Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (22) – Con thú hoang

1Tặng Dương Hùng và Phạm Thị Minh Ngọc, Denver

tác giả

            Hồi tháng 7 năm 1991, sau khi thanh lọc xong, đang ở trại Marang trên bán đảo Mã Lai, chờ chuyển sang trại Sungei Beshi, tôi buồn lắm. Trại thì nhỏ, công việc không có gì làm, suốt ngày lo ăn ngủ và đi lòng vòng quanh hàng rào, hết nhìn ra xa lộ coi xe chạy qua chạy lại cho đỡ buồn, tôi lại ra mặt sau trại, ngồi trên bậc cấp phía sau phòng thanh lọc, kế gốc dừa, nhìn ra biển cho đỡ nhớ nhà. Mùa này biển động, nhất là sau trưa, gió lộng lắm.

Ngoài kia là biển cả mênh mông, sóng bạc đầu hàng hàng lớp lớp, như điên cuồng giận dữ xô đẩy nhau chạy vào bờ. – Cuối chân trời, trời và nước gặp nhau, liền một màu xanh thẳm. Đôi khi tôi chợt nghĩ tới những chiếc ghe vượt biên, bé tí teo, lênh đênh trên biển cả, giật giờ như chiếc lá. Có những chiếc bị hải tặc tấn công, bị bão tố đánh chìm, bao xác người trôi trên biển. Bây giờ thân xác họ về đâu? Linh hồn họ nơi nào?

Thỉnh thoảng có những chiếc ghe đánh cá nhỏ của người Mã Lai chạy qua, cỡi những con sóng bạc đầu ấy mà đi. Có khi chiếc thuyền bị đưa lên cao, chênh vênh trên đầu ngọn sóng, có khi chìm khuất sau ngọn sóng lớn, tưởng như ghe bị chìm mất rồi, nhưng nó lại hiện ra. Cuộc đời của người tỵ nạn còn thua chiếc ghe đó nữa. Bao nhiêu sóng gió, ghe cũng có bến bờ mà đến, người trên ghe trở về với gia đình, vợ chồng cha mẹ anh em sum họp một nhà. Còn thân phận người tỵ nạn rồi sẽ ra sao, sẽ về đâu, bến bờ nào đón đợi, bao giờ gia đình mới hết lìa tan, cha mẹ anh chị em sum họp một nhà, kể cho nhau nghe những nỗi vui buồn, một đời lang bạt, nổi trôi?…

            Tôi chờ hơn nửa tháng thì có tàu từ đảo Bidong chở thêm người qua để được thanh lọc. Một buổi trưa, tôi ra chỗ thường ngồi thì thấy chỗ ấy đã có một ông già của tàu mới đến, ngồi rồi. Ông ta đăm đăm nhìn ra biển, trên mặt ông không biểu lộ một nét vui, nỗi buồn nào nhưng tôi nghĩ là trong lòng ông cũng đầy những xúc cảm nhớ thương nào đó như bao người tỵ nạn đang phiêu bạt nơi xứ người.

Tôi lặng lẽ ra ngồi bên gốc dừa, không muốn quấy rầy sự yên lặng ông ta cần có. Tôi cũng phải kính trọng nỗi đau khổ của người khác cũng như người khác phải tôn trọng những khổ đau đang giày vò tâm hồn tôi.

            Ngồi đến chiều, tôi thấy mỏi nên đứng dậy đi lang thang quanh hàng rào.

Ông ta vẫn ngồi trầm ngâm ở đó, mắt ngó mông ra ngoài biển xa, chẳng động đậy, không hút thuốc, không nói một lời.

            Trưa hôm sau, và những trưa hôm sau nữa, khi tôi ra tới chỗ cũ thì đã thấy ông ta ngồi ở đó rồi. Mất chỗ ngồi thoải mái, tôi đâm bực mình. Vì vậy, một hôm, tôi cố giành lại chỗ cũ. Trưa hôm đó, ăn xong, bỏ giấc ngủ trưa, tôi ra sớm. Tới nơi, lại thấy ông ta đã ngồi ở đó. Ồ! Ông ta không ngủ trưa sao?!

Người già thường ngủ trưa, tại sao ông ta lại không?!

Ông ta ngồi ở đây cho tới chiều tối mới vào nhà, chiều nào cùng như chiều nào vậy, không mỏi mệt, không chán nản, mắt cứ đăm đăm nhìn ra khoảng trời biển ngoài xa. Nỗi buồn nào, nỗi nhớ nhung nào đã làm cho ông ta kiên trì ngồi đây suốt cả những buổi chiều dài buồn lê thê như thế?!

            Một hôm, khi tôi ra tới nơi thì chỗ gốc dừa tôi thường ngồi, bóng dâm chưa đổ tới. Thấy tôi loay hoay tìm chỗ ngồi, ông ta nói: “Anh vào đây ngồi với tôi, chỗ còn rộng.” Tôi cúi đầu chào ông, bước tới.

Gió biển thổi lộng từ trưa cho đến tối mới ngưng nên mặt ximăng bậc cấp sạch bong, không một cọng rác. Tôi không cần phủi bụi, ngồi ngay xuống đó, thấp hơn ông ta một bậc. Ngồi ngang với người lớn tuổi tôi sợ bị cho là “hỗn”.

            Tôi nhìn lui, ông ta đang nhìn đăm đăm ra biển, không nói gì. Tôi ngồi im. Khoảng mười phút sau, tôi quay đầu lui. Ông ta đang nhìn ra biển khơi, im lặng! Mười phút sau nữa, tò mò, tôi nhìn lui. Ông ta ngồi im như bức tượng đồng, nhìn đăm đăm ra biển xa! Một lúc nữa, lại tò mò, tôi nhìn lui. Vẫn vậy! Thái độ ông ta làm cho tôi thắc mắc nhiều hơn. Ông ta nhìn gì ngoài biển mà nhìn mãi hoài vậy? Ngoài xa đó, cũng chỉ những lớp sóng bạc đầu, đuổi bắt, đơn điệu đến buồn chán. Hay ông ta thấy có cái gì khác hơn? Tôi vươn mình lên hơi cao một chút, nhìn kỹ qua ô vuông của lớp hàng rào kẽm. Cùng vậy thôi, có gì đâu mà ông ta nhìn hàng giờ. Sau này tôi mới nghe người ta nói ông có một người thân còn nhỏ tuổi chết chìm ngoài biển khi vượt biên. Có phải ông ta tìm kiếm hình ảnh thân yêu của ai đó chăng?!!!

            Qua mấy chiều như thế, một hôm, ông ta nhìn tôi, nét mặt hơi vui, như để xã giao, hỏi:

            – “Anh thanh lọc chưa?”

            – “Dạ rồi”. – Tôi đáp.

            – “Bao lâu?” – Ông ta hỏi.

            – “Dạ, gần bốn tiếng đồng hồ, hết Mã Lai, tới luật sư Cao Ủy hỏi.” Tôi trả lời.

            Ông ta hỏi liền, như có vẻ nóng vội:

            – “Lâu vậy, họ có “quây” anh không?”

            Tôi cười, giải thích:

            – “Không, nhưng thời gian cháu trốn công an lâu quá, tới 9 năm nên họ hỏi kỹ phần này.”

            – “Tới 9 năm? Dài thật! Trốn ở đâu mà không bị bắt, hay vậy?” – Ông ta lại hỏi, vẻ thắc mắc.

            – “Cháu trốn ngoài cồn Bà, giữa sông Hậu. Chỗ đó hầu hết là rừng hoang.” Tôi nói.

            Một chốc, tôi nói tiếp:

– “Trong 9 năm trời đó, cuộc đời cháu như con thú hoang, để cháu kể cho bác nghe.”

&

Ba tôi có đi lính chế độ cũ đâu hồi tôi chưa sinh, tôi không rõ lắm, nhưng khi tôi còn nhỏ, ba tôi thường nhắc chuyện cũ – chuyện Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 – Trong khi ba tôi theo “Nam bộ kháng chiến” thì Việt Minh cướp đất của ông nội tôi, là chủ điền, rồi giết ổng. Ba tôi bỏ

kháng chiến mà về, thường nói: “Tao theo kháng chiến là để đánh Tây, giành độc lập, bảo vệ tài sản đất đai của mình chớ đâu có phải để Cộng Sản cướp ruộng của ông nội mày.” – Bỏ Việt Minh, cha tôi đi lính Quốc Gia để trả thù nhà, nợ nước.

Những năm sau này, khi trốn nghĩa vụ quân sự, nhiều đêm nằm trong chòi hoang giữa cồn Bà, không ngủ được, tôi vẫn thường suy nghĩ những điều ba tôi nói hồi xưa. “Ruộng của ông nội mày là do công lao khổ cực mà có, đâu có phải cướp giựt trên tay ai. Cọng Sản muốn cải cách ruộng đất thì phải có chính sách cho hợp lý, phải nghĩ tới công lao những người đã khai phá đất hoang thành ruộng đồng. Không những chúng nó cướp ngang ruộng của ông nội mày còn đổ tội cho ông là bóc lột nông dân. Vậy rồi chúng giết ông nội mày để giựt ruộng người ta. Chúng nó gây nợ máu, gây hận thù nên tao mới đi lính Quốc Gia.”

            Lời ba tôi nói, đâu có sai. Lỗi tại ai? Ai chia đất nước này ra làm hai, ai chia dân tộc này ra làm hai; gây thù oán, giết chóc lẫn nhau là do ở ai? Khi tôi lớn lên, Cộng Sản đã “giải phóng” miền Nam nhưng mà để làm gì, để đày đọa và bóc lột người Miền Nam như người dân ngoài Bắc hồi đó chăng? Lớn lên, tôi thấy một bên là những người Cọng Sản, những người cầm quyền, đọa đày bóc lột những người bị cai trị. Vậy thôi. Những người như ba tôi, các anh tôi là là “phản động”, là “bán nước” là “ôm chân đế quốc” để kiếm “bơ thừa sữa cặn”. Nói ba tôi bán nước là tôi không tin. Không phải chủ quan nhưng tôi thấy rõ ba tôi là người yêu quê hương, làng nước, đồng bào còn hơn cả những người Cọng Sản nữa. Còn nói về lòng nhân ái, thương người thì rõ ràng ba má tôi nặng truyền thống “tu hiền” của dân Nam bộ. Với Cộng Sản mà nói nhân đạo, vị tha thì quả thật khôi hài. Nói bác ái, từ bi với họ có khi còn bị phê bình là “lạc hậu”, là “tôn giáo phản động”.

            Ba tôi là người yêu nước. Nhớ ơn ông Bùi Hữu Nghĩa, ba tôi họp với thân hào nhân sĩ trong phường, góp công, góp của xây đền thờ ông Bùi. Vì tích cực và nhờ uy tín, ba tôi được các cụ bầu làm Trưởng Ban Tế Tự, hằng ngày lo nhang khói. Dân trong phường tôn sùng ông Bùi như thần hoàng của làng, chỉ thiếu có “sắc phong” của vua mà thôi.

            Sau năm 75, Cộng Sản buộc dẹp bàn thờ ông Bùi, lấy chỗ làm kho lương thực. Ba tôi cùng mấy bô lão ngăn không được, bèn khiếu nại lên trên. Ông chủ tịch quận nói:

            – “Thờ cúng linh tinh là mê tín dị đoan.”

            Một ông lão nói:

            – “Nhưng cụ Bùi Hữu Nghĩa là người chống Tây, yêu nước.”

Chủ tịch hỏi:

            – “Thế ông ta có làm quan cho phong kiến không?”

            Ba tôi nói:

            – “Thi đậu, có làm quan, nhưng chống Tây, xin nghỉ quan.”

            Chủ tịch nói:

            – “Có làm quan cho phong kiến là có tội với nhân dân. Có đi học tức là nhà giàu, thuộc thành phần bóc lột, không được thờ.”

            Ba tôi tức lắm, cố cải:

            – “Vậy cụ phó bảng Sắc, thân sinh “Hồ Chủ Tịch” cũng đậu phó bảng, cũng làm quan phong kiến.”

            Vì câu nói đó mà ba tôi bị ghép tội xúc phạm lãnh tụ, bị giam tù 7 ngày, làm kiểm điểm và phạt lao động 45 ngày. “Lao động là vinh quang” nhưng hễ ai có tội thì bị phạt lao động. Vậy thì phải nói lao động là khổ sai chớ sao lại vinh quang. Cộng Sản nói nhiều câu thật buồn cười!

&

            Khi tôi khoảng chín, mười tuổi, ba tôi đang làm trưởng xưởng sửa chữa “bắc” trên bến “bắc” Cần Thơ. Mấy chú bác làm ở xưởng hay làm trên “bắc” thường lui tới thăm ba tôi nên biết tôi. Cũng qua đó, tôi khám phá ra cái thú sông nước mà sau này là một phần trong định mệnh của đời tôi.

Một hôm, tôi rủ mấy đứa bạn ra “bắc” chơi. Chúng tôi leo lên “bắc”, leo tuốt lên buồng lái mà nhìn sông Hậu. Từ hồi đó, tôi đã thấy cái mênh mông, hùng vĩ của sông Hậu rồi. Khi “bắc” vào bến, cảnh trên bến tấp nập thật vui. Nhưng rồi cuộc vui nào cũng qua nhanh và kết thúc không thiếu phần “bi thảm”.

Ba tôi cho tôi một trận đòn vào đít vì cái tội dám ra “bắc” chơi. “Lỡ rớt xuống sông thì sao?!” Rõ ràng nói câu đó, là ba tôi không tin tôi và thiếu thông cảm cho tuổi nhỏ. “Lỡ rớt xuống sông!” Làm sao có chuyện “lỡ” đó được. Tôi phải có lòng tự tin chứ. Còn nói tôi lêu lỗng thì không thể có được. Có tháng nào tôi bị sắp hạng ba đâu! Không nhất thì nhì ở bảng sắp xếp học lực hàng tháng.

Dù yêu thích thế nào đi nữa, cuối cùng, tôi vẫn phải vâng lời ba tôi. Sau này, đọc Tom Sawyer của Mark Twain, tôi thấy người Việt Nam mình thiếu tính mạo hiểm và ít tin tưởng con cái như người Âu Mỹ. Tôi cố gắng bù đắp cho tôi cái gì tôi thiếu. Thiếu mạo hiểm thì tôi đã sống một quãng đời rất mạo hiểm sau khi tôi trốn “nghĩa vụ quân sự”. Tới lúc đó dù ba tôi có không tin tôi thì cũng chẳng có cách gì được nữa.

            Năm 18 tuổi, tôi tốt nghiệp cấp ba thì bị gọi “nghĩa vụ quân sự”. Trong xã hội Cộng Sản có những cái nghịch lý buồn cười đến chảy nước mắt. Gọi là “nghĩa vụ” nhưng ai ai cũng nói là “bị bắt đi nghĩa vụ”. Đã “bị bắt” thì còn “nghĩa vụ” gì nữa. Nghĩa vụ chỉ là mỹ từ còn bản chất sự việc thì từ ngàn năm trước cho tới bây giờ có khác gì nhau?! Ngày xưa đi lính cho vua, ngày nay đi lính cho đảng. Vua và đảng có khác gì nhau khi đã gọi là bị bắt. Đi lính cho vua là để “bảo vệ quyền lợi giai cấp thống trị vua quan” và đi lính cho đảng thì cũng chỉ là “bảo vệ quyền lợi giai cấp thống trị đảng viên” mà thôi. Voltaire có nói một câu rất hay “Trong bất cứ xã hội nào, giai cấp cầm quyền là giai cấp thượng lưu.” – Âu Mỹ bây giờ tự do dân chủ thì sao tôi không biết chứ ở xứ mình ngày xưa, thời vua Lê chúa Trịnh đi lính để người trong nước đánh nhau còn ngày nay thì cũng chỉ là Nam Bắc huynh đệ tương tàn vậy. Có điều, chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa khoa học triệt để nên việc bóc lột bây giờ cũng rất khoa học và triệt để vậy.

            Nhiều khi tôi nghĩ tới việc ba tôi tình nguyện đi lính Quốc Gia và tôi bị bắt đi nghĩa vụ quân sự mà buồn cười. Không ai bắt ba tôi đi, vậy mà ông tự đi. Ông đi là để trả thù ông nội tôi bị Việt Minh giết, bị họ tước đoạt ruộng đất của ổng. Ít ra, ba tôi cũng có chính nghĩa của ông. Còn tôi chính nghĩa gì? Bảo vệ cái gì? Bảo vệ chế độ đã giết ông nội tôi? Chế độ đã đuổi ba tôi ra khỏi nơi ông đã đổ mồ hôi và trí tuệ gần 20 năm để phục xã hội, phục vụ dân chúng trong việc giao thông vận tải qua sông Hậu này, bảo vệ chế độ đã tịch thu tài sản, nhà cửa của cha mẹ tôi, bỏ tù các anh tôi, ngược đãi anh ba tôi trong trại lao động, v.v… và v.v…

Có thể nào như thế được không? Không nói gì tới triết lý chính trị xa xôi mơ hồ mà nhiều khi rất ngụy biện của Cộng sản, nói ngay thực tế của cuộc sống thôi, từ khi lớn lên, tôi chưa từng thấy ba tôi làm gì sai, với gia đình cũng như với xã hội. Ông sống bằng đồng lương do mồ hôi công khó ông đổ ra, Làm cha, ba tôi rất gương mẫu để các con noi theo, mẹ tôi có tiệm vàng ở phố thì có môn bài, có đóng thuế, chưa thấy ai nói mẹ tôi buôn gian bán lận. Thế mà Cộng sản họ đuổi ba tôi ra khỏi xưởng và tịch thu cửa hàng của mẹ tôi. Họ qui thành phần cả nhà tôi. Chắc chắn là tôi sẽ không “trúng tuyển đi nghĩa vụ quân sự”. Họ không tin tôi, họ sợ tôi một ngày nào đó sẽ quay súng bắn vào đầu họ khi họ phát cho tôi cây súng.

“Cách mạng triệt để” mà, cách mạng triệt để là vậy. Dù vậy, họ cũng không tha dù tôi chỉ đi làm bia đỡ đạn cho họ, họ sẽ bắt tôi làm nô lệ, nghĩa là tôi sẽ “tham gia lao động kinh tế quốc phòng”. Mỹ từ nghe hay thiệt.

Thực chất là cách mạng triệt để, không bóc lột đàn áp bằng ngã này thì bằng ngã khác, không phát cho cây súng thì phát cho cây cuốc, không chạy vào đâu được.

Anh ba tôi đã là nạn nhân của cái mỹ từ lao động kinh tế quốc phòng, trốn khỏi trại nô lệ đó mà đi. Anh tôi nói đùa: “Đi làm, tao có người cầm súng đi theo bảo vệ, bảo vệ tao chớ không phải sợ tao trốn trại. Tao là một VIP mới có người cầm súng đi theo kè kè bên lưng. Tụi Mỹ trắng nói với tụi Mỹ đen nô lệ hồi mấy thế kỷ trước như thế nào tao không biết, còn ở đây hay lắm mày. “Lao động là vinh quang, cuốc là số một”. Cái đuôi câu này tụi tao mới thêm vô cho đầy đủ “hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Ăn nhiều làm ít là bóc lột nhân dân nên cuốc đất có chỉ tiêu đàng hoàng, chỉ tiêu mỗi buổi là ngang một mét, dài 150 mét. Phải làm đủ mới ăn đủ. Cuốc không đủ thì giảm phần ăn hạng A xuống hạng B, ba chén bắp còn hai chén, nếu không đạt nữa thì chuyển qua việc làm nặng nhọc hơn, chặt tre, phá rừng, kéo cày thay trâu. v.v… Phần B muốn lên phần A phải phấn đấu, phấn đấu hai chén lên ba chén, phấn đấu ba chén để được no. Chúng nó tính kỹ lắm, kỹ từng thước đất, từng chén cơm, tính 50 mét là một chén, 100 mét là hai chén, 150 mét là ba chén, phải đủ hay vượt quá con số đó mới được ăn đủ. Cuốc tới 90 mét cũng chỉ được 1 chén, 140 mét cũng chỉ có 2 chén. Có thừa nhưng chưa đạt chỉ tiêu, coi như bỏ. Mày biết “đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành” là cái gì không? Mấy con mẹ địa chủ ngoài bắc sợ người làm lén lút ăn cắp nước mắm ăn với cơm nên “đo lọ nước mắm”, chúng chỉ cho “lấy chút nước cá mà ăn với cơm thôi nhé, mày đụng vào khúc cá là mày chết với bà”, “đếm củ dưa hành”, sợ người ta ăn cắp mới đếm từng củ. Cộng sản đánh đổ “giai cấp địa chủ bóc lột” nhưng khi chúng nó có quyền thì chúng rập y cái khuôn của bọn địa chủ đó, rồi đem cái khuôn đó mà “giải phóng miền nam”. Cách mạng? Chẳng có gì cách hết, chỉ là y chang cái khuôn phong kiến của Tầu cả ngàn năm trước, khác ở chỗ bây giờ bóc lột khoa học hơn, triệt để hơn và nhiều mỹ từ nghe hay vô cùng đáo để.”

            Tôi thử đi trình diện và rồi cũng như anh tôi, được tham gia lao động kinh tế quốc phòng. Anh tôi từ cái địa ngục đó mà trốn đi, tôi còn chui đầu vào đó làm gì?! Cuộc đời tôi phiêu bạt từ đó.

            Tôi chờ đến ngày trình diện ghi trong giấy mới rời nhà. – ở nhà với mẹ, gần mẹ được ngày nào vui ngày đó, rồi ra, trốn đi, biết khi nào mới gặp lại mẹ. Thay vì lên trình diện ở phường, tôi ra bến Ninh Kiều, “trình diện” thằng bạn, nó đậu ghe chờ sẵn, đưa tôi qua cồn Bà.

&

            Kể ra tôi cũng có tính mạo hiểm. Ngay đêm đầu tiên ở cồn Bà, tôi đã thấy thích. Mấy chục năm trước, bà nội tôi và ba tôi có phá một công đất trồng cây ăn trái ở đấy, thỉnh thoảng tôi theo ba tôi qua đây chơi, thích lắm. Bây giờ thì được ở hẳn nơi này, ngày ngày chăm sóc cây trái rồi giăng câu, đặt lợp mà kiếm sống.

            Cồn Bà dài khoảng 3 cây số. Chỗ rộng nhất nửa cây, lau lách rậm rạp, bần đước um tùm, mương lạch chằng chịt nên dân tứ chiếng giang hồ về đây không ít, phần đông là trốn nghĩa vụ, lao động có, quân sự có, “bỏ ngũ” cũng có, luôn cả những phần tử tội phạm hình sự trộm cắp, đâm thuê chém mướn.

Nhưng về tới đây cũng là đường cùng rồi, tới đáy xã hội rồi, mỗi người tay làm không đủ hàm nhai, có đâu mà ai bóc lột ai. Có điều hay, mấy tay hành hiệp trong chốn giang hồ chẳng tay nào chịu ở lâu. “Trời êm bể lặng”, họ lại về giang sơn cũ để cho đời lên hương chút đỉnh, chớ không chịu cơm rau mỗi ngày như chúng tôi, sống với sông nước, gần gũi với thiên nhiên như mấy ông tu tiên Lý Thiết Quày, Hà Tiên Cô được. Cần nhất là gạo, do gia đình tiếp tế hay đổi chác ở phía “bắc” Bình Minh, còn đồ ăn thì thiên nhiên cho gì ăn nấy. Có cá thì kho, nấu canh… không thì cơm rau muối qua ngày. Cuộc đời của người trốn chạy, còn gì nữa đâu mà kén cá chọn canh.

            Đêm đầu tiên, chưa có mùng, tôi ngủ chung giường với thằng Phương, bạn tôi. Giường là cái sạp tre, có nhiều thanh đã gãy, phải chặt cây thế vào, nằm đau lưng muốn chết. Chiếc chiếu thì đã rách te tua, phải lót thêm mấy miếng báo nơi chỗ thủng để muỗi khỏi vô. Cái sạp tre cách mặt đất chừng nửa mét, trên là mái lá mới lợp nhưng chắc không cản nổi mưa. Thằng Phương bỏ mùng bên phía nó xong, nói:

            – “Mày chèn mùng cho kỹ chớ không con “gái” nó

chui vào mùng.”

            Tôi ngạc nhiên hỏi:

            – “Con “gái” đâu vậy mày? Vụ này coi không êm. Cả đời tao chưa từng hun một con nhỏ nào chớ đừng nói là nằm chung mùng với nó.”

            Thằng Phương cười hắc hắc:

            – “Tao giả nói ngọng chọc mày chơi. Con “rái” chứ không phải là con gái đâu mà ham. Con rái hay tìm vô ngủ chung với người có hơi cho ấm. Tao hoảng hồn một lần rồi đó.”

            Đêm đầu tiên ở cồn Bà, dù còn trẻ và vô tư, tôi cũng khó ngủ được ngay. Tôi nằm nghĩ tới biết bao nhiêu chuyện, hết chuyện nọ, xọ chuyện kia. Trước hết là chuyện xa cha mẹ, anh chị em, nhất là xa mẹ, nhớ lắm. Rồi đây làm thế nào tôi về thăm mẹ tôi, mà không về thì… nhớ mẹ lắm. Không chừng mẹ tôi dám ra chỗ này thăm tôi. Có mấy khi tôi xa nhà lâu đâu. Mẹ tôi mà ra tới đây, thấy cảnh sống của tôi như vầy, lấy gì mà đong cho hết nước mắt của mẹ.

Chi bằng Cộng sản… sụp đổ là sướng nhất. Thế là tôi về. Nhưng chuyện đó, nhắm ra, khó lắm! Nghĩ qua chuyện học, tôi cũng buồn! Thôi, thế là hết, thế là giả từ giấy, bút; giã từ sách, giã từ vở, giã từ hyperbol, parabol, giã từ vua Lê Lợi, ông Trần Hưng Đạo đại thắng quân Nguyên, giã từ thầy cô, bè bạn. Không, không nên để ông Lê Lợi, ông Trần Hưng Đạo ngang với bè bạn, dù chỉ là ở trong lòng tôi. Mấy ông này phải ở cao hơn. Xin thông cảm, ở nơi cồn Bà bốn bề sông nước này, tôi đành giã từ hết mà cũng nhớ nhung hết, chẳng sót ai. Tôi chứa tất cả trong lòng tôi.

Lòng tôi hẹp mà chứa thật nhiều, cả khu vườn nơi nhà tôi ở, cả không gian nơi trường tôi học, cả sân bóng đá tôi thường đá bóng với bạn bè; tất cả mọi người trong gia đình tôi, bà con gần xa trong phường, cả giòng lịch sử Việt Nam từ họ Hồng Bàng, có ông Lạc Long Quân chia tay với bà Âu Cơ dẫn 50 con xuống biển. Có ai trong năm mươi người con đó đã đẻ ra giòng họ Dương nhà tôi ngày nay mà đến đời tôi, tôi phải sống cuộc đời trốn tránh cô quạnh giữa chốn rừng hoang này!

            Bây giờ hồn tôi có rộng bao nhiêu đi nữa, trí tôi có đi tận tới chân trời góc biển nào đi nữa, có theo chân ông Kha Luân Bố đi tìm Tân Thế Giới, theo ông Nansel lên thám hiểm bắc cực thì cái mạo hiểm đó cũng “hiểm” như cuộc sống tôi ở cồn Bà này! Đâu có phải đi thật xa, “đấu sức với ba đào, thi gan cùng sương tuyết” như ông Nguyễn Bá Học nói mới là mạo hiểm. Trong cuộc sống mỗi ngày, luôn luôn đề phòng bọn công an rình rập, vây bắt, đấu tranh với thiên nhiên bằng những phương tiện thô sơ nhất như thời thượng cổ để giành lấy cái ăn… cũng là một sự mạo hiểm đó thôi. Lội qua bao nhiêu con rạch để tìm cho được một ngọn rau hoang, ngồi rình bao nhiêu giờ mới chộp được một con cá, con lươn cũng là một sự mạo hiểm. Nhưng cái mạo hiểm nhất chính là canh chừng từng phút, từng giây mũi súng của bọn công an, canh chừng sự chết để giữ mạng sống. Cái mạo hiểm đó giống với chàng Lỗ Bình Sơn trong tiểu thuyết phiêu lưu. Tuy nhiên, ít ra, Lỗ Bình Sơn còn được chủ động trong cuộc sống. Anh ta được làm nhà để tránh mưa nắng, làm hàng rào ngăn thú dữ và một đệ tử là anh “Thứ Sáu”. Chúng tôi không dám làm nhà sợ Công an biết nơi ăn ở. Tôi thì có bạn bè, không có đệ tử. Lỗ Bình Sơn sợ bọn mọi ăn thịt người, tôi thì sợ công an. – Bọn mọi ăn thịt người và công an có khác gì nhau, cũng là một thứ làm hại đồng loại cả thôi. Thời mọi rợ man ri làm hại đồng loại kiểu khác, bây giờ văn minh tiến bộ hơn, khoa học hơn thì làm hại kiểu khác. Chống lại sự làm hại của chúng thì mũi súng của chúng sẽ nhắm vào người mà nổ. Thế là chết. Sự chết, từ ngàn xưa cho tới bây giờ, khác gì nhau. Dao mác hay súng đạn đều đem lại sự chết như nhau.

            Chàng Lỗ Bình Sơn muốn về với đồng loại nhưng thiên nhiên không cho về. Từ đảo hoang của chàng, chàng không biết nơi nào là đất liền, có người ở, cách bao xa, biển bao sâu… Chàng sẽ về đất liền bằng gì? Ghe nào? Tàu nào đưa chàng về với loài người thân yêu của chàng. Tội nghiệp cho chàng sống bao nhiêu năm cô quạnh nơi hoang đảo đó.

Còn tôi, ở giữa cồn Bà này, cách bờ sông Hậu đâu có bao xa, chiếc xuồng ba lá chèo chẳng mấy lúc đã tới. Bên kia bờ đó, có loài người của tôi, có đồng bào của tôi, có bà con bè bạn của tôi, và trên hết là gia đình: Cha mẹ, anh chị em, ai cũng thương cũng mong tôi về. Vậy mà tôi không về được. Không có biển sâu sông rộng, trời đất nào ngăn cách tôi về mà bởi tụi công an đó. Công an không phải là Trời, không thể làm Trời. Chúng nó là giặc Trời, là Thiên kiêu. “Thước gươm đã quyết, chẳng dung giặc Trời”. Chẳng ai dung tha chúng nó, bọn giặc Trời. Có ngày chúng nó sẽ bị chặt đầu. Khi đó, tôi sẽ về, tôi về…

            Cứ liên miên suy nghĩ như thế, đêm đó, tới ba bốn giờ sáng, tôi mới ngủ thiếp đi…

            Cuộc sống nơi cồn Bà thiếu thốn mọi thứ nên tôi phải tạo dựng một cuộc sống “tự cung tự cấp”. Nhờ liên lạc được với gia đình, tôi nhờ mua hột thuốc lá để trồng lấy. Thu hoạch xong, thay vì xắt lá thuốc nhỏ như thuốc rê thì tôi lại vấn như điếu xìgà nhỏ. Rồi tôi trồng ớt, đậu, thậm chí trồng cả chanh. Hễ có hột cây gì tôi đem ương trồng hột đó. Chỗ đất nơi vườn cũ của cha mẹ tôi, tôi lên liếp cao cho khỏi ngập nước rồi trồng đủ thứ, khoai lang, rau muống, bạc hà… Dân nhậu phải trồng bạc hà để nấu canh chua. Tụi bạn tôi thấy hay hay cũng phụ vào trồng với tôi.

            Những đêm nhậu, bao giờ cũng vui lúc đầu, vui từ khi nấu nồi canh chua, con cá lóc nướng trui và khi bắt đầu “dô! dô!”

Nhưng đến khi thấm rượu rồi, đứa nào cũng buồn. Người xưa nói “Uống rượu tiêu sầu” là chỉ tiêu khi mới uống mà thôi, còn sau đó thì “sầu dâng chất ngất”. Cũng có đứa hát, ca vọng cổ, ngâm thơ, kể chuyện tiếu lâm… như hồi liên hoan trong lớp vậy. Bây giờ chúng tôi mới thấm thía mấy câu thơ của Vũ Hoàng Chương:

“Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa,

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nói khinh.

 

Đâu có phải quê hương ruồng bỏ chúng tôi nhỉ? Quê hương vẫn chờ đón tôi về đấy chớ!

Một mai, yên “giặc” rồi, tôi về. Cái cửa ngõ nhà tôi sẽ hớn hở đón tôi, những cánh hoa trong sân sẽ nghiêng mình chào tôi, và những con đường nhỏ trong làng chờ tôi về rong chơi lang thang như hồi tôi còn thơ ấu.

Giống nòi nào khinh tôi?! Vì tôi trốn chạy không dám đứng lên chống kẻ thù chung hay sao? Tôi đã trốn đi, còn bao nhiêu người còn lại đó đang sống trong cảnh đọa đày. Vậy mà tôi còn muốn trốn đi xa nữa chứ:

“Biển vô tận sá gì phương hướng nữa,

Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh.

“Thuyền này là thuyền vượt biên.” Thằng Phương nói câu đó xong cười ha hả. Cười xong, nó lại nói tiếp:

“Thuyền ơi thuyền theo gió tới Bidong.

            Câu nhại thơ ấy làm cho ai nấy đều cười.

            Nhậu xong, khuya về nằm trong căn chòi trống, nỗi buồn thật ghê gớm! Thằng Phương nhậu về ngủ say như chết. Tôi thì ngược lại, say mấy thì say, tôi vẫn không ngủ được. Tôi nằm thao thức, nhớ đủ thứ chuyện về gia đình, học đường, bạn bè, bà con, và lại… buồn.

Chắc là tôi phải đi, đi thật xa, dù phải tới chân trời góc biển nào đi nữa. Tôi phải tìm tới nơi nào tôi được sống tự do, nơi nào tôi đi hiên ngang trên đường mà không lấm lét nhìn trước nhìn sau sợ công an bắt, nơi nào tôi được nói điều mình nghĩ ra mà không ai cấm cản. Nơi đó chắc xa lắm, xa cồn Bà này ngàn trùng diệu vợi, thuyền nào đưa tôi đi, bến nào cho tôi tới, biết có ai đón đợi?

            Khuya lắm, hết rượu trong người, nằm giữa bốn bề sông nước mênh mông, nghe tiếng sóng vỗ lao xao vào bờ cỏ, cảm bằng trí tưởng hơi nước bốc lên mịt mù, cả thân xác và cả tâm hồn thấm lạnh biết bao nhiêu!

Vậy mà có đêm trời mưa. Hột mưa đập sầm sập trên mái chòi, tưởng như mái chòi không chống đỡ nỗi, muốn sập. Gió ào ào, thổi tạt mưa làm ướt cả “giường”. Phương và tôi, hai đứa ngồi hai góc, ôm hết mền gối vào mình, trùm quanh người tấm nylon cho đỡ ướt và đỡ lạnh. Cũng may, xứ tôi không có mưa dầm, cơn mưa chỉ kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ thì tạnh.

Chúng tôi lại nằm xuống, đắp mền kín đầu, mặc dù mền chỗ ướt chỗ khô, cũng cố ngủ đi cho qua một đêm nơi cồn hoang này vậy.

            Kinh nghiệm sống cho tôi thấy những ngày Tết – tết ta – không buồn bằng những ngày cận tết, mặc dù đối với phong tục ta, tết là ngày gia đình đoàn tụ.

Cuộc sống nơi cồn hoang trầm lắng, yên tĩnh; ngày Tết, ngoài kia cũng lắng đọng để mọi người đón xuân, không có gì thôi thúc lòng tôi lắm, chỉ buồn và nhớ nhà mà thôi. Nhưng những ngày cận Tết, người ta ai ai cũng chuẩn bị, hăm hở đón Tết, người người tới lui, mua bán, chuyện vãn.

Cuộc đời ngoài kia hối hả, nhộn nhịp, náo động biết bao nhiêu! Trời chưa sáng đã nghe tiếng còi xe hơi phía “bắc” Cần Thơ réo gọi inh ỏi. Tôi nghe rất rõ tiếng còi trầm mà hùng dũng của chiếc “bắc”, tiếng còi xe “Pho” vang dội và náo nức, như réo gọi tôi rời bỏ cồn hoang mà trở về với cuộc đời náo nhiệt. Có những buổi sáng tinh sương, trời còn êm, chỉ có chút gió nhẹ thổi, giúp tôi nghe thoang thoảng tiếng cười nói ồn ào của của kẻ mua người bán bên chợ Ninh Kiều vọng sang.

Nằm trong căn chòi vắng lặng bốn bề sông nước, nghe “tiếng đời” xôn xao từ xa vọng lại. Ôi! lòng tôi cô quạnh biết bao nhiêu! Chỉ có ai một mình đứng trên đỉnh núi cao, một mình ngoài biển rộng, một mình trong sa mạc cũng như tôi nơi hoang đảo này mới cảm nhận thấm thía một cách đau xót nỗi cô đơn, nỗi quạnh hiu, xa lìa nhân loại. Tôi khao khát một cách tha thiết và tuyệt vọng nghe được tiếng người cười người nói mỗi ngày, dù ruột thịt bạn bè, hay cả những người không thân quen. Tôi tha thiết muốn nghe được “tiếng đời” rộn rã ở ngoài kia. “Ngoài kia xuân đã bén duyên chưa? Tôi ở trong đây chẳng có mùa?” Chín năm nơi cồn hoang, “xuân chẳng có mùa” Có sống cô đơn như vầy mới cảm thông sâu sắc nỗi hiu quạnh của Hàn Mặc Tử ngày trước khi sống một mình trong căn chòi nhỏ bên bờ biển vắng.

            Bên kia bờ sông là “cuộc đời”. – Nơi đó người ta đang nói, đang cười, đang chuyện trò, đi lại. Tôi muốn nghe tiếng họ nói – dù họ không nói với tôi – Tôi muốn nhìn họ cười – dù không cười với tôi – Tôi vẫn khao khát tiếng nói, tiếng cười của họ. Tôi thèm khát cái chất Người, vẻ Người, nét Người, tình Người nơi họ, không phải là sự thèm khát một nét môi, một đường cong giữa hai người khác phái, mà chính là tôi thèm khát đồng loại, thèm khát loài Người. Cho tôi đi giữa chốn đông người, cho tôi đi với mọi người, cho tôi hụp lặn trong tiếng người, trong hơi người, dù là cái hơi thơm tho hay thúi hoắc. Tôi yêu tất cả mọi người, tôi thèm khát tất cả mọi người, dù kẻ sang người hèn, dù giàu có hay nghèo khổ, dù xấu hay đẹp, cao hay thấp, đem hay trắng, già hay trẻ, tất cả đều là của tôi, loài người của tôi vì nơi cồn hoang tôi đang sống này hiu quạnh biết bao nhiêu!

“Chim xa rừng thương cây nhớ cội,

Người xa người tội lắm người ơi!”

Tội nghiệp cho tôi!

Tội nghiệp tôi phải sống xa người!

            Loài người ở đó, “tiếng đời”’ ở đó, bên kia bờ sông Hậu, cách tôi có bao xa. Vậy mà tôi không đến được cùng đời, cùng người để hụp lặn trong nỗi hân hoan, cho lòng tôi sung sướng tràn đầy, rằng tôi đã được sống giữa mọi người, cùng mọi người trong cuộc đời bình thường của nhân loại để xua đuổi xa đi những nỗi “cô liêu cũ vạn đời” của Hàn Mặc Tử.

            Dù vậy, cuộc sống chúng tôi chẳng có bao giờ yên được với bọn công an. Sau nhiều lần vây bắt không được, chúng tịch thu khu vườn ba mẹ tôi đã khai phái trồng trọt trước năm 75, giao cho bọn bảo vệ một công ty thu hoạch cây trái, với nhiệm vụ hằng ngày đến canh tác đồng thời vây bắt, xua đuổi chúng tôi. Đo đó, chúng tôi phải lùi dần về phía nam cồn Bà, không gian chúng tôi sinh sống hằng ngày bị thu hẹp lại. Để chống lại chúng – chúng tôi chỉ có tay không, bọn chúng thì có súng đạn, chúng tôi ứng dụng ngay bài học “dũng sĩ diệt Mỹ” mà ngày trước Cộng Sản đã dạy chúng tôi ở nhà trường. Chúng tôi làm một cái bẫy sập, khi chúng mắc bẫy thì tổ ong vò vẻ trên cây bần túa ra đánh chúng. Trận ấy chúng tôi thắng vẻ vang. Cả chục thằng vừa công an vừa bảo vệ phải nằm bệnh viện.

Sau trận đó, chúng nó phục thù. Bây giờ chúng không còn bắn chỉ thiên mỗi lần chúng đuổi theo chúng tôi nữa mà bắn thẳng vào người. Phương trúng đạn vào đầu, vào mình, chết tại chỗ. Cái chết của Phương làm rúng động bọn chúng tôi.

            Chúng tôi thương tiếc cho số phận của Phương, người thanh niên trẻ trung ấy. Mấy viên đạn ghim vào đầu Phương, mình Phương. Viên đạn nào sẽ ghim vào mình chúng tôi? vào tôi? Cái chết đã cận kề, đã rõ ràng, không còn là sợ hoảng, không mơ hồ về tương lai.

            Đời tôi đã cô đơn, nay lại càng cô đơn thêm sau khi Phương qua đời. Trước kia, có Phương, ăn chung, nằm chung, có người để chuyện trò, vui cười, để tỏ bày tâm sự. Nay Phương đã chết rồi, còn ai để hàn huyên, để chia xẻ ngọt bùi!

            Và rồi lần lượt chúng tôi bỏ cồn Bà ra đi, đứa lén lút trở về nhà cũ, sống chui rúc như loài chuột sợ bóng người. Và rồi cũng tù tội. – Ở lại đây, rồi cũng… tù tội. Trước sau gì cùng bị bắt, không chừng bị bắn như Phương, chết một cách tức tưởi lạnh lùng. Cũng có đứa đã vượt biên, nhờ một cơ may nào đó. Thằng Phú, thằng Thọ, bạn tôi – ba nó cùng là bạn ba tôi – đã thoát tới Bidong. Câu thơ nhại đọc vui ngày nào “Thuyền ơi thuyền theo gió tới Bidong” đã thành sự thực. Cũng lắm đứa bị bắt và nay đang sống khổ trong trại giam “Cây Gừa” hay nằm tù ở khám lớn Cần Thơ.

            Càng lúc bọn công an lùng sục, bao vây cồn Bà kỹ hơn. Chị tôi thường lén lút tiếp tế gạo cho tôi, bị chúng xét bắt được. Ban đầu chúng còn cảnh cáo rồi tha. Thương em, chị tôi vẫn đi. Lần chót, chúng nó giam chị tôi một tuần, và nếu tái phạm, sẽ cho đi cải tạo. Gia đình tôi đã “có vấn đề” rồi. Từ ông nội tôi trở xuống, cha mẹ tôi, anh chị tôi, ai ai cũng “có tội với cách mạng”, kể cả mấy ông anh rể tôi, người thì “nhảy dù”, người “lính thủy đánh bộ.” Khi các anh rể tôi cải tạo ngoài Bắc, các chị tôi và các con bị buộc đi “kinh tế mới”. Cả mấy chị đều bỏ trốn về thành phố, chẳng ai có hộ khẩu. Triệt để hơn, chúng tịch thu nửa căn nhà cha mẹ tôi đang ở làm “trụ sở dân phòng”, mỗi ngày Công an tới lui mấy bận, cho người theo dõi gia đình tôi. Cả gia đình bị “qui thành phần” và trong hoàn cảnh bị theo dõi, kiểm soát như thế nên họ đành bỏ đói tôi nơi cồn hoang.

            Một mặt chúng lục soát liên tục cồn Bà, một mặt cắt đường tiếp tế, chúng tôi đành tan rã, mỗi đứa lưu lạc một nơi, mặc dù trong lòng vẫn luyến lưu cuộc sống nơi hoang dã, dù khổ cực nhưng có nhau, những người cùng cảnh ngộ chạy trốn như nhau.

            Tôi nhờ mua một chiếc xuồng ba lá, bỏ lên đó mấy bộ quần áo cũ rách. Cái chén, đôi đũa, cái nồi, v.v… dĩ nhiên không phải để trở về với gia đình, với loài người tôi yêu mến, mà lại bắt đầu một cuộc đời sông nước nổi trôi khác nữa, hết cồn nọ, đến rừng kia, qua những sông rạch lớn nhỏ, đến đâu kiếm ăn ở đó bằng cách giăng câu, đặt lợp, lấy cá, lươn đánh bắt được để đổi gạo ở những xóm dân xa xôi hẻo lánh nghèo nàn mà công an không mấy khi đặt chân tới.

Rồi một ngày kia, tôi lưu lạc về tới mũi Cà-Mau, nhờ may mắn, tôi rời Việt Nam…

&

            Người thanh niên kể xong câu chuyện anh ta đã lâu mà tôi vẫn ngồi im. Tay tôi còn nắm tờ giấy thông báo kết quả thanh lọc của anh do chính quyền Mã Lai ký và Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc trao lại.

Anh bị từ chối, không được xác nhận là người tỵ nạn chính trị. Trí óc tôi trống rỗng một cách kỳ lạ. Tôi không suy nghĩ hay tôi chẳng còn gì để suy nghĩ trước sự ngán ngẫm về cung cách đối xử với nhau giữa con người và con người.

Cộng sản là tàn ác, bất nhân, đã đành; nhưng giữa những con người văn minh, với cơ quan Liên Hiệp Quốc được gọi là nhân đạo, để cứu giúp những người bất hạnh, đã đối xử với anh ta như vậy sao?!

Cuộc đời khốn khổ của anh ở quê nhà là vậy đó, dài 9 năm. Đâu có riêng gì anh ta là nạn nhân của chế độ mà cả gia đình anh, từ ông nội bị giết, đến cha mẹ bị đuổi, bị tích thu tài sản, đến những người bị cải tạo, bị buộc đi kinh tế mới, mọi thứ quyền lợi căn bản của con người được xác nhận trong cái gọi là bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đều bị vi phạm hết và cả đến anh ta, với 9 năm chạy trốn, ai là người trong gia đình anh không phải là nạn nhân của chế độ độc tài đó?! Vậy thì mở trại đón người tỵ nạn là vì nhân đạo hay chỉ là một đòn chính trị đánh vào kẻ thù mà dân tộc Viêt Nam khốn khổ này, sau 30 năm huynh đệ tương tàn bằng súng đạn từ ngoài đem vào, nay lại bị lừa đẩy vào một mê hồn trận khác bằng những trại tỵ nạn mở ra khắp vùng Đông Nam Á?!

Tuổi trẻ Việt Nam, hết bị phỉnh lừa đẩy vào vòng chém giết, lại hoang phí một cách oan uổng vào những việc vô bổ. Chín năm chạy trốn, cọng với bốn năm trong trại tỵ nạn, 13 năm của cuộc đời anh trôi qua một cách hoang phí. Phải chi đất nước thanh bình, 13 năm tuổi trẻ đó, anh ta đã có ích cho đời, giúp cho đời, cho đất nước biết bao nhiêu! Giờ đây, rõ ràng anh ta không thể trở về, và mai kia có bị cưỡng bách hồi hương đi nữa thì đời anh chắc chắn không có tương lai sáng sủa nào đón đợi.

            Tuổi thanh xuân của người Việt chúng ta hết mất dần đi trong chiến tranh vì súng đạn thì nay lại mòn mỏi trong các trại cải tạo, các trại tỵ nạn như vậy đấy. Trại tỵ nạn này là nơi mà anh ta sẽ phải trải qua không biết bao nhiêu năm nữa, trước khi có được một cuộc sống bình thường.

            Ngoài kia, qua khung cửa sổ là một khung trời nhỏ có một nét mây mỏng vắt ngang qua, trông giống như một bức tranh màu nước. Thời gian êm đềm trôi trong bóng chiều lặng lẽ. Tôi quay đầu nhìn anh ta đang thẩn thờ đưa mắt vào cõi xa xăm. Một lúc sau, tôi quay lại nhìn qua cửa sổ thì trời chiều đã chuyển sang màu tím than rồi dần đen thẩm lại. Tôi mãi mê dõi theo màu trời chuyển sắc mà trong lòng cảm thấy buồn bã lạ lùng nên chẳng nói với anh ta một lời nào, dù chỉ là một lời an ủi.

&

            Ngày anh ta tiễn tôi rời trại đi định cư, tôi vỗ vào vai anh, nói một cách gượng gạo: “Thôi, ở lại, hãy cố gắng và tin tưởng”.

Nói xong, tôi cũng không hiểu tôi khuyên anh ta tin tưởng vào cái gì? Tin tưởng vào lẽ công bằng và nhân ái của loài người mà anh ta tha thiết yêu mến đó chăng? Không chắc điều đó đã có qua những tổ chức nhân đạo như ở đây, hoặc lòng nhân ái đó đã thấm đen lại như bầu trời nơi khung cửa sổ nhà anh mà tôi đã mãi mê buồn bã dõi theo trong buổi chiều tôi đến thăm, để nghe anh kể một quãng đời bi thảm trên hòn đảo hoang giữa sông Hậu.

Khốn khổ thay, chàng Lỗ Bình Sơn của thời đại chúng ta, vẫn hoàn toàn cô đơn khi trở về giữa cuộc sống loài người.

hoànglonghải

(Viết tại Barre, Mass, tháng 6/1993. Sự kiện có thật, chi tiết do tác giả hư cấu, để tặng Dương Hùng và Phạm thị Minh Ngọc, trại tỵ nạn Sungei Bishi, Mã Lai, sau khi tôi đã rời xa trại tỵ nạn rồi mà lòng tôi còn lại đó)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: