Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (21) – Tôi “lên bàn”

VIETNAMESE BOAT PEOPLE(phỏng vấn thanh lọc,

theo cách nói của đồng bào tỵ nạn, nôm na là “lên bàn”)

                Như mọi người, tôi được phỏng vấn thanh lọc tại trại Marang.

            Tôi tới trại nầy lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1989, một ngày sau khi tôi tới đảo Bidong. Hai năm sau 1991, tôi lại tới trại nầy lần thứ hai để được phỏng vấn thanh lọc. Vậy là phải chờ hai năm, dài quá. Tiến trình công việc nầy, Cao Ủy và chính quyền Mã Lai thực hiện chậm chạp. Vì họ không có đủ người, các nước thứ ba đón người tỵ nạn quá chậm hay có một chủ ý gì khác. Không ai rõ. Thuyền nhân chỉ việc chờ…

            Tôi đến trại Marang vào cuối tuần, phải chờ đến thứ hai mới tới phiên “lên bàn”, tức là bàn thanh lọc, để được phỏng vấn.

            Sáng thứ hai, trước 9 giờ, xe mini-van của Hội Hồng Nguyệt, một hội tương tự như hội Hồng Thập Tự, Việt Cộng kỵ danh từ Hán Việt nên gọi là Chữ Thập Đỏ, chở các luật sư Cao Ủy, các thông dịch viên (cô Mai, ông Chính, ông Dũng, v.v…) đến.

Nhân viên Mã Lai đến bằng xe riêng của họ. Ông thiếu tá phỏng vấn tôi đi chiếc xe Proton, một loại xe sản xuất ở Mã Lai, nhỏ và trông giống như xe Toyota Corolla ở Mỹ, máy xe hiệu Mitsubishi. Xem ra, lúc ấy. Mã Lai đã phát triển hơn Việt Nam.

            Tôi cũng chuẩn bị áo quần tươm tất sạch sẽ, với một cái cặp bìa đựng giấy tờ hộ tịch cần thiết cầm ở tay, chuẩn bị được gọi tên. Phái đoàn chỉ phỏng vấn tôi là người đứng đầu “blue card”. Vợ tôi và con gái khỏi phải phỏng vấn.

            Sau khi nghe cô Mai gọi tên, tôi bước vào phòng thanh lọc, chào ba người trong phòng. Cô Mai giới thiệu tôi với hai người ấy. Cô ấy cũng giới thiệu hai người ấy với tôi. Một người là luật sư Cao Ủy, đại diện cho Cao Ủy Tỵ Nạn, giám sát cuộc thanh lọc, không rõ ông luật sư người nước nào. Sau đó, tôi mới rõ ông ta là người Hòa Lan, khi ông ra nghỉ ngoài sân và nói chuyện với vợ tôi. Người thứ thứ hai là một thiếu tá Mã lai, đại diện cho chính quyền Mã Lai.

Theo nguyên tắc, chính quyền Mã Lai, nước thứ hai của người tỵ nạn (nước thứ ba là nước cho định cư) làm Chủ tịch và quyết định việc xác nhận có phải là người “tỵ nạn chính trị” thực sự hay không, để chấp nhận hay từ chối cho định cư. Luật sư Cao ủy là người chứng kiến việc phỏng vấn thanh lọc. Dĩ nhiên, người thứ ba là cô Mai, thông dịch viên hữu thệ.

            Tôi nghĩ ngay đến sự có mặt của viên thiếu tá.

            Thành phần thuyền nhân khá phức tạp, nhưng tám chín chục phần trăm là dân quê, làm ruộng, đánh cá. Một số khác là sĩ quan, binh lính Dziệt Cộng, cán bộ, hợp tác xã, xí nghiệp, thụt két xong vượt biên… Cả hai thành phần nầy đều học hành ít, kém văn hóa. Trước 1975 họ không quan hệ gì đến chế độ cũ. Mấy năm nay, Dziệt Cộng “mở cửa”, ngó lơ để người vượt biên cho thật đông, mai mốt làm “Việt kiều hồi hương”, (ai hỏng thanh lọc thì phải về nước, người ta gọi đùa là “Việt kiều hồi hộp”, sợ Dziệt Cộng bắt bỏ tù), áo gấm về làng, đem đô la về… Họ ở thôn quê, gần biển, hoặc ở các hòn đảo nhỏ trong vịnh Rạch Giá nên dễ ra đi. Người đi đông nhứt là quê ở huyện Long Phú, tỉnh Ba Xuyên cũ, nay là tỉnh Hậu Giang. Có lần tôi nói đùa: “Huyện Long Phú dời qua Bidong rồi.”

            Còn lại, một ít là sĩ quan, công chức, cán bộ chế độ cũ, nhân viên sở Mỹ. Cũng không ít người “mang bệnh công thần”, thấy mình cao hơn các thuyền nhân khác, sống buông thả, gái góc, bồ bịch, muốn trở lại “thời hoàng kim” họ đã có thời chế độ cũ…

            Trong cách nhìn thành phần như thế, viên chức Mã Lai chủ tọa cuộc thanh lọc, thường là thiếu úy, trung úy…. Hôm nay, tôi gặp viên thiếu tá, cao cấp nhứt trong số họ.

Họ suy nghĩ như thế nào đây?

Có phải vì tôi mang loon đại úy nên họ đưa một viên thiếu tá ra phỏng vấn tôi. “Lấy loon đè người” là một câu nói phổ biến trong quân đội Miền Nam trước đây, trong “Quân đội Quốc gia” hay trong “Quân đội Việt Nam Cộng hòa” thì cũng rứa thôi.

            Trước sự hiện diện của luật sư Cao Ủy, viên thiếu tá Mã Lai hỏi lại lý lịch tôi, như để xác minh những gì tôi đã khai khi mới tới đảo như: Nơi học hành, nơi dạy học. Thời gian ở quân đội và cấp bậc, công việc cũng như chức vụ, cấp bậc, và công việc khi làm Chỉ Huy trưởng Cảnh Sát và “tù cải tạo” 7 năm 10 ngày (kể cả những ngày nhuận trong tháng 2 Dương lịch)

            Trong phần cuối của lý lịch, tôi giải thích với viên thiếu tá, với trách nhiệm là Cảnh Sát, thì “Thi hành Luật pháp”, “Bảo vệ Luật pháp”. Đó là nhiệm vụ của người Cảnh sát. Công việc đó có thể thích ứng với tình hình Mã Lai hiện nay, nhưng khi lực lượng du kích của Rashid và Trần Bình còn hoạt động, thì nhiệm vụ của người Cảnh Sát có khác đi, nghĩa là họ có nhiệm vụ phát hiện “hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, “giải hóa” chúng. “Giải hóa” có nghĩa là vô hiệu hóa bằng cách phục kích giết chết hay bắt sống, đưa ra tòa xét xử tội “phá rối trị an.”

Nhiệm vụ của tôi khi làm chỉ huy trưởng Cảnh Sát cũng giống như nhiệm vụ Cảnh Sát Mã Lai khi du kích Cộng Sản Mã Lai còn hoạt động, chưa bị triệt tiêu. Nói cho đúng, tiêu diệt bọn “phá rối trị an” tức là triệt hạ bọn giao liên, du kích địa phương là quan trọng nhứt.

            Viên thiếu tá đồng ý những gì tôi nói, và bỗng hỏi tôi:

– “Ông cũng biết Trần Bình (Chin Peng – (1) và Rashid?”

– “Trần Bình là người Mã Lai gốc Tầu, Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Mã Lai. Tuy nhiên, sợ dân chúng Mã Lai không ưa một anh Ba Tầu (tôi giải thích chữ Ba Tầu theo nghĩa tiếng Việt khiến viên thiếu tá cười) nên Cộng Sản Mã phải dựng Rashid Maiden làm bình phong.”

Thật ra, đây là cái “may” cho tôi. Khi vừa tới đảo cũng như sau nầy khi thôi làm việc ở phòng “Phát triển Cộng đồng”,  tôi thường tới đọc sách báo ở Thư viện Bidong trên đảo. Đó là một cái thư viện nhỏ, cái nhà vòm, lạ mắt và đáng yêu. Sách báo tuy không nhiều nhưng được cập nhật, nhất là báo Times, Newsweek, Asiaweek… không cũ lắm, chỉ mới ra vài tuần. Sau nầy, khi ông Cao ủy Allen đi Mỹ về, ông mang theo một số sách, nhạc do ông xin được ở các nhà sách hay nhà xuất bản tiếng Việt ở Mỹ, trong số có nhiều sách hay. Trong khi đó, những tạp chí như “Đường Sống”, “Lửa Việt” (xuất bản ơ Canada) thì vẫn thường có, do nhà báo gởi thẳng tới cho Thư viện. Riêng tôi, được anh Ngô Vương Toại, quen biết từ lâu, khi hay tin tôi ở trại tỵ nạn Bidong, thường gởi báo “Diễn Đàn Tự Do” của Toại choi tôi đọc.

Sau nầy, khi có phong trào đấu tranh chống thanh lọc, báo chí gởi tới đều bị cấm chỉ, dù gởi cho thư viện, văn phòng trại hay cho cá nhân.

Trước 1975, tôi nhớ lờ mờ đã đọc đâu đó về lãnh tụ Cộng Sản Thái Lan là một người Thái gốc Việt, do ông Thầu Chín (bí danh lúc đó của Hồ Chí Minh đang hoạt động ở Thái Lan) dựng nên, một vài hiểu biết rời rạc, không sâu về du kích Hukb ở Phi. Tổng thống Phi Magsaysay trong một chuyến bay tìm cách giải quyết vấn đề du kích ở Phi thì bị tai nạn và qua đời. (2)

Còn như trường hợp Trần Bình và Rashid Maiden, tôi chỉ mới đọc trên báo Mỹ, ở thư viện Bidong, khi hai tên nầy xin buông khí giới, không chống lại chính phủ Mã Lai nữa.

Cũng để “phản kháng” cái việc “lấy loon đè người” mà tôi đã từng là nạn nhân của ông đại tá Huỳnh Thanh Sơn, và ông trung tá Ngô Tấn Đức mà tôi đã kể trong cuốn “Hương Tràm Trà Tiên” (Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng) nên tôi từ từ trình bày về phong trào du kích Cộng Sản Đông Nam Á, phát sinh từ phong trào du kích chống Nhựt, đầu đuôi như sau.

Tôi nói:

“Sau khi quân Nhựt chiếm Đông Dương và Đông Nam Á, phong trào chống Nhựt nổi lên ở nhiều nước, tại Singapor, Mã Lai, Phi Luật Tân… Họ có một mục đích chung: Chống Nhựt, ủng hộ Tầu, không phân biệt Tầu Tưởng hay Tầu Mao. Các phong trào du kích nầy, trong ý nghĩa vừa nói, đều do những người địa phương nhưng gốc Tầu lãnh đạo. Lai Teck (3) là lãnh tụ Cộng Sản vùng bán đảo Thái Lan, Mã Lai và Singapor. Trần Bình là người kế vị y. Ở Phi thì có phong trào Hukbalahap do Luis Taruc, Jose Lava lãnh đạo

“Bấy giờ Tầu Cộng hay Tầu Tưởng đều bị Nhựt đánh thua liểng xiểng, nên chẳng giúp gì được cho các phong trào du kích ở Đông Nam Á! Các đối phương của Nhựt như Mỹ, Anh có giúp đỡ cho phong trào nầy. Cũng như Hồ Chí Minh từng làm tình báo cho OSS (4), Trần Bình làm tình báo cho Anh vì trước khi bị Nhựt đánh đuổi khỏi Singapore và Mã Lai, hai nước nầy bị Anh cai trị.

Đến khi Nhựt đầu hàng, các phong trào nầy vẫn hoạt động và hướng về Tầu Cộng. Sau Thế giới Chiến tranh Thứ hai, Tầu Cộng hỗ trợ tối đa cho số du kích nầy, và chính họ cũng tự biến thành các đảng Cộng Sản, thành Lực lượng Du kích Cộng Sản địa phương.

Tình thế phức tạp vì lúc bấy giờ là sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai chấm dứt, các phong trào du kích chống Nhựt nói trên không được nắm chính quyền ở các quốc gia đó. Ngoại trừ phong trào Việt Minh cướp chính quyền ở Việt Nam.

Các phong trào du kích Mã Lai, Singapore, Phi không được tham gia chính phủ, trở thành lực lượng đối địch, chống phá chính quyền và được Trung Cộng hỗ trợ, nhất là sau năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông chiếm được lục địa Trung Hoa và đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan.

“Vì chiến lược Domino” bao vây Tầu Cộng, Phong trào Du kích các nước và chính phủ địa phương ở vào hai vị thế chống đối kịch liệt, sinh tử. Du kích thì được Tầu Cộng viện trợ, nuôi dưỡng, còn chính phủ các nước thì được Thế giới Tự Do viện trợ. Các nước nầy trở thành trận địa cho hai phe Tự Do và Cộng Sản đánh phá nhau. Có nơi, phe du kích Cộng Sản bị tiêu diệt như ở Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Phi. Ở Việt Nam thì Cộng Sản thắng lợi, nên tôi, hôm nay, mới có mặt… ở đây.

Nghe câu cuối, ai nấy đều cười.

Ông luật sư Cao Ủy ra khỏi phòng, ngồi hóng mát trong sân, và hỏi chuyện với vợ tôi.

Viên thiếu tá Mã Lai nói:

– “Luật sư chỉ cần xác nhận lý lịch. Chống chiến tranh du kích là việc của chúng ta.” Rồi ông ta tiếp tục hỏi:

– “Anh có biết tại sao Cộng Sản thắng lợi ở Đông Dương mà thất bại ở các nơi khác?”

– “Nó có hai nguyên tắc căn bản: Dân chúng và Tiếp vận.

Trước hết, tôi nói về tiếp vận. Tôi dẫn chứng tình hình cụ thể từng quốc gia một. Ví dụ Singapore. Đó là một “quốc gia thành phố”. Nó không có thôn quê, không có nơi để lập căn cứ. Bọn cán bộ Cộng Sản chỉ có thể ẩn náu tại các khu phố lao động. Việc ẩn náu ấy không thể lâu dài. Tụi nó chết ngắt là đương nhiên. Tên lãnh tụ Cộng Sản Singapore chạy trốn sang Anh. Trốn sang Anh mà không trốn qua Tầu Cộng, ông cũng thấy cái khuynh hướng của y như thế nào?

“Cộng Sản Mã Lai chẳng hạn. Tụi nó trốn trong rừng sâu, thiếu thốn đủ mọi phương tiện. Tầu Cộng thì xa quá, cô lập quá. Tầu Cộng không thể vượt biển đem hàng tiếp tế vào cho du kích Mã Lai được. Đường bộ thì Tầu cũng không mang khí giới cho du kích Trần Bình qua ngã Thái Lan được.

“Tình hình ở Phi cũng vậy. Tầu vận chuyển hàng viện trợ cho Hukb bằng cách nào, khi Phi là một quần đảo nằm xa ngoài biển.

“Việt Nam thì khác! Vì biên giới liền nhau, sau lưng bọn du kích miền Nam thì có Bắc Việt. Bắc Việt tiếp tế vũ khí, lương thực và cả quân đội Bắc Việt xâm nhập. Sau lưng Bắc Việt thì có cả Tầu Cộng và Liên xô. Quân đội chúng tôi không thể ngăn chận được con đường tiếp vận nầy, con đường được gọi là “Đường mòn Hồ Chí Minh”, và con đường ngang qua Kampuchia của Sihanouk. Đó là một trong hai yếu tố quan trọng khiến miền Nam chúng tôi thua trận?”

– “Còn yếu tố thứ hai?” Viên thiếu tá hỏi.

– “Thứ hai là nhân dân. “Chiến tranh du kích” là “chiến tranh nhân dân”, không phải chiến tranh súng đạn, trận địa. Hễ không được dân chúng ủng hộ, không xây dựng được “hạ tầng cơ sở” thì Dziệt Cộng không ngóc đầu lên được. Tôi lấy ví dụ: Dân chúng Mã Lai, Indonesia phần đông theo đạo Hồi, làm sao họ chấp nhận chủ nghĩa Cộng Sản. Vậy thì Trần Bình phải ra hàng, nếu không muốn thành “con xà niên”. “Con xà niên” là con người sống lâu trong rừng, cách biệt với thế giới loài người, tự nó sẽ biến thành con thú. Ông biết Aidit chớ gì? Y bị giết cùng với nửa triệu đảng viên vì dân tộc Indonesia đa số là Hồi giáo, không theo Cộng được.”

– “Vậy ở nước ông, dân chúng theo Cộng Sản?”

– “Không theo Cộng Sản. Họ bị Cộng Sản lừa gạt. Dân tộc Việt Nam bị người Pháp cai trị một trăm năm, nên ý thức dân tộc độc lập rất cao. Lợi dụng tình cảm đó, Việt Cộng núp dưới cái áo “Dân tộc Chủ nghĩa”. Những ai yêu dân tộc hơn yêu tôn giáo của mình thì rất dễ bị mắc lừa. Những nơi người ta yêu tôn giáo của họ hơn yêu dân tộc thì Việt Cộng không xây dựng được hạ tầng cơ sở, không xây dựng lực lượng du kích”

– “Tôi muốn ông nói rõ hơn!” Viên thiếu ta yêu cầu.

– “Những vùng dân chúng theo đạo Thiên Chúa, nhất là những người theo đạo Thiên Chúa di cư năm 1954, họ có kinh nghiệm đắng cay về sự dối trá và độc ác của Cộng Sản thì Việt Cộng hoàn toàn chịu thua. Ở những vùng dân chúng theo đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo cũng tương tự như vậy, Việt Cộng cũng không hoạt động được. Đừng để cho kẻ thù xây dựng được hạ tầng cơ sở. Chúng nó mà làm được thì khó có thể tiêu diệt được chúng. Đó là theo nhận xét của tôi.” Tôi nói.

– “Có phải ông muốn nói tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc giải trừ Cộng Sản?” Viên thiếu tá hỏi.

– “Đạo Hồi, đạo Thiên Chúa có xung đột nhau không? Có lẽ ông biết các cuộc “Thập Tự Chinh”, nó tàn ác như thế nào! Có lẽ ông biết “Richard Coeur de Lion” tên nầy tàn ác có hạng. Nhưng không chỉ riêng mình y. Nhiều tên tàn ác khác nữa, và bọn chúng được phong thánh đấy. Các cuộc thập tự chinh nầy thường có giáo chủ La Mã đứng đằng sau chỉ huy, hỗ trợ.

“Cộng Sản cũng là một tôn giáo. Bọn chúng không thể chấp nhận sự tồn tại của các tôn giáo khác. Những người muốn giữ tôn giáo của mình chấp nhận tôn giáo khác thế nào được, chấp nhận Cộng Sản thế nào được?”

– “Tại sao Cộng Sản thắng lợi ở miền Nam?” Viên thiếu tá hỏi.

– “Làm sao tôi có thể trình bày với ông một vấn đề to lớn như thế nầy bị giới hạn trong một cuộc phỏng vấn thanh lọc? Tuy nhiên, điều căn bản đây là một cuộc chiến tranh du kích. Hạ tầng cơ sở của chiến tranh du kích là ấp, xóm ở thôn quê chứ không phải ở thủ đô, ở các thành phố. Cộng Sản nắm lấy thôn quê trước, rồi “lấy thôn quê bao vây thành thị” như chiến lược của Mao Trạch Đông.” Tôi trình bày.

– “Chính phủ miền Nam không có chiến lược nắm giữ nông thôn.” Viên thiếu tá lại hỏi.

– “Nói có cũng không đúng. Nói không cũng sai nốt.” Tôi trả lời.

– “Tôi muốn ông trình bày rõ hơn.”

– “Như thế nầy. Thời Đệ nhứt Cộng hòa, các khu dinh điền, khu trù mật, đều là những vị trí chiến lược. Rút kinh nghiệm từ cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập các khu dinh điền, khu trù mật ở những địa điểm có tính cách chiến lược quân sự, gây khó khăn cho Dziệt Cộng trong việc thành lập các mật khu, các con đường di chuyển trong cuộc chiến tranh vừa qua. Đó là một thành công.

Cũng trong thời kỳ đó, ông Ngô Đình Nhu, cố vấn của tổng thống Diệm, đưa ra “Quốc sách Ấp Chiến lược”. Trên căn bản thì đúng, trong thực tế thì hỏng. Tôi nói rõ hơn. Nhìn thấy vai trò chiến lược của “ấp” là có nhận xét sâu sắc, tinh tế và căn bản. “Ấp” là đơn vị nhỏ nhất trong tổ chức làng xã Việt Nam. Xây dựng ấp là coi như có thể nắm được ấp. Nắm được “ấp” thì Dziệt Cộng không ngo ngoe gì được. Nhưng khi đem chiến lược đó ra thực hiện thì lại hỏng.”

– “Hỏng như thế nào?” Viên thiếu ta hỏi tôi.

– “Có nhiều lý do. Thứ nhất là cán bộ thi hành chính sách. Họ không nắm rõ chính sách của chánh phủ, không đủ khả năng, không có trách nhiệm. Những ông quận trưởng cứ lùa dân vào sống trong những hàng rào kẽm gai là coi như hoàn thành công việc, báo cáo thực hiện xong “Ấp chiến lược”, mặc dù họ có biết hay không làm như thế là gây khó khăn, khôn khổ cho dân chúng.

Người dân quê vốn sinh sống tự do, làm nhà hai bên bờ sông, bên bờ kinh rạch, có nước ngọt, đi lại dễ dàng bằng ghe xuồng, giờ giấc làm ruộng, đánh cá theo mùa. Lùa dân chúng vào trong “ấp chiến lược”, giờ giấc mở cổng, đóng cổng do nhà nước ấn định, trở ngại cho việc làm ăn sinh hoạt. Những chủ trương hay ho như mở trường học, trạm y tế, đường giao thông cho ấp chiến lược… thì lại không làm hay không làm được. Người dân vào ở trong ấp chiến lược không được giúp đỡ cái gì thêm mà lại gặp nhiều khó khăn thêm ra, như ở trong trại tù. Thành ra, chính phủ chủ trương “tát nước bắt cá” thì cá lại chui vào trong nước. Dziệt Cộng từ trong ấp chiến lược bắn súng ra chớ không phải từ ngoài tấn công vào.

“Còn một điều nữa, rất quan trọng. Cả hai nền Đệ nhứt và Đệ nhị Cộng hòa đều vi phạm. Đó là tính cách tự trị truyền thống của làng xã Việt Nam. Ngày xưa, vua chỉ cắt cử người của vua đến huyện, phủ là chót hết. Tri phủ, tri huyện là do nhà vua cắt cử. Còn trong mỗi làng, mỗi xã, chức sắc trong làng đều do dân bầu, mặc dầu việc bầu cử còn hạn chế ở một số người được đi bầu, nhưng nhà vua không can thiệp, không cắt đặt người của vua vào làng xã.

Thay vì giúp dân chúng phương tiện để tự xây dựng làng xã của họ thì chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, lại cho người của chính phủ nắm giữ một số chức việc ở làng, xã, sinh ra nạn nhũng nhiểu, bắt chẹt, tham ô…

“Rõ nhất là thời Đệ nhị Cộng hòa. Xã trưởng thì do dân bầu, nhưng phó xã trưởng an ninh là sĩ quan của chính phủ. Như thế thì tính cách tự trị truyền thống của làng xã Việt Nam không còn.

“Khi người Mỹ đi sâu vào chiến tranh Việt Nam, họ quan tâm đặc biệt đến nông thôn Việt Nam. Họ giúp chính phủ miền Nam thành lập các đoàn “Bình định Nông thôn”, sau đổi là “Xây dựng Nông thôn” hoạt động tại xã ấp, lại huấn luyện các viên chức xã ấp, nâng cao tinh thần và khả năng xây dựng thôn quê và chống Cộng. Dziệt Cộng rất thù ghét và rất sợ hàng cán bộ nầy, chứng tỏ sự hoạt động hữu hiệu của họ. Tuy nhiên, chương trình nầy không kéo dài. Vào cuối thập niên 1960, đầu 70 chương trình nầy càng ngày càng thu nhỏ lại, giảm nhân sự, bớt phuơng tiện, nên không còn hoạt động hữu hiệu như trước. Quân đội Mỹ vẫn tiếp tục dùng xe tăng và đại pháo hành quân tiêu diệt Dziệt Cộng.

“Chiến lược nầy, có tên gọi là “Tìm và diệt” làm tôi nhớ tới một câu nói của Sir Robert Thompson (5), một chuyên gia về chiến tranh du kích, là thầy của các ông, mà cũng là thầy của chúng tôi nữa, phải không?” (Tôi nhìn viên thiếu tá, ông ta nhìn lại tôi và cười), Sir Robert nói rằng “Cuộc chiến tranh có thể thắng bằng tim óc và chân trần”

Viên thiếu ta hỏi tôi:

– “Ông cũng có biết về Sir Robert?”

– “Về học tập trong ngành Cảnh Sát, tôi không thấy huấn luyện viên hay tài liệu nào dạy về Sir Robert, nhưng khi còn làm thầy giáo, tôi có đọc một số sách báo nói về ông ta. Ông là một sĩ quan không quân, chuyên viên thượng thặng về chiến tranh du kích, thành công ở Mã Lai, ở Phi luật tân. Thủ tướng Anh, tổng thống Mỹ phải lắng nghe ông ta nói.

“Tôi cũng có đọc một ít sách báo về tướng Lansdale (6), cũng là một chuyên gia chống du kích Cộng Sản. Công lao đoàn kết các lực lượng du kích chống Pháp để ủng hộ tổng thống Diệm, công lao xây dựng chế độ Đệ nhứt Cộng hòa của Nam Việt Nam là của tướng Lansdale.”

– “Theo ông thì người dân quê Việt Nam ủng hộ Cộng Sản?” Viên thiếu tá hỏi.

– “Thật ra, vấn đề nầy khác phức tạp.” Tôi nói. “Cái vỏ bọc “Chủ nghĩa Dân tộc” không lừa gạt được người theo đạo Thiên Chúa, người theo đạo Cao Đài, người theo Phật giáo Hòa Hảo là vì những tôn giáo nầy có những lý do chống Cộng đặc biệt của họ. Tôi không có thì giờ giải thích dông dài. Riêng về Phật giáo, nói chung, là tôn giáo của đa số người Việt, là một tôn giáo dính liền với văn hóa và lịch sử tồn tại của người Việt Nam, nhứt là dính liền với số phận dân tộc Việt qua những gian khổ, đàn áp và giết chóc của thực dân Pháp khi bọn Pháp xâm lăng Việt Nam, nên họ dễ bị mắc bẫy Cộng Sản vì cái vỏ bọc “Chủ nghĩa Dân tộc.”

– “Ông giải thích thêm được không?” Viên thiếu tá yêu cầu

– “Nó như thế nầy.” Tôi nói. “Văn hóa dân tộc Mã Lai có nền tảng trên đạo Hồi. Phải vậy không? (Viên thiếu tá gật đầu đồng ý). Khi người Anh xâm lăng Mã Lai, những giáo sĩ Thiên chúa giáo có liên kết với thực dân Anh đàn áp dân tộc Mã Lai để truyền dạo Thiên Chúa hay không? Nếu có, thì khi người Mã Lai chống lại đế quốc Anh, có chống lại đạo Thiên Chúa hay không?

Ở Việt Nam thì có đấy. Thực dân Pháp liên kết với các giáo sĩ Thiên Chúa giáo để xâm lăng Việt Nam. Đó là lý do khiến người dân quê Việt Nam nổi lên ủng hộ vua, trong các phong trào được gọi là “Phong trào Cần vương”, và phong trào tiếp sau đó, gọi là “Phong trào Văn thân.” “Bình Tây sát tả” là mục đích của phong trào nầy. Dĩ nhiên, người Pháp thắng lợi, các phong trào nầy bị đàn áp khốc liệt. Có nhiều làng, có nhiều người phải bỏ đạo Phật, theo đạo Thiên Chúa để được các giáo sĩ Thiên Chúa giáo che chở. Do đó, điểm căn bản của người dân quê yêu nước chính là ở chỗ đó. Đạo Phật ở Việt Nam cũng như đạo Hồi ở Mã Lai có chung số phận với dân tộc của họ. Như vậy, ông có thể hiểu rất rõ tại sao người dân quê cũng như các tu sĩ Phật giáo dễ bị Dziệt Cộng lợi dụng lòng yêu nước của họ.”

Viên thiếu tá nói:

– “Ở Mã Lai có khác, các giáo sĩ đạo Thiên Chúa không thể buộc dân tộc chúng tôi từ bỏ đạo Hồi được.”

Tôi nói:

– “Theo tôi hiểu thì đó là điểm căn bản của mỗi tôn giáo. Đạo Thiên Chúa là một tôn giáo “động”, Hồi giáo cũng là một tôn giáo “động”, Cộng Sản cũng là một tôn giáo “động”. Sự va chạm giữa các tôn giáo nầy rất kịch liệt, một mất một còn, như trong “thập tự chinh” vậy.

Phật giáo là một tôn giáo “tĩnh”, cam phận, chịu thua thiệt. Phật giáo chỉ phát triển ở những nơi chưa có tôn giáo, hay với những tôn giáo không gây va chạm như Lão giáo, Nho giáo… Từ đó, trong lòng người Việt Nam, nỗi đau khổ mất nước, mất đạo là một nỗi đau triền miên, tiếp nối từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Nếu không hiểu hoàn cảnh lịch sử bị Pháp xâm lăng của người Việt Nam, không hiểu tâm trạng của người Việt Nam bị đàn áp dân tộc và tôn giáo thì người ta sẽ có quan điểm rất phiến diện, có những cái nhìn rất lệch lạc về đạo Phật, về người dân quê Việt Nam, cho rằng họ ưa Cộng Sản.”

– “Bây giờ thì sao?” Viên thiếu tá lại hỏi:

– “Bây giờ thì dưới chế độ hiện nay ở Việt Nam, người mù cũng sáng mắt, có nghĩa là người ta đã thấy rõ bộ mặt thật của Cọng Sản.”

Viên thiếu tá tỏ lời khen ngợi tôi:

– “Cuộc phỏng vấn hôm nay rất lý thú. Ông là người hiểu biết về chống du kích Cộng Sản, có kinh nghiệm về công việc của ông. Ông từng nói chuyện với ai về công việc của ông chưa? Ông có khai báo với Cộng Sản khi ông ở tù không?”

– “Nếu tôi đã khai với Dziệt Cộng giống như hôm nay thì có thể tôi sẽ không được về sớm, chỉ hơn 7 năm. Tuy nhiên, tôi vẫn thường ấp ủ, suy nghĩ về những công việc tôi đã làm trong quá khứ, công việc dạy về văn chương Việt Nam cho học trò của tôi và công việc “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản” khi tôi làm Cảnh sát trưởng.

Cả hai công việc nầy, tôi đang viết thành sách. Về môn văn chương tôi đã dạy, là môn Văn chương Bình dân Việt Nam, tôi đang viết. Xong, tôi sẽ dịch ra tiếng Anh, để cho trẻ con Việt Nam lớn lên ở Mỹ, không có cơ hội học tiếng Việt, sẽ biết về văn chương Việt Nam qua tiếng Anh, để chúng nó giữ gìn văn hóa ấy.

Còn về công việc chống Cộng Sản, tôi cũng viết một cuốn sách, bằng tiếng Việt, nhan đề là “Chiến tranh Du kích, Chiến tranh Nhân dân”. Tôi viết bằng tiếng Việt, thuận tiện cho tôi. Nếu có dịp, tôi sẽ dịch ra tiếng Anh.”

– “Ông có thể cho tôi coi cuốn sách viết về du kích ông đang viết được không?” Viên thiếu ta yêu cầu.

Tôi nói:

– “Tôi không mang theo ở đây. Để tôi về phòng lấy.”

Sau đó, tôi về phòng lấy bản thảo cuốn sách đang viết lên. Viên thiếu tá cùng cô Mai thông dịch viên cúi xuống xem. Thỉnh thoảng, cô Mai dịch ra tiếng Anh những tiêu đề từng chương trong cuốn sách. Cuối cùng, viên thiếu ta nói:

– “Một việc tôi chưa từng gặp ở người tỵ nạn. Tôi rất vui. Tôi hy vọng ông sẽ sớm hoàn tất cuốn sách nầy. Nhiều người sẽ cần đến nó, không chỉ trong chiến tranh du kích chống Cộng Sản mà cả trong những cuộc chiến tranh du kích khác cũng vậy. Về căn bản, không khác nhau bao nhiêu.”

Thế rồi chúng tôi bắt tay nhau, hoan hỉ.

Tôi thầm nghĩ: “Khó mà hỏng thanh lọc.”

hoànglonghải

(1) Trần Bình (Chin Peng), sinh năm 1924, lãnh tụ đảng Cộng Sản Mã Lai, do Cộng Sản Tầu dựng nên, hỗ trợ… Nguyên y là đàn em của Lai Teck (xem tiếp ghi chú số 3 ở dưới). Trần Bình lãnh đạo du kích Cộng Sản cho đến khi đầu hàng (1989), buông vũ khí về sinh sống ở miền Nam Thái Lan, sát biên giới Mã Lai.

(2) Ban đầu, Hukbalahap, thường gọi là du kích Hukb, là một phong trào du kích chống Nhựt, khi Nhựt chiếm Phi trong thế giới Chiến tranh Thế giới thứ hai. Phần đông là nông dân ở đảo Lữ Tống (Luzon), lãnh tụ của họ là Luis Taruc, một phần tử Cộng Sản. Phong trào du kích nầy chiếm cứ nhiều khu vực, lập chính quyền địa phương và hoạt động chống Nhựt. Sau khi Nhựt đầu hàng, du kích Hukb vẫn tiếp tục hoạt động và có nhiều hành động thổ phỉ. Dân chúng lên án bọn du kích Hukb, trong khi chúng vẫn tự xưng là “Quân đội Giải phóng Nhân dân”. Năm 1955, du kích Hukb bị quân đội chính phủ dưới quyền tổng thống Magsaysay đánh bại.

(3) Lai Teck, còn gọi là Lai Te, Loi Teck, dịch từ tên Hán Việt. Y là một người Việt lai Tầu, sinh trưởng ở vùng Đông Bắc Thái Lan, nơi có nhiều người Việt cư ngụ. Khi thầu Chín (Hồ Chí Minh) hoạt dộng ở vùng nầy, đã chọn y làm lãnh tụ cho phong trào Cộng Sản ở Thái Lan và bán đảo Mã Lai. Tuy nhiên, Lai Teck lại là một nhân viên tình báo bí mật của Pháp. Y lãnh đạo du kích kháng Nhựt, sau trở thành du kích Cộng Sản. Sợ bị tiết lộ, y rời bỏ phong trào nầy, Trần Bình (Chin Peng) thay y làm lãnh tụ phong trào du kích ở Mã Lai. Sau khi trốn qua Hồng Kông, Lai Teck trở về cư trú ở Thái Lan, không còn hoạt động gì.

(4) OSS viết tắt của mấy chữ Office of Strategic Services, cơ quan tình báo của Mỹ trong thế giới chiến tranh thứ hai, tiền thân của CIA ngày nay. OSS có văn phòng hoạt động ở vùng Hoa Nam và thượng du Bắc Việt. Khi hoạt động ở vùng nầy, Hồ Chí Minh từng cộng tác với OSS, nhận trợ cấp tiền bạc và vũ khí của Mỹ, liên hệ chặt chẽ với nhóm OSS nầy, đứng đầu là Chennault. Theo Hoàng Văn Chì trong cuốn “Từ Thực dân đến Cộng sản” thì Hồ Chí Minh cũng như Võ Nguyên Giáp có theo học một khóa về du kích chiến, do thiếu tá Smith huấn luyện. Viên thiếu tá nầy cũng thuộc trong nhóm OSS của Chennault.

Trích đoạn:

“Các học giả khác thì nhấn mạnh đến vai trò của người Việt Nam trong GBT. Theo Cecil B. Currey, từ năm 1942 các cán bộ Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng… đã cung cấp những thông tin hữu ích cho hoạt động tình báo của Đồng Minh – nhóm GBT. Phóng viên Robert Shaplen có quan điểm hơi khác về sự hợp tác này. Ông nhấn mạnh hợp tác của GBT với Việt Minh nhiều hơn là ngược lại: “Đến với ông (Hồ Chí Minh) là đại diện của nhóm dân sự các cựu doanh nghiệp Mỹ ở Đông Dương đã có thời cộng tác với người của ông”.

Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp cùng một số thành viên nhóm tình báo “Con Nai” tại Hà Nội năm 1945.

Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp cùng một số thành viên nhóm tình báo “Con Nai” tại Hà Nội năm 1945.

(5) Robert Thompson thuộc Không quân Hoàng gia Anh, từng hoạt động ở Miến Điện trong Thế giới Chiến tranh Thứ hai. Từ năm 1950, hoạt động ở Mã Lai, trong vai trò lãnh đạo công cuộc diệt trừ du kích Mã Lai. Ông thành công và nổi tiếng từ đó. Theo một số giáo sư đại học ở Saigon, quốc sách “Ấp chiến lược” của ông Ngô Đình Nhu được gợi ý từ “Strategic hamlets initiative” của Sir Robert thompson.

(6) Lansdale: Trong thế giới Chiến tranh thứ hai, ông phục vụ trong ngành tình báo (OSS). Khi chiến tranh chấm dứt, ông phục vụ tại bộ chỉ huy Tây Thái Bình Dương của Không quân Mỹ, cũng trong ngành tình báo, giúp xây dựng ngành tình báo cho quân đội Phi Luật Tân, giúp quân đội Phi tiêu diệt loạn quân Hukbalahap. Khi ông Magsaysay làm bộ trưởng quốc phòng Phi, Lansdale giúp đỡ rất đắc lực, và hai người trở nên bạn thân. Lansdale giúp quân đội Phi trong các công tác chiến tranh tâm lý, các hoạt động xã hội và phục hồi đời sống dân sự cho loạn quân Hukb sau khi họ ra hàng.

            Năm 1953, Lansdale qua Việt Nam phục vụ trong phái bộ quân sự của tướng O’Daniel, cố vấn cho quân đội Pháp chống du kích Việt Minh. Giữa thập niên 1950, Lansdale làm việc ở Saigon, giúp đỡ việc xây dựng và phát triển Quân đội Quốc Gia Việt Nam (tiền thân Quân đội VNCH), vận động các lực lượng du kích không Cộng Sản chống Pháp về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm và giúp tổng thống Ngô Đình Diệm trong việc ổn định gần một triệu người di cư do hậu quả của hiệp định đình chiến Genève 1954 về Việt Nam, xây dựng nền Đệ nhứt Cộng Hòa. Chính ông là người trực tiếp móc nối tướng Trình Minh Thế ở Tây Ninh về hợp tác với thủ tướng (chức vụ hồi đó) Ngô Đình Diệm, và cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955. Tuy nhiên cũng chính vì sự gian lận trong cuộc trưng cầu dân ý nầy mà Lansdale có mối bất hòa với ông Ngô Đình Diệm. Mối bất hòa càng sâu sắc khi tổng thống Diệm dựng nên một chế độ độc tài ở miền Nam VN.

            Sau đó, Lansdale rời Việt Nam. Từ năm 1961, Lansdale lại góp phần trong các chiến dịch chống lại Phidel Castro ở Cuba.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: