội và hô-hào lật đổ bằng vũ-lực.

            Nhận định về hai phong trào “Tranh đấu của Phật giáo đồ năm 1966” ở Huế và “Phong Trào Chống Tham Nhũng”, ông Định Nguyên nhận xét như sau:

“Nếu kết tội thì phải kết tội PTCTN trước, vì phong trào nầy xẩy ra vào những ngày “cận tử” của VNCH. Họ đã thực sự “đâm sau lưng chiến sỹ” khi chiến sỹ đang trong nổ lực bảo vệ VNCH trong những ngày tháng cuối cùng”. (Định Nguyên)

Người ta, và cả Lm Thanh đều chủ quan. Họ không làm được việc gì cả, chẳng xong được gì cả, bới vì, theo nhân xét của P. Darcourt, thì:

Tất cả những người nầy đều là những thằng điên và vô ý thức. Họ phải đầu hàng cộng sản hay là đi tù mà thôi.

 

Còn đối với Cha Thanh thì ông sẽ có dịp may nếu ông còn có quyền giữ được tràng hạt của ông ta để tụng trong khám tối…”

            Tiếc một điều, sách của Lê Xuân Nhuận chỉ bàn tới “Biến Loạn Miền Trung” với những tên phản quốc như Nguyễn Hữu Duệ, Hoàng Thế Khanh, Lm Nguyễn Kim Bính ở Huế. Huế chỉ là cái ngọn, gốc là ở Saigon. Tác giả Lê Xuân Nhuận là người chịu trách nhiệm về tình hình an ninh ở Vùng I nên ông chỉ viết những gì ở Vùng I, nơi ông nắm rõ tình hình, còn nơi khác, không biết rõ thì ông không nói mò vì lòng tự trọng của ông.

            Và thế là, có sự tiếp tay của “Phong trào chống tham nhũng”, của “Báo chí ăn mày”, của “Phụ nữ đòi quyền sống”, của một đám lăng nhăng chạy cờ, chạy hiệu, quân Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược vô tới Dinh Độc Lập, Dương Văn Minh đầu hàng.

            Không phải người ta cố quên mà chính là cố chạy tội cho cái đám “cõng rắng cắn gà nhà nầy”, mà người ta đổ hết mọi tội lỗi lên đầu ông Dương Văn Minh, vốn là người không có chiều sâu, không có thủ đoạn, và những người đứng sau lưng Dương Văn Minh, rằng đó là những tên “Cọng Sản nằm vùng”, những tên “tay sai Cộng Sản”, mà tảng lờ tên tuổi Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, chính là những “cán bộ Cọng Sản chính cống”, nhờ các ông cha cố mà ngồi ngay trong Phủ Đầu Rồng.

            Đâu có phải chỉ có đám “Phong trào chống tham nhũng” hay “báo chí” hay “phụ nữ” có công với Cộng Sản mà thôi đâu, mà ngay chính mấy ông Tây hồi ấy ở Paris hay ở Saigon cũng có công với Cộng Sản Hà Nội cả. Tuy rằng, cách trả ơn của Cộng Sản đối với họ, cũng làm cho mấy ông Tây tẻn tò:

“Ông Đại sứ đã thực hiện một tiết mục lớn: Ông đã thúc hối cho ôngThiệu sớm rời khỏi chức vụ, và sau đó cả ông già Hương nữa để đưa cho được tướng Dương văn Minh lên. Ông đã tưởng rằng như vậy là đã đem lại hòa bình và một sự hòa hợp. Nhưng ông ta chỉ thành công trong việc nhanh chóng làm tan rã nền chánh trị của Miền Nam và đưa Miền Nam đến một sự đầu hàng không điều kiện mà thôi. Trước ngày mất thủ đô, người ta chỉ thấy có một mình ông Đại Sứ Pháp. Nhưng sau đó thì ông đã biến thành một luổng gió… Và giờ đây ông ra đi, để lại sau lưng ông trên mười ngàn con tin người Pháp… (VN-QMOK tr.374)

 

Kết:

Tại sao không bỏ tù Lm Thanh?

Nhìn chung, người ta nghĩ như thế nầy: Lật đổ chính quyền là có tội với chính quyền đó. Lật đổ vua là có tội với vua. Lật đổ chế độ Cộng Sản (đang cầm quyền) là có tội với đảng Cộng Sản. Lật đổ tổng thống là có tội với nền Cộng Hòa.

Hồng Bảo tranh ngôi với vua Tự Đức (Hồng Nhậm) thì Hồng Bảo bị tù. Đảng Đại Việt chống Thủ Tướng Ngô Đình Diệm (Khi vụ Ba Lòng xảy ra, ông Ngô Đình Diệm còn là Thủ Tướng, chưa làm Tổng Thống) thì lãnh tụ Hà Thúc Ký cùng các đảng viên của ông bị ngồi tù, bị tòa xử tội. Hiện nay, ở trong nước, ai lên tiếng chống chế độ đều bị tống ngục, có khi chẳng cần án.

Năm 1966, Tướng Nguyễn Chánh Thi, ông Trí Quang hô hào chống Quân Nhân cầm quyền, không chống chế độ. Đây cũng chỉ là một cách nói, để “chạy tội.” Khi cuộc đấu tranh bị “Quân Thiệu Kỳ” đánh dẹp, ông Trí Quang phải tuyệt thực một trăm ngày, để “vuốt mặt” hay để khỏi bị ra tòa?

Năm 1974, 75 Lm Thanh hô hào lật đổ TT Thiệu, TT Thiệu làm gì được ông ta?

Tình trạng như thế, rõ ràng đất nước không có luật pháp kỷ cương gì cả. Chống chế độ thì phải cho vô tù, cho ra tòa mới là môt chế độ có luật pháp. Không có luật pháp làm sao bảo vệ nền dân chủ, tự do của chế độ?

Tình trạng đó làm cho người lính ở trận địa băn khoăn, lo lắng và nao núng trước kẻ thù.

Họ cầm súng cho ai? Bảo vệ cái gì khi mà ở hậu phương “loạn” như thế. Đúng là “Biến Loạn” không chỉ ở Miền Trung mà toàn cõi Miền Nam VN.

Một cách tổng quát, so sánh “Biến Động Miền Trung” và “Biến Loạn Miền Trung” là một sự so sánh khập khiễng.

Khi sách BĐMT phát hành, tôi có nói chuyện với ông NVH, nguyên hiệu Trưởng trường Khải Định, sau đó là Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục Trung Nguyên Trung Phần, trước 1975 là Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Huế. Ông là giáo sư và hiệu trưởng trường tôi dạy. Ông bảo với tôi: “Thằng đó, (tức ông cựu Thiếu tá Liên Thành) có ra gì đâu mà anh phải mất công.” Tôi nghe lời ông thầy cũ.

Nhưng đến khi sách BLMT của ông Lê Xuân Nhuận phát hành, tôi đọc kỹ và có suy nghĩ. Cái khác nhau giữa Biến Động và Biến Loạn là cái gì?

Thế rồi, tôi không muốn viết gì cả. Bởi vì, theo cách đặt tên sách như trên, nếu có viết gì thì từ việc phải so sánh hai chữ “Biến Động” và “Biến Loạn”, sau đó phải nói ít nhiều đến hai tác giả của hai cuốn sách.

Đó là điều tôi rất ngại ngùng. Nói tới hai tác giả, là nói tới ông Liên Thành, một con tép riu, còn ông Lê Xuân Nhuận là ánh nắng rực rỡ của mặt trời. Ánh nắng đó sẽ sấy khô con tép riu.

Tôi sẽ rất trung thực, vô tư, chớ không phải thi sĩ Thanh Thanh, tức ông Lê Xuân Nhuận là bạn văn thơ với ông anh cả của tôi – Hồng Quang – hồi năm 1949, 50 mà tôi thiên vị.

Nhưng kể về học vấn, kiến thức, tài năng… thì ông Lê Xuân Nhuận có thể là người cầm phấn đứng trên bục giảng, còn ông Liên Thành chỉ đáng ngồi ở cái băng của học sinh. Ấy là chưa nói về nhân cách, nếu đem so sánh ông Liên Thành với ông Lê Xuân Nhuận thì tôi đã làm cái công việc đáng hổ thẹn cho tôi.

Ông Lê Xuân Nhuận, trước năm 1945, có lẽ ông còn đi học, nhưng năm 1949, khi ông thường có thơ với bút hiệu Thanh Thanh, đăng trên tờ bán tuần san Ý Dân ở Huế thì ông đã nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ ở Cố đô. Ông hoạt động trong nhiều lãnh vực: thơ, văn và kịch. Ông nổi tiếng nhờ những vở kịch thơ của ông và hoạt động trong giới truyền thông: Phát thanh, báo chí và cả giáo dục. Ông là người mở lớp dạy Anh Văn đầu tiên, sau 1945, cho nhiều người ở Huế.

Có thể nêu vài ví dụ như sau: Khi ông đã nổi tiếng ở Huế, thì những người có thể là bạn cùng tuổi hay thua ông vài tuổi như các ông Lê Chí Cường, Phan Đình Tùng, Phan Đình Niệm… còn đi học rồi họ nhập ngũ.

Cùng hoạt động trong giới thơ văn báo chí Huế lúc đó có Bùi Chánh Thời, Như Trị, Hạnh Lang. Ông cũng là người, với tinh thần yêu nước, chống Pháp, đã có nhiều hoạt động chống Tướng Nguyễn Văn Hinh, Đại tá Trương Văn Xương và hoan hô “Chí sĩ Ngô Đình Diệm chấp chánh” với chủ trương “Bài Phong, đã Thực, diệt Cộng”. Tuy nhiên, khi chế độ nhà Ngô càng ngày càng “ló mòi độc tài” thì ông chống đối. Cũng như những người khác chống chế độ như ông, ông bị “đày” lên Cao nguyên. Tài năng, tư cách của ông, nhiều người biết và yêu mến ông. Nếu nói về dòng dõi, như cách nghĩ của nhiều người Huế, thì thân phụ ông từng làm tri huyện Phong Điền, tỉnh Thưa Thiên, sau đó là tri phủ Tỉnh Gia tỉnh Thanh Hóa..

Trong khi đó, ông Liên Thành, cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, con ông Tráng Cử, tiếng thường gọi là “ông trợ Cử” (instituteur auxiliaire) chỉ là một người bình thường, làm “trợ giáo” ở Huế, dạy học sinh các lớp năm, tư, ba (lớp 1, 2, 3 ngày nay). Khoảng năm 1955, ông làm thư ký tại trường Quốc Học, sau đó, nhờ ông NVH là giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục, rể cụ Ưng Thiều (anh cụ Ưng Quả) ông được cử giữ chức vụ “Hiệu Trưởng trường Sư Phạm Cấp Tốc Huế”.

Ông Liên Thành là học sinh trường Quốc Học, học trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường, (dạy Việt Văn lớp Đệ Nhị). Sau hai năm 1961, 1962 (với 4 kỳ thi), ông Liên Thành không vượt qua được các kỳ thi Tú Tài 1, nên ông tình nguyện nhập ngũ Sĩ Quan Bảo An.

Khóa sĩ quan Bảo An ông Liên Thành theo học, được học chung với khóa 16 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, cùng một khóa với ông Lê Cự Phách, tức thi sĩ Du-Tử Lê và ông Lê Văn Nghiêm hiện ở Mass, anh người bạn học cũ của tôi, Lê Văn Nghi và anh của bác sĩ Lê Văn Chỉnh, hiện ở Boston.

Học chung một khóa những các sinh viên sĩ quan Bảo An được tổ chức (biên chế – danh từ VC) thành một đại đội riêng, cùng khai giảng, cùng mãn khóa. Các sinh viên sĩ quan Thủ Đức khi tốt nghiệp được mang loon chuẩn úy. Sinh viên tốt nghiệp khóa Bảo An mang loon thiếu úy. Bảo An là lực lượng bán quân sự, thuộc Bộ Nội Vụ và dưới quyền chỉ huy tổng quát của Tiểu Khu Trưởng, thông thường là Tỉnh Trưởng.

Khóa 12 Thủ Đức là một sự cải tiến trong lịch sử của trường Bộ Binh Thủ Đức. Kể từ khóa 11 trở về trước, những người bị gọi động viên hay tình nguyện, thường chỉ có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, chứng chỉ hoặc học bạ lớp Đệ Nhị hoặc văn bằng cao hơn.

Khóa 12 Thủ Đức là khóa “Tổng động viên”, những người sinh từ 1928 trở về sau, nếu có bằng Tú Tài 1 trở lên, lần lượt bị gọi nhập ngũ khóa Trừ Bị Thủ Đức. Khóa 12 cũng là khóa chót, cho những người không có bằng Tú Tài 1 được thi tuyển. Thủ khoa khóa 12 là giáo sư Nguyễn Ngọc Linh. Kể từ khóa 13 trở về sau, dù tình nguyện hay bị động viên, phải có văn bằng thấp nhất là Tú Tài 1. Ông Lê Cự Phách chỉ có bằng Tú Tài 1, tình nguyện nhập ngũ khóa 16 Thủ Đức. Trong khi đó, ông Liên Thành, vì không có bằng Tú Tài 1, phải tình nguyện gia nhập lực lượng Bảo An, tiêu chuẩn sĩ quan chỉ cần có chứng chỉ hoặc học bạ lớp đệ nhị mà thôi. (4).

Sau khi tốt nghiệp, ông Liên Thành được trả về đơn vị cũ là Tỉnh Đoàn Bảo An Thừa Thiên, phục vụ tại Chi Khu Nam Hòa, phía tây nam Huế.

Khóa 16 Thủ Đức khai giảng vào tháng 6/ 1963, mãn khóa vào khoảng tháng 3/ 1964.

Sau khi chế độ Đệ Nhứt Cộng Hòa sụp đổ, lực lượng quân đội được tổ chức lại. Lực lượng Bảo An được cải danh thành Địa Phương Quân, không còn là lực lượng bán quân sự thuộc Bộ Nội Vụ mà thuộc Bộ Tổng Tham Mưu/ Quân Đội.

Sau khi cuộc tranh đấu của Phật Giáo đồ miền Trung bị dẹp bỏ, số đông các chức vụ chỉ huy quân sự và hành chánh, cảnh sát miền Trung đều bị thay đổi. Bấy giờ, ở Saigon, các lãnh đạo không muốn cắt cử người Bắc hay Nam đảm nhận các chức vụ chỉ huy, trưởng sở ở miền Trung, nhất là ở Huế, mà giao quyền cho các đảng phái, dễ dàng trong việc ổn định tình hình hơn. Vì vậy, vai trò các đảng phái mạnh lên, nhất là đảng Đại Việt. Họ nắm giữ hầu hết các chức vụ quận trưởng, trưởng ty Thông Tin, và Cảnh Sát…

Do tình hình ấy, ông Đoàn Công Lập, đảng viên Đại Việt giữ chức vụ Trưởng Ty Cảnh Sát; chức vụ Phó ty Cảnh Sát về tay ông Hà Nguyên Chi, cũng Đại Việt, Trưởng phòng nhân viên về tay ông Liên Tường, anh cùng cha khác mẹ với ông Liên Thành. Chức vụ phó ty Cảnh Sát Đặc Biệt về tay ông Liên Thành.

Vì vậy, trong suốt thời gian cuộc đấu tranh Phât giáo đồ diễn ra năm 1966, ông Liên Thành còn là thiếu úy, phục vụ ở ban 5, chi khu Nam Hòa, không giữ công tác hay có vai trò chỉ huy nào trong việc đàn áp Phật Giáo đồ. Nhờ cụ Trợ Cử là thành viên cao cấp Đại Việt ở địa phương nên ông Liên Thành mới nắm được chức vụ Phó Ty CS Đặc Biệt Thừa Thiên/ Huế. (5).

Trong viễn tượng đó, những hiểu biết của ông Liên Thành về tình hình đấu tranh ở Huế năm 1966, chỉ là những hiểu biết thông thường, ai người Huế cũng đều biết cả. Ngoại trừ những ý kiến ông nêu ra cố ý xuyên tạc, vu cáo, bôi lọ những người ông Liên Thành có dụng ý thì không nói làm gì!

Ngược lại, những sự kiện xảy ra ở Huế và miền Trung trong các năm 1974, 75 là thời gian ông Lê Xuân Nhuận đảm nhận chức vụ Giám Đốc Đặc Cảnh Vùng I, Quân Khu I là thuộc về công việc cũng như trách nhiệm của ông, nên tính chất xác thực rất cao, người đọc khó nghi ngờ gì được.

hoànglonghải

(1)- Ông Tôn Thất Dương Kỵ dạy sử ở trường Khải Định, chủ nhân nhà in Khánh Quỳnh ở Ngã Tư Anh Danh (Đinh Bộ Lĩnh/ Mai Thúc Loan). Nguyễn Đình Thống và tôi có theo ông Cao Hữu Triêm, giáo sư sử địa của chúng tôi đến lấy bài ông Triêm cho in ở nhà in nầy. Lấy bài trả tiền xong, ông Triêm nói với ông Kỵ rằng “Anh chẳng thương bọn học trò gì cả.” Chúng tôi không có cảm tình với ông Kỵ là vì câu nói đó.

(2)-Ngày 1 tháng 5 năm 1955, “Phong trào Hòa Bình Huế” tổ chức biểu tình ở Phú Văn Lâu nhưng đồng bào không tham gia. Ngày 30 tháng 5 sau đó, đồng bào biểu tình rất đông cũng ở Phú Văn Lâu, đá đảo phe Nguyễn Văn Hinh, ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Ông Hồ Hán Sơn lên diễn đàn hô hào dân chúng ủng hộ Thủ Tướng, chống bọn “Tay sai thực Dân Pháp” (ám chỉ Tướng Hinh và đồng bọn) được dân chúng hoan hô nhiệt liệt. Tôi có “đi coi” cuộc biểu tình nầy, mặc dầu hôm sau là ngày tôi thi Trung Học Đệ Nhất Cấp.

(3)-Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh học y khoa ở Đại Học Saigon, năm thứ ba, bị đuổi học vì không đủ điểm lên lớp. Nguyễn Thị Thanh sang Kampuchia học tiếp y khoa ở bên ấy. Năm cuối, các giáo sư Pháp dạy ở đấy cho chuyển qua học ở Paris (không rõ trường), nên “tốt nghiệp y khoa ở Pháp”. Khi bác sĩ Nguyễn Thị Thanh trở lại Saigon, bạn đồng môn gọi mỉa là “Bác sĩ Kăm-pu-Chia”!

(4)-Các hạ sĩ quan được “đặc cách” theo học sĩ quan cũng có thể học ở trường Bộ Binh Thủ Đức.

(5)-Tại nhà ông Tráng Cử, (ở phía bờ sông Hương, sau khi qua khỏi cầu Bạch Hổ) sau khi đảng Đại Việt đã chọn được ông Đoàn Công Lập và Hà Nguyên Chi cho chức vụ Trưởng Ty và Phó Ty Cảnh Sát, thì họ chọn tiếp Phó Ty Cảnh Sát Đặc Biệt cho đủ bộ sậu, nhưng chưa tìm được ai. Lúc đó, thiếu úy Liên Thành đang phụ vụ ở Chi Khu Nam Hòa, về thăm nhà, dắt xe đạp đi vô nhà. Thấy anh ta, có người đề nghị chọn ông Liên Thành vào chức vụ đang bỏ trống ấy. Nhờ vậy mà đời Liên Thành “đi lên”…  (Việc nầy, tôi nghe ông Đoàn Công Lập kể lại)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Comment on hoànglonghải – Biến Động với Biến Loạn

  1. Dam Cong giao thi luc nao cung do toi Cho Phat giao lam mat mien nam .Chung co bao gio doc sach bao dau ma biet ,Cha noi sao thi tin vay , va Vatiacan bao sao nghe vay , phong trao Chong tham nhung dau? bay gio doi mo song lai Chong Tham nhung Viet cong di. Tom lai bat cu chuyen hay Tot thi Cong Giao VN huong Con xau xa nho ban thi gan chp Phat giao va may ong Su la Cong san trong khi lu Gian diep nam vung trong Dinh TT thi do may Ong Cha dung duong ,lam mat Mien nam la Do ong TT Cong giao NVT .Chu dau phai may Ong su ?

    Like

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: