Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (26) – Bidong, huyền thoại về một hòn đảo rắn

1                Trước 1975, có lẽ người Việt Nam không mấy ai biết tới đảo Bidong. Ngay cả những hòn đảo nhỏ như hòn Khói, hòn Tre, hòn Ngang, hòn Heo, cái thì ở Biển Đông, cái thì ở trong vịnh Rạch Giá, người Việt chúng ta cũng không biết nữa là, nếu không học địa lý hay có dịp đi ngang qua, dừng lại. Huống chi đảo Bidong nầy, hòn đảo nằm tuốt gần cuối vịnh Thái Lan, gần tiểu quốc Terrenganu của Mã Lai, hòn đảo nhỏ xíu, thiếu đất trồng trọt, thiếu nước ngọt, nên cư dân không ở được. Đó chỉ là trạm dừng chân của ngư dân Mã Lai trên đường đi đánh cá ngoài biển xa. Họ dừng lại đó một bữa, vài hôm, chờ qua cơn biển động, chờ lấy thêm tiếp tế, v.v…

            Thế rồi bỗng nhiên nhiều người Việt Nam biết tới Bidong. Bidong là nơi đón thuyền nhân tỵ nạn. Vậy nên tôi cũng tò mò, muốn xem thử Bidong nằm ở đâu trong vịnh Thái Lan. Từng dạy môn lịch sử địa lý, vậy mà tôi cũng chẳng biết gì về Bidong cả.

Tìm được một bản dồ Đông Nam Á, coi thật kỹ, chẳng thấy Bidong đâu. Lại phải tìm một bản đồ Mã Lai, ở nhà ông anh rể tôi, một người từng ôm mộng vượt biển biết bao nhiêu lần nhưng thất bại. Bây giờ thì tôi thấy Bidong rồi.

            Hòn đảo nhỏ xíu, nằm phía dưới đảo Redang lớn gần gấp đôi. Bên cạnh chữ P., viết tắt chữ Poulo, có khi là Palau, có khi là Pulau, là chữ Bidong, viết nguyên chữ. Tôi nói thầm: Đây rồi! Bidong đây rồi.

            Tôi có một cảm xúc kỳ lạ khi tìm ra hòn đảo ấy!

            Có phải nó đóng một vai trò nào trên con đường Nam Tiến của người Việt?

            Theo sử thì: Người Lạc Việt, không muốn bị đồng hóa như 99 Việt khác trong “bách Việt”, theo con chim Lạc, con chim được vẽ hình trên trống đồng Ngọc Lũ, từ Quảng Châu đi dần về phương Nam, định cư ở lưu vực sông Nhị Hà, dài tới quận Cửu Chân tức Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay.

            Và rồi dân tộc nầy không chịu dừng chân ở đó: Phía bắc đèo Ngang.

Họ đi dần về phương Nam, mở mang quận Nhật Nam, lấy đất Chiêm Thành, khai phá vùng Thủy Chân Lạp…

Tới đó là biển, người Việt Nam đã dừng lại chưa? Cuộc di cư nầy cũng giống như cuộc Tây Tiến (Westward) của ngưòi Mỹ.

Tới California, gặp bờ biển Thái Bình Dương cản đường, họ dừng chân lại. Liệu họ có mãi mãi đứng lại nơi nầy, hay họ thực hiện ý đồ xa hơn, biến Thái Bình Dương thành biển nội địa của Mỹ, như viễn tượng của nhóm New Frontier (1) của anh em nhà Kennedy?

            Người Việt Nam cũng không dừng chân ở mũi Cà Mâu, ở bờ biển vịnh Thái Lan. Họ đã đóng tầu đi nữa, tương tự như ý tưởng của thằng bé Jody trong The Red Pony của John Steinbeck, vượt qua cái vịnh mênh mông nầy, tạm dừng chân ở Bidong, trong cuộc viễn hành tìm Tự Do.

            Cuộc Tây Tiến của người Mỹ đầy gian khổ, máu và nước mắt. Vậy thì cuộc Nam Tiến của người Việt có kém gian khổ hay không?

Trong tâm tư của người Việt đi dần về phương Nam, có một nỗi lo sợ lớn lắm, sợ cảnh rừng cao núi thẳm, sợ “Cọp Khánh Hòa, ma Bình thuận”, chính là những “Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi” như trong thơ của Chế Lan Viên. Họ sợ cả dòng nước cạn, núi thẳm, đèo cao, sợ cả tiếng chim hót, tiếng con cá quẫy:

“Tới dây đất nước lạ lùng,

Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.”

            Vậy mà họ không dừng lại ở Rạch Giá, Cà Mâu, họ đi nữa, dù bão tố, dù hải tặc, cả trăm cả ngàn cái chết rất cận kề, trước mắt.

            Sư gian khổ, can đảm đó, và cả sự liều lĩnh đó nói lên sức sống, tinh thần của một dân tộc. Dân tộc đó, không dễ bị khuất phục dưới bạo quyền.

Vì vậy, trong một ý nghĩa nào đó, Bidong là biểu tượng tinh thần Yêu Tự Do, Yêu Công Lý của dân tộc đó vậy!

Nhưng quả thật cuộc Tây Tiến của người Mỹ và cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt Nam, chỉ giống nhau ở những gian nan, nguy hiểm, ở sự chết chóc và khổ đau, đầy máu và nước mắt, nhưng khác nhau ở một điểm khá lạ lùng!

Người Mỹ đi về phía Tây là để mở mang bờ cõi, làm cho đất nước thêm giàu có, thêm thống nhứt, bền vững.

Cuộc Nam Tiến của người Việt có giống như vậy không?

Trước sức mạnh Hán hóa của người Tầu, thực chất cuộc di cư của giống Lạc Việt di cư về phương Nam là một cuộc trốn chạy.

Thêm một biến cố nữa: Khi Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm chống nhau với nhà Mạc, tạo nên cuộc phân ly “Nam – Bắc triều”, thì những người tụ lại ở phương Nam, không phải là vì sợ nhà Mạc “Bắc triều” hay sao? Thế rồi vì cái chết của Nguyễn Uông, nên Nguyễn Hoàng sợ mà xin Trịnh Kiểm về trú ở phương Nam, năm 1558,  tìm một chỗ “Vạn đại dung thân” thì há không phải đó cũng là một cuộc trốn chạy nữa hay sao?

Biến cố lớn của gần một triệu người di cư năm 1954, cũng chỉ là một cuộc trốn chạy chế độ Cộng Sản ở bắc vĩ tuyến 17.

Biến cố 30 tháng Tư-1975, với hơn một trăm ngàn người chạy ra biển Đông, và ngày nay, người Việt lại vượt biển đi về phương Nam, há không phải là một cuộc trốn chạy Cộng Sản một lần thứ nữa?!

Và cũng lắm khi tôi bâng khuâng tự hỏi, trong tương lai, con cháu chúng ta còn chạy trốn ai nữa hay không? Liệu người Tầu chịu ở yên trong cương giới của họ, hay với sự tiếp tay của Cộng Sản Việt Nam, “cỏng rắn cắn gà nhà”, người Tầu sẽ đem hàng triệu dân và quân xâm lăng phía Nam như người họ đã từng làm trong lịch sử, thì chắc chắn tai họa sẽ giáng xuống  đầu người dân Việt.

Như vậy thì đợt ra đi nầy chỉ mới là đợt đầu? Và còn bao nhiêu đợt trốn chạy nữa, nếu như Việt Nam bị Bắc thuộc lần thứ tư, thứ năm.

Đợt đầu đã ra đi. Đi là vì không muốn nhân phẩm bị chà đạp, bị bóc lột, bị tước đoạt tự do… Nhưng đi cũng là chia lìa. Có người ra đi bỏ lại cha mẹ, bỏ lại vợ con, bỏ phố phường, bỏ xóm làng, bỏ giòng sông, bỏ lũy tre, bỏ hàng phượng, bỏ và bỏ…

Đi là bỏ hết. Nhưng cái mà người ta bỏ lại, chính nó lại là hành trang của người ra đi, là hành trang trong tâm tưởng. Người ra đi cố gói ghém những cái bỏ lại mà để sâu trong lòng mình.

Và rồi, đâu có phải là không có gì thay đổi. Hình ảnh của giòng sông ngày ra đi được gói vào trong long. Nó không phải là giòng sông của ngày trở lại. Hàng me của ngày ra đi, nó không phải là hàng me của ngày trở lại…

Mọi vật đều biến thiên, thay đổi. Vì chính lòng người cũng đổi thay kia mà? Ai mà lòng không thay đổi. Từ giờ khắc lúc gặp gỡ ban đầu và giây phút cuối trước giờ ly biệt, lòng người ta không ai thay đổi chăng? Có cái gì cứng như đá, vững như đồng để không đổi thay. “Rêu nhạt” đã đành mà “đá cũng mòn” đấy! “Đá mòn rêu nhạt, nước chảy huê trôi” (2). Đồng cũng cứng đấy, nhưng bây giờ có ai biết “đồng trụ chiết” ở đâu?!

Thi văn ca nhạc, nói tới thủy chung, ca ngợi thủy chung nhưng thường đó chỉ là mộng mị.

Khi người ta kéo nhau đi, nói trước rằng sẽ đi, hay lặng lẽ ra đi, và không hẹn mà gặp nhau ở … Bidong. Tại sao là Bidong mà không phải nơi nào khác.

Có gì đâu, Bidong là cửa ngõ: “Ngưỡng cửa tự do”, “Cánh cổng của Thiên đường”. Muốn vào Thiên đường, muốn đến vùng đất tự do, trước tiên người ta phải gặp nhau ở đấy. Đó là những cuộc gặp gỡ có hẹn trước, hoặc không hẹn mà gặp. Mỗi người cũng nhìn mỗi cách khác:

Đó là ân sủng của thượng đế, của Chúa, của Phật, của cả thánh Ala hay nói cho cùng, như tôi nghĩ cũng chỉ là những ngẫu nhiên (hazards) trong cuộc sống. Vâng, chính là ngẫu nhiên. Đời người, khởi thủy từ tiếng khóc khi rời bụng mẹ, cho tới khi đã nằm yên trong ván quan tài, chỉ là những ngẫu nhiên tiếp nối. Tạo hóa sinh ra con người, và rồi để tự mặc cho con người tự nó vùng vẫy trong cuộc sống, “khôn sống, bống chết”, như tục ngữ, hay “Khôn chết, dại chết, biết sống” như lời ông Khổng Tử.

Bidong là một xã hội thu hẹp. Ở đó người ta thấy nhiều mặt của cuộc sống khôn dại, biết hay không biết gì, có tình hay vô tình, có thương yêu giúp đỡ và cũng có ghét bỏ, tị hiềm, và có cả những người làm quan cũng như có cả những cô làm đĩ.

Có tới Bidong, người ta sẽ thấy sức chịu đựng dẻo dai và sức sống mãnh liệt của người Việt Nam. Ở đây, ăn thì không đói, có nghĩa rằng gạo không thiếu. Người ta còn dư gạo để nấu rượu lậu nữa là. Nhưng thức ăn thì thiếu. Mỗi tuần ba lần phát thức ăn: Thứ hai phát cá, thứ tư phát gà, thứ sáu phát cá hay gà. Cá thì thường là các nục, một món khoái khẩu của người Việt, nhưng gà thì thuộc loại gà công nghiệp, thịt đã không ngon, nhảo nhẹt, nhưng hình như đó là loại thịt của những con gà mái không còn sức để đẻ trứng được nữa. Nói theo kiểu hài của Phi Thoàn thì đó là thịt của những con gà đã có cháu ngoại, có khi là chắt, chiu chít…

Vậy thì người ta thiếu rau. Các gian hàng Mã, gian hàng Tầu trên đảo không thể cung cấp đủ. Và thế là thuyền nhân tự trồng lấy.

Không thể trồng rau trên bờ biển cát.

Bidong có một ngọn núi, và từ trên đỉnh của nó, có một con suối cạn, chảy xuống biển. Con suối ấy chảy qua khoảng giữa hai triền núi mà cuối triền là khu B và khu D. Vì vậy, con đường nối liền hai khu có một cây cầu gỗ, khá chắc, xe chở rác chạy qua được.

Vậy là hai bên bờ suối, từ khu B trở ngược lên đầu ngọn suối, thuyền nhân cuốc, san những mảnh vườn nhỏ, trồng rau muống, đậu bắp, cà… Có không biết bao nhiêu mảnh vườn hai bên bờ suối ấy.

Nó có từ hồi nào, không ai biết, bởi vì những vị “khai canh” những mảnh vườn nầy đã đi định cư từ hồi nảo, hồi nào. Cả đám “hậu duệ” hưởng cái của “hương hỏa” ấy, cũng không biết vị “khai canh” là ai. Rồi sau ngày “đóng cửa đảo”, người tỵ nạn đến càng đông, thời gian ở lại càng lâu, nên “khu nông nghiệp” hai bên bờ suối càng phát triển, càng đi dần ngược lên “Đỉnh gió”. Đất ở đấy, suối ở đấy, người ta cứ xuống suối xách nước tưới cho rau trái mau xanh, để dùng hay đem bán.

Tới mùa nắng, suối đã cạn, không còn nước để tưới.

Phải phục cái trí thông minh của người Việt. Suối chỉ cạn trên mặt, nhưng dưới đáy suối còn những mạch nước ngầm. Thế là người ta đào giếng lấy nước. Mỗi cái giếng thành một trung tâm: Nơi để lấy nước tưới rau, nơi để tắm giặt và cũng là nơi người ta dựng một mái lá, giăng võng và đánh một giấc ngủ để… quên đời.

Tôi cũng đã đến một vài “trung tâm” như thế, không phải để đào giếng, mà để tắm giặt, đưa võng, nhìn một khoảng trời mênh mông có vài làn mây trắng.

Trời ở đâu cũng giống nhau nên dễ làm cho người ta nhớ tới bầu trời ở quê hương, bầu trời trên một giòng sông, trên một ngọn đồi, trên đỉnh Trường Sơn hay trên một cánh “đồng chó ngáp” (3) của vùng đất Nam bộ.

Thuyền nhân ra đi từ quê nhà, không ít là những ngư dân. Họ ở gần biển, ở các hòn cù lao trong vịnh Rạch Giá nên dễ vượt biên.

Rồi khi đến Bidong, vì nhu cầu cuộc sống, các ngư dân lại hành nghề “lậu”. “Lậu” là vì chính quyền Mã Lai không cho người tỵ nạn xuống biển, không hẳn là vì họ sợ mất ít, mất một chút xíu tài nguyên. Nhưng nếu như có một người chết, dù bất cứ lý do gì, cũng là điều chính quyền Mã Lai bị Cao Ủy Liên Hợp Quốc trách cứ vì nhiệm vụ họ là giữ và bảo vệ người tỵ nạn.

Trong cái “khó khăn” của việc đánh cá, người Việt lại bày tỏ cái “khôn khéo” của mình, cái khôn khéo có tính truyền thống, làm vui lòng các quan thời xưa, các ông xã, ông quận của thời Cộng Hòa, và cả những “ông cán bộ” của đời cách mạng. Người lính cảnh sát Mã Lai lại được ngư dân chúng ta “xỏ mũi dắt đi”. Ấy là nói theo cách thông tục ở xứ sở chúng ta vậy.

Rõ ràng người tỵ nạn có cá, có thịt gà. Người ta còn ăn thứ thịt gì nữa chăng?

Cái dạ dày của người Việt trong cuộc Nam Tiến có một sức mạnh khủng khiếp. Không có cái gì mà nó không tiêu hóa được. Bảo là sợ “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”, dĩ nhiên, nói theo nghĩa đen, người ta không ăn ma được, nhưng cọp có sống được với người? Da cọp thì thuộc, treo lên vách làm kỹ niệm, không ai vứt bỏ thịt cọp, nanh cọp được gắn vào dây chuyền cho trẻ nhỏ làm bùa trừ ma, thậm chí xương cọp cũng đem nấu “cao hổ cốt”.

Cả một số đông sinh vật ở vùng đồng nước Nam bộ, không nói chi đến cá mú mà đến như cá sấu, trăn, cần đước, ba ba, rùa, rắn, cào cào, châu chấu… có thứ nào không “bắt mồi” cho dân nhậu, có thứ nào mà bộ tiêu hóa của người Việt không nghiền chúng nó thành phân người?

Vốn tôi là người tò mò. Một hôm, tôi hỏi một người Mã Lai làm việc ở Hội Hồng Nguyệt rằng, trong tiếng Mã, Bidong có nghĩa là gì? Ông ta trả lời: “Rắn.”

Rắn? nhưng nó là snake hay python? Ông ta cười: “Gì cũng được, vì thời xa xưa, nơi nầy có nhiều loài rắn ở.”

Tôi nghĩ tới những con rắn biển trên đường vượt biển. Khi qua gần hết vịnh Thái Lan, sắp tới đất Mã Lai, – anh tài công cho biết vậy -, chúng tôi đã gặp những chú rắn biển. Con rắn vàng, ngóc cao đầu, lội trong nước. Người đi chung ghe bảo đó là những vị sư đón người tỵ nạn. Tôi không khỏi thấy buồn cười về cái tính dị đoan của người bình dân Việt Nam chúng ta. Hôm qua, mấy con cá heo lội theo ghe, hai bên hông, trước mũi…. có khi chúng phóng mình lên khỏi nước, để vui chơi hay để làm gì, tôi không biết. Người trên ghe gọi một cách kính cẩn là “Ông đưa”. Nó có nghĩa rằng có ông đưa thì chuyên hải hành sẽ được tốt đẹp, thuận buồm xuôi gió. Nay thì thầy chùa đón, hy vọng đến đảo bình yên.

Chuyến đi của tôi bình yên thật, nhưng tin vào “Ông đưa” và “Thầy đón” hay không thì tôi là người không thể nào tin được.

Cũng rất nhiều thuyền nhân trên đảo Bidong không tin như tôi. Bởi vì sao? Bởi vì tên là đảo rắn mà suốt gần hai năm sống trên đảo, tôi không thấy một chú rắn nào cả. Tôi đã từng đi ngược theo con suối Bidong, lên tới “Đỉnh gió” và đi xuống phía sau núi, chỗ rừng hoang, nhưng có thấy chú mảng xà, thanh xà nào đâu? Hỏi ra thì có người cười bảo: “Nhậu hết rồi. Nhậu hết, rắn nào mà còn.”

Hơn hai trăm năm mươi ngàn người lần lượt đã đến và sống trên hòn đảo nhỏ nầy.

Thời gian tôi ở, dân số trên đảo là 14 ngàn người. Cao nhứt, sau vụ gọi là “nạn kiều”, đi “bán chính thức” là hơn 40 ngàn người. Phần đông là dân Nam bộ, không ít là dân nhậu. Vậy thì chắc là rắn trên đảo đã được “chung vui” với rượu mà “đi vào lòng người”, nói theo nghĩa đen.

Mồi (rượu) thì dùng nhiều thứ: cá, thịt. Cao ủy phát không đủ ăn thì mua của mấy anh chàng đánh cá lậu, hay mua ở “gian hàng Tầu”, “gian hàng Mã” là hai tiệm chạp phô trên đảo. Ruợu thì người ta tự nấu lấy. Đó là mối lợi lớn.

Ở đảo, chính quyền cấm không cho dân tỵ nạn được nuôi một thứ gì, dù những thứ gia cầm như chó mèo gà vịt, v.v…

Thức ăn ăn không hết không chịu bỏ vào thùng rác cho khối Vệ Sinh thu gom đem đốt mà vất bừa bãi, là tạo ra môi trường tốt cho chuột sinh sôi nảy nở một cách kinh khiếp: Đâu cũng có chuột, trong nhà, trên nóc, dưới gầm, ngoài sân, ngoài bãi hoang.

Ăn no, đêm đêm chúng kéo nhau ra sân nô dởn, đú đởn, thật đáng ghét. Khu đồng bào tỵ nạn nhiều chuột đã đành, khu Cao ủy cũng bị chuột xâm lăng, cậy quyền, cậy thế, bệnh công thần, tâm lý kẻ viễn chinh chiến thắng, không thua kém.

Để diệt chuột, ông bà Cao ủy nào đó, đem từ trong đất liền ra một chú trăn. Khu Cao ủy có hàng rào B-40, ngặt nỗi chú trăn không đủ thông minh để hiểu là chỉ nên quanh quẩn trong khu Cao ủy thì nó vượt ra khỏi hàng rào, thực hiện câu nói của “anh già Rô”: “Không có gí quí hơn độc lập tự do.”

Dân nhậu thì không thể chấp nhận có thứ tự do cho loài vật. Nên khi chú trăn bò ra tới nơi thì dân nhậu thực hiện ngay những câu châm ngôn nghe ra rả từ khi Cộng Sản Bắc Việt vô tới miền Nam: “Nhiệt liệt hoan hô” chú trăn ngu đần.

Thế là hôm ấy dân nhậu có thêm mấy thứ rất bắt mồi: Nướng, xào và một nồi “cà-ri trăn” vàng rượm.

Lại phải nói tới rượu!

Dân Nam Bộ không ít là dân nhậu, đệ tử, mà “đệ tử ruột” của Lưu Linh, nên hay nhậu. Nhậu mà không rượu thì nhậu thế nào được. Cờ mà không gió là cờ rủ, cờ ma, cờ tang chế. “Nam vô tửu như kỳ vô phong”. Rượu là chính. Đồ nhắm chỉ là để dùng bắt mồi.

Khổ một nỗi, người tỵ nạn Bidong không ít là dân Nam Bộ. Vì vị trí địa lý, người miền Trung và miền Bắc, vượt biên thường lên hướng bắc, lên Hongkong, Nhựt Bổn. Miền Nam thì hướng về phía nam, Bidong hay Galang.

            Việc nấu rượu chỉ cần bốn vật liệu chính: Gạo, nước, củi và men. Gạo thì do Cao ủy phát, có dư mà không thiếu bao giờ. Nước thì lấy từ khe suối ra, củi thì củi rừng, còn men thì mua ở đất liền, qua gian hàng Mã, hàng Tầu, hay khi đồng bào tỵ nạn phải qua đất liền vì công việc gì đó: khám bệnh, ra tòa, theo cao ủy Daeng đi Thái Lan nhìn mặt hải tặc, v.v…

            Dĩ nhiên, Cao ủy và chính quyền Mã Lai có lệnh cấm uống rượu, cấm nấu rượu. Không mấy ai bị bắt vì tội uống rượu, mặc dù người Mã Lai theo đạo Hồi, cấm rượu rất ngặt! Cũng không ai dám nấu rượu trong các longhouse. Người ta nấu rượu trên núi, Mùi rượu có tỏa ra, tan loảng vào không khí, cũng khó phát hiện.

            Khi ông cựu trung tá Bùi Văn Xuân làm trưởng khối An Ninh của trại, cũng là dân nhậu, và cũng vì lý do gì nữa, ai mà biết, nên nhân viên khối An Ninh không mấy khi lên núi lùng sục phá hủy các lò nấu rượu, bắt người nấu rượu lậu đem nhốt vào Monkeyhouse. Nhân viên Mã Lai thì sợ, không dám lên núi bao giờ. Họ không có đông người để đi tuần tra.

            Khi ông cựu thiếu tá Cao Dai làm trưởng khối An Ninh, vì ông không phải là dân nhậu, vì ông cũng muốn làm được việc để được tiếng khen của đồng bào, cũng vì động lực từ cố vấn Trương Mạnh Hùng và phòng Phát triển Cộng đồng, nơi ông Cao Dai có nhiều người quen thân nên ông cấm nấu rượu gắt hơn ông Bùi Văn Xuân. Dân nấu rượu phải “di tản” lò rượu, qua bên kia sườn núi, phía sau “Đỉnh gió”. Trước tình hình khó khăn như thế mà chỉ có một điều xảy ra: Giá rượu cao hơn. Việc nấu rượu và uống rượu chẳng chấm dứt bao giờ!!!

            Khi tôi mới tới đảo, vài vụ án mạng xảy ra vì tranh nhau “bảo vệ” các lò nấu rượu. Hai ba “băng” Bồ Tạt (tức là du đảng, tiếng Mã Lai), rèn dao, mài gươm, không phải vì “Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma” mà để đâm chém lẫn nhau. Băng Bồ Tạt chợ Cầu Muối, chỉ chịu thua băng Bồ Tạt Cần Thơ sau khi băng Cầu Muối có người bị phe kia đâm chết.

            Ở Bidong cũng có những đêm trời lạnh, chỉ đủ lạnh một chút và cũng dễ chịu vì đó là cái lạnh biển. Có đêm tôi lên phòng Phát Triển Cộng Đồng về khuya, đi ngang lò mì ở khu B, ngửi thấy hơi bánh mì nóng từ trong lò mới lấy ra, bỗng thấy nhớ quê, nhớ Saigon, nhớ Huế “chết đi được!” Những đêm Huế lạnh và buồn, học bài thi vào khi trời đã khuya, bụng đói, nghe tiếng thằng bé rao bán bánh mì, kêu lại mua một ổ.

Ổ bánh bì lấy từ trong cái bao mì dày những hai ba lớp bao bố tời, còn nóng, còn thơm. Ăn bánh mì không sữa, không đường, không xá xíu, không “con lạp xường”, sao mà ngon đến thế!

            Bốn, năm mươi năm sau, lưu lạc nơi xứ người, cũng cái mùi thơm ấy, cũng cái hơi nóng ấy, kỹ niệm thời niên thiếu xa xưa từ trong ký ức sâu thẳm về một chốn quê nhà xa vời vợi bỗng thức tỉnh, vùng dậy, choáng ngập cả tâm hồn bé nhỏ của tôi. Sao mà nó làm tôi nhớ quê hương da diết đến làm vậy!!!

            Sau hơn nửa năm thanh lọc, vì phong trào đấu tranh, sau khi phỏng vấn xong, đồng bào được đưa thẳng qua trại tỵ nạn Sungei Beshi, gần thủ đô Kuala Lumpur mà không đưa ngược trở lại Bidong như trước kia nữa.

            Như thế thì “nhân số” Bidong càng ngày càng ít đi. Thuyền tỵ nạn không còn tới đảo nữa, người thanh lọc thì cứ ra đi dần dần. Vậy thì mai đây, không còn bao xa nữa đâu, Bidong không còn người tỵ nạn. Đảo nầy sẽ trở lại thành một đảo hoang như ngày trước, trả lại cho ngư dân Mã Lai.

            Lại trở thành đảo hoang, đảo bị hoang hóa?

Lòng tôi bỗng chùng lại khi nghĩ tới tình cảnh ấy.

Các longhouse sẽ không còn người ở. Điều đó không quan trọng. Nhưng chùa, nhà thờ trên “Đồi tôn giáo” thì sao? Các thầy, các cha sẽ đi hết. Chắc chắn không ai xin định cư ở Bidong, trên “Đồi tôn giáo” để tiếp tục sớm khuya nhang khói, kinh kệ, cầu nguyện Chúa Phật cho “thân tâm an lạc”, cho “thế giới hòa bình” cho “nhân loại thương yêu đùm bọc nhau”. Nếu vậy, Phật sẽ ngồi trơ trọi trên tòa sen, Chúa vẫn còn bị đóng đinh một mình trên chữ thập giá mà không còn tín đồ đến bái lạy cầu xin…

Tiếng chuông nhà thờ không còn rộn ràng mỗi chiều hôm, sớm mai. Tiếng chuông chùa sẽ không còn chậm rải, âm vang từ longhouse nầy qua longhouse nọ, trải dài trên sóng biển Bidong. Thay vào tiếng chuông, tiếng người cầu kinh sẽ là tiếng côn trùng tỉ tê đâu đó, trong hốc đá, dưới sàn nhà cũ… Tiếng côn trùng không bao giờ là tiếng vui, nhất là tiếng côn trùng trong cảnh thanh vắng, trong đêm khuya. Đó là tiếng “dế khóc canh dài” như trong “Cung Oán Ngâm Khúc” vậy.

Đồi tôn giáo sẽ vắng vẻ, hoàn toàn vắng vẻ, không còn một bóng người. Rồi chùa, nhà thờ sẽ “nhện giăng cửa mốc, như nền Vũ Tạ!” sẽ lạnh lẽo như “Gác Thừa Lương” trong Cung Oán Ngâm Khúc. Nhưng nền Vũ Tạ hay Gác Thừa Lương là nơi vui chơi của vua và cung nữ, còn đây là nơi thờ phượng! Ví von sao được!

Nhưng dù giống hay khác, mạng nhện nằm ngang nằm dọc trên điện thờ, nơi trai phòng, trong cửa, ngoài cửa.

“Hương tàn bàn lạnh”. Hương đã tàn mà không ai thắp tiếp, đèn đã hết mà không ai nối tiếp. Lau sậy sẽ um tùm, lất át vào vách, vào nền, vào bàn thờ, sẽ leo lên mái, sẽ làm mục nát mái chùa, nóc nhà thờ.

Cảnh ấy có nghĩa là một hay nhiều thế hệ đến đây đã dứt, và không còn thế hệ tiếp nối.

Trong truyền thống người Việt, cảnh hoang tàn nơi thờ phượng là một cảnh đáng lo, đáng sợ, là tội lỗi với “đấng bề trên”.

Bàn thờ hoang lạnh là cảnh đáng sợ, cảnh chùa, nhà thờ trở thành “nhà dột, cột xiêu” lại càng đáng sợ hơn nữa. Điều đó chứng tỏ một sự chấm dứt mà không còn ai tiếp nối.

Ở quê nhà, từ khi có giặc Pháp xâm lăng, rồi chiến tranh kéo dài qua bao thế hệ, hàng trăm năm, hàng chục năm, cùng với chính sách bài trừ tôn giáo của bọn xâm lược, của bọn vô thần, biết bao nhiêu cảnh chùa, cảnh nhà thờ hoang vắng đã từng xảy ra. Những tưởng việc ấy chỉ xảy ra ở quê nhà, dưới hàng trăm năm dân tộc mất quyền tự chủ, nào ngờ việc ấy lại xảy ra ở đây, nơi được gọi là ngưỡng cửa của tự do, nhân phẩm.

Thời đại ngày nay không còn những vị chân tu, tìm một nơi hoang vắng để tu hành nữa chăng?! Người tu hành phải “nhập thế”, muốn tu hành nơi đông đúc để có nhiều tín đồ lui tới cúng dường chăng?

Biết đâu, cũng có vị chân tu nào đấy, xin ở lại trên “Đồi tôn giáo” mà chính quyền Mã Lai không chấp thuận chăng? Biết đâu đấy, tinh thần tu tập người Việt Nam vẫn còn, dù leo lét như ngọn đèn dầu sắp cạn!

Cũng không nên quên “Ông già Bidong”!

Từ ngày có thanh lọc, người tỵ nạn bỗng đâm ra sợ hãi cho tương lai mình nhiều hơn. Câu thơ của Trần Dần “Người vẫn kinh hoàng trước tương lai” tưởng chỉ là câu thơ nhắm vào Hồ Chí Minh, ai ngờ nay cũng là tình cảnh của người tỵ nạn. Nghĩ mà đau lòng, không lý một người kinh hoàng cho tương lai của mình mà lại nỡ lòng đẩy hàng triệu người dân của mình lâm vào tương lai đáng sợ như chính mình đã sợ.

Cái lo cho tương lai khiến người ta đâm hoảng mà cầu lạy nhiều nơi. Từ cái tâm lý đó mà tượng “Ông già Bidong” ngày nay nhang khói ngày đêm nghi ngút hơn trước. Người ta cầu Chúa, cầu Phật chưa đủ sao? Nếu mà đủ thì tượng Ông Già Bidong không nhiều nhang khói như vậy.

Trước những kinh hoàng về tương lai của đồng bào tỵ nạn, Phật vẫn trầm ngâm trên tòa sen, Chúa vẫn im lìm trên thập giá, và “Ông già Bidong” vẫn trơ như ximăng. Tay ông vẫn ôm lấy đứa cháu gái cùng chung số phận như ông, mắt ông vẫn đăm đăm nhìn ra biển khơi. Ông tìm gì ngoài xa kia?  Có con đường giải phóng nào cho những người tỵ nạn đang bị đe dọa trên đảo, hỡi Ông Già Bidong yêu quí?

Và người tỵ nạn vẫn vô phương, vẫn tuyệt vọng, vẫn tự mình thương xót cho số phận mình, số phận lưu lạc nơi xứ người.

Trong từng longhouse một, trong canh vắng đêm dài, có ai đó, một cô gái đơn độc lìa xa gia đình, một thanh niên lẻ loi đi tìm nguồn sống, sẽ cất lên những tiếng than dài, không rõ rồi mai đây, tương lai sẽ đi đâu, về đâu. Có ai nhớ cha, nhớ mẹ mà khóc thầm, cám cảnh cho phận mình xa cha xa mẹ mà cất tiếng than của nàng Kiều vào một thuở xa xưa:

                        Dặm nghìn nước thẳm non xa,

                 Biết đâu thân phận con ra thế nầy!

Ngày xưa phận người đã vậy. Ngày nay nhân loại có tiến bộ hơn nhưng phận người đâu có khác chi. Bên cạnh tiếng thở dài là tiếng gọi:

“Mẹ ơi!!!!!….”

hoànglonghải

(1)-“Tân Biên Cương” là một danh từ được Kennedy trình bày trong diễn văn của ông khi ông được đảng Dân Chủ đề cử ứng cử chức vụ tổng thống Mỹ năm 1960. Theo ông Robert D. Marcus thì “Kennedy đã đảm nhiện chức vụ tổng thống với tham vọng nhằm xóa bỏ sự nghèo đói và nâng cao tầm nhìn của người Mỹ tới các vì sao xuyên qua chương trình không gian”

            Nói rõ hơn, theo một số sách báo ghi nhận, “Tân biên Cương” là một chương trình tiến bộ nhằm cách tân và phát triển kinh tế, lao động, giáo dục, văn hóa, xã hội, quốc phòng… Các chương trình nầy, không chỉ nhắm mục tiêu ở trong nước Mỹ mà còn phát triển trong mối quan hệ với châu Âu và toàn thế giới.

            Vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng cái tham vọng của “Tân Biên Cương” là nhằm vượt ra ngoài “biên cương” nước Mỹ, vói tay tới châu Á và biến Thái Bình Dương thành “biển nội địa” của nước Mỹ.

            Có thể như thế. Trong cách xử dụng danh từ, người Mỹ thường gọi biên giới giữa Mỹ và Canada hay Mêxicô là boundery. Biên cương vùng Viễn Tây Hoa Kỳ là Frontier. Frontier, trong ý nghĩa của người Mỹ, nó không cố định ở một miền nào, Trung Tây, hay Viễn Tây. Nó (frontier) càng đi xa về phía Tây, thì nước Mỹ càng bành trướng, càng tốt đẹp hơn cho Hoa Kỳ.

            Có thể không phải ngẫu nhiên mà John Steibeck được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1962 (ông sinh năm 1902). Ông là hậu duệ một giòng máu pha trộn giữa Đức và Ái Nhĩ Lan, gặp nhiều khó khăn trong quãng đời trẻ trung vì tình hình đại suy thoái kinh tế hồi thập niên 1930, trở thành một nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm như “Of Mice and Men”, “The Grapes of Wrath”, “Tortilla Flat”, “In Dubious Battle”…  và một cuốn sách mỏng, chỉ hơn một trăm trang tên là “The Red Pony”. Cuốn sách nầy tưởng như là khơi dậy quan điểm mới mẻ của nhóm “Tân Biên Cương”.

            Vì sự suy thoái kinh tế, có phải vì người Mỹ muốn phục hưng kinh tế nên họ có ý muốn mở rộng hơn nữa biên cương (frontier) của họ về phía tây. Nó không phải là ý tưởng ngông cuồng của cậu bé Jody khi nó nằm ở sân cỏ sau nhà, nhìn lên rặng Rocky Moutain phía Tây mà thắc mắc trên núi đó có gì. Và nếu đúng như người lớn đã giải thích với nó rằng sau núi đó là biển, người Mỹ không thể đi xa hơn được nữa, thì cậu bé Jody không chịu dừng chân ở bờ biển đó. Nó sẽ đóng tầu đi nữa, đi xa hơn về phía Tây.

            Điều nầy có thể làm cho chúng ta nghĩ tới những gì xảy ra trong hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945. Cuộc họp đó gồm thủ lãnh 3 cường quốc. Sir Wilson của Anh, Staline của Liên Xô và Roosevelt của Mỹ. Kết quả hội nghị là câu thề của Sir Wilson, thề không bao giờ nhìn vào tượng Thần Tự Do đứng ở phía ngoài cảng Nữu Ước, nếu Sir Wilson đến Mỹ.

            Tại sao thế?

            Tại vì Roosevelt và Staline bí mật đi đêm với nhau, chia lại thế giới mà gạt nước Anh ra ngoại sự chia chác đó. Điểm căn bản mà thủ tướng Anh chống lại là, Roosevelt chia Đông Âu (Ba lan, Hungary, Bulgary, Tiệp khắc) cho Nga. Ngược lại Mỹ mở rộng ảnh hưởng đến châu Á, coi như Tầu thuộc về Mỹ. Lẽ dĩ nhiên, người Cộng Sản bao giờ cũng chỉ hứa cuội.

            Tuy nhiên, nếu tầm ảnh hưởng của Mỹ vươn tới châu Á thì đó không phải là thực hiện ý tưởng “đóng tầu đi nữa” của cậu bé Jody, là “biến Thái Bình Dương thành biển nội địa của Mỹ” như mong muốn của anh em nhà Kennedy?

            (2) “Đá mòn rêu nhạt…”

            (3) Đồng chó ngáp

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: