Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (16) – chùa tỵ nạn

1“Hương sầu khói lạnh nằm ngơ ngác
Vách chắn đêm sương đứng dãi dầu”
(Hàn Mặc Tử – Chùa hoang)

            Gọi cho đúng thì phải nói là chùa của người tỵ nạn, của người Việt, dĩ nhiên, và một số không ít người Tầu, và cả người Miên. Tôi không thấy người Lào mấy năm ở trong các trại tỵ nạn Mã Lai, nói chung. Còn như Phật, Chúa thì sợ chi Dziệt Cộng mà phải tỵ nạn!

            Ngày tôi tới trại tỵ nạn Poulau Bidong, chùa Phật trên đồi tôn giáo không biết có thầy nào không, dù là thầy cúng, thầy chùa hay thầy tu. Tôi không đi chùa nên không rõ.

            Hôm thầy Thích Nguyên Đạt vượt biên Bidong, chờ làm thủ tục nhập trại ở phòng SB, thái độ của anh Nguyễn Dương Hảo làm tôi cảm động. Anh là người đặc biệt tôn kính người tu hành, dù thầy Nguyên Đạt là một nhà tu hành đạo Phật, còn kỹ sư Hảo là người theo đạo Thiên Chúa.

Tôn kính người tu hành có lẽ là đặc điểm của người Huế.

            Đoàn người tỵ nạn thuộc ghe mang số MC 504, từ bên Task Force chuyển qua. Tất cả đều ngồi bệt trên cái sàn gỗ trước phòng SB. Sàn có mái che.

            Nhân viên SB thì ngồi trên những cái băng dài, đối diện với người tỵ nạn. Thầy Nguyên Đạt mặc áo tu mầu nâu, gồi chung trong đám người tỵ nạn ấy. Cái áo nâu của Thầy gây xúc động cho tôi không ít. Tôi đi chùa từ nhỏ. Hình ảnh sư cụ, các sư bá, sư thúc và các chú tiểu, chú điệu chùa Phật Lồi (1) với những chiếc áo nâu cũ, bạc mầu, có miếng vá không tiệp mầu ở cùi chõ đã in đậm vào nơi sâu thẳm tâm hồn tôi. Cái áo ấy biểu tượng cho sự nghèo khó, khổ hạnh của các bậc chân tu, biểu tượng cho đời sống đạo hạnh. Mầu nâu cũng là mầu dân tộc, của người nông dân Việt Nam, của miền trồng lúa nước. Cày, cấy, gieo, gặt khi nào người nông dân Viêt Nam cũng chỉ có chiếc áo nâu trên người. Trong ý nghĩa màu sắc như thế, khó phủ nhân tính cách đạo pháp và dân tộc là một.

Thấy cảnh Thầy ngồi chung với mọi người như vậy,

Hảo nói với tôi:

– “Anh nói với trưởng phòng mời thầy vô trong phòng

ngồi đi. Để thầy ngồi chung với họ, tôi thấy tội nghiệp cho thầy quá!

Tôi vốn không “gần gủi” với trưởng hay phó phòng

nên tôi nói lại ý của Hảo với ông Cao Dai là người quen thân. Cựu thiếu tá Cao Dai nghe lời tôi vội vã đi tìm ông cựu thiếu tá Trần Đình Khánh. Rồi cũng chẳng có việc chi xảy ra cả.

Chờ hơi lâu, tôi nói với Hảo:

            – “Thôi để chờ Khối Xã Hội đến phát đồ xong, mình sẽ mời thầy vô trong kia.

            Một lúc thì có mấy em trai và gái làm việc ở Khối Xã Hội đến phát quần áo, khăn, giép và muỗng đũa… cho đồng bào. Trong số nầy có Mai Ly, quê ở Quận 10, bạn với các con tôi khi cô ta còn ở Saigon. Tôi nói với cô ấy:

            – “Con hỏi kỹ giùm vị sư đang ngồi kia, xem Thầy cần gì phát riêng cho Thầy. Quần áo tây chắc Thầy không dùng được đâu!”

            Cô gái tới hỏi thăm thầy, rất cung kính. Lát sau, nó đến nói với tôi:

            – “Thưa bác! Thầy bảo cứ phát cho thầy như mọi người. Thầy hỏi ở đây có chùa không. Thầy xin lên chùa ở.”

Vì vậy nên sau đó, khi khai báo xong, ông Cao Dai dẫn Thầy lên chùa Phật trên đồi tôn giáo.

Phong thái của thầy rất tự nhiên, nhẹ nhàng, thanh thản, dù Thầy vừa vượt qua một chặng đường vượt biên nhiều gian khổ và nguy hiểm, mệt nhọc. Tác phong Thầy đúng là của người tu hành đáng kính, mặc dầu Thầy còn trẻ, cũng chưa tới bốn mươi.

Thầy Nguyên Đạt đến đảo sau ngày “đóng cửa đảo” (cut off date) nên Thầy cũng phải chờ thanh lọc như mọi người. Tuy nhiên, người ta tin chắc, là ngưòi tu hành, Thầy cũng dễ “đậu” hơn mọi người khác.

Biết mình sẽ chờ đợi lâu mới được định cư, Thầy chăm sóc việc tu, việc chùa kỹ lưỡng hơn các sư tới đảo trước kia, chỉ thời gian ngắn, các thầy đã rời trại tỵ nạn rồi!

Tết, Thầy tổ chức lễ bái như thường lệ, lễ cầu siêu cho những người chết oan trên đường vượt biển và cầu an cho đồng bào đang sinh sống trên đảo, tai qua nạn khỏi, được “đậu” thanh lọc, v.v…

Buổi tối 30 tết, đồng bào đi chùa đông lắm. Con đường giốc lên xuống đồi tôn giáo, người đông nghẹt, khó tìm lối đi dễ dàng. Nhà tôi mua sẵn một ít trái cây, lên cúng ở tượng đài Quán Thế Âm Bồ Tát trước sân chùa, chớ không vào chùa. Tôi vốn không thích những nơi đông đảo. Nhà tôi thì không đi một mình bao giờ.

Khi nhà tôi đặt hoa quả lên trước bàn thờ xong, thắp nhang lạy. Cô ấy vừa cúi xuống lạy, xong, ngó lên bỗng thấy… mất mấy trái táo Tây. Nhà tôi hốt hoảng: “Đứa nào ăn cắp rồi!” Xong, quay qua hỏi tôi: “Anh thấy đứa nào không?” Tôi cười: “Có thấy gì đâu, thằng “mai-no” nào “chớp” nhanh thiệt!” Tôi vừa trả lời, hơi mỉm cười bởi vì thấy cảnh mất cắp trái cây khá buồn cười. Người trong trại đã nói với nhau “Bọn “mai-no” của ông Bill phá lắm.” Ông Bill là ông cao ủy đặc trách coi sóc những đứa bé vượt biên mà không có cha mẹ hay thân nhân đi cùng.

Tôi chợt nhớ tới hơn một chục năm trước, tôi đã xem một bức hí họa trong báo Phong Hóa Ngày Nay đã cũ, xuất bản trước năm 1945, ở nhà giáo sư Lê Hữu Mục, khi tôi tới thăm hai ông bà thầy giáo cũ của tôi. Tranh vẽ một bà vừa cúi xuống lạy, miệng niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ…” thì vừa ngửng lên thấy có đứa bé đang ăn cắp trái cây, bà ta vừa niệm tiếp “Bồ… tát” và tiện tay “tát” cho thằng bé một cái đau.

Nhà tôi không thấy đứa bé nào ăn cắp trái cây. Thằng bé nào đó “hành nghề nhanh như chớp”, tôi đứng bên cạnh mà không thấy gì cả. Vã chăng, nếu nhà tôi có kịp thấy thằng bé ăn cắp, chưa chắc nhà tôi có thể “Bồ… tát” thằng bé một “tát” tai như trong tranh hí họa.

Qua hè năm sau, nhân dịp lễ Phật Đản, Thầy Nguyên

Đạt dự trù tổ chức rước tượng Phật quanh đảo, qua từng khu A, B, C, D…Tới đâu làm lễ tới đó, cầu cho đồng bào vượt khó khăn khi thanh lọc. Đồng bào ai biết thì hoan hô dự tính của Thầy.

Tôi không mấy khi đi chùa nên không biết việc nầy. Không hiểu tại sao Nguyễn Dương Hảo biết dự tính

của thầy, nói lại cho tôi hay.

Tôi nói:

– “Điều nầy sẽ gặp trở ngại đây. Ông Kỳ trưởng Khối Vệ Sinh mới cho tôi hay, Cao Ủy Liên Hợp Quốc vừa cấp cho trại hai trăm ngàn đô-la để sửa chữa và xây mới thêm các nhà vệ sinh cho các khu. Ông Kỳ cũng nói rằng vì ngân khoản không đủ, nên thay vì hệ thống ống dẫn phân từ các nhà vệ sinh ra ngoài biển phải đi chìm dưới đất, thì phải chạy ngang qua đầu người, đặc biệt ở Khu C, gần đồi tôn giáo. Rước tượng Phật đi, gặp những ống cống đó, làm sao qua được. Không lý đi lòn dưới ống?

Việc đó, Hảo có trình bày lại với Thầy Nguyên Đạt. Khối Vệ Sinh cũng cho Thầy biết như thế. Hệ thống nầy hoàn tất sớm vì ông kỹ sư người Anh được Liên Hợp Quốc thuê thực hiện công trình nầy, muốn xong việc sớm, trước ngày lễ Phật Đản, để ông ta về lại nước Anh.

Cuối cùng, dự tính của Thầy không thực hiện được vì lý do hệ thống nước dẫn phân mới hoàn thành như tôi nói ở trên. Ai ai cũng tiếc.

Tuy nhiên, năm sau nữa, khi Thầy thanh lọc xong, được chuyển qua trại Sungei Beshi trên đất liền Mã Lai, nhờ địa thế khu vực chùa ở đây rộng rãi hơn, thầy Nguyên Đạt tổ chức một lễ Phật Đản thiệt lớn, dựng nhiều cảnh trí đẹp đẽ và lộng lẫy. Gần tới ngày lễ, tình cờ đi ngang chùa, thấy cảnh trang hoàng đẹp đẽ đó, lại có cảnh dàn dựng 7 bông sen, và

đài dựng tượng Phật Thích Ca Đản sanh, tôi phải dừng lại xem một lúc lâu, rồi vào chùa tìm Thầy hỏi thăm, tán dương công đức của Thầy và tỏ lòng ngưỡng mộ của tôi.

Buổi thăm hỏi thật vui vẻ, cởi mở, nhờ đó giữa tôi và Thầy gần gũi hơn, tôi hợp tác với Thầy vài việc, tôi sẽ nói ở phần sau.

Bấy giờ có một Thầy ở Úc qua thăm trại tỵ nạn. Thầy xin tạm trú ở một ngôi chùa nào đó ở thủ đô Kuala Lampur, vì chính quyền Mã Lai không cho Thầy ở lại đêm trong trại.

Mỗi ngày, buổi sáng Thầy vào trại, làm lễ ở bàn thờ Phật, giảng kinh sách hay sinh hoạt với Phật tử. Chiều, Thầy trở về chùa ở thủ đô. Đường từ thủ đô vào trại khá xa, khoảng 10km, mỗi ngày hai lần thầy cuốc bộ đi về, không đi xe hơi hay xe gắn máy của ai hết. Thầy lại đi chân đất, đường nhựa nóng, nên thầy cứ trên lề cỏ mà đi, khiến ai nấy cũng ngưỡng mộ công đức của Thầy.

Thầy Nguyên Đạt dành cho Thầy những tiện nghi cần thiết, chỗ lễ Phật, phòng sinh hoạt với Phật tử… Không có điều gì làm cho Thầy không vừa lòng.

Thế nhưng rồi một hôm cả trại náo động lên vì hành động của Thầy. Chùa nầy là chùa chung cho người tỵ nạn Việt và Tầu, thờ Phật. Nhưng có một nhân viên thợ điện, phụ trách hệ thống điện của trại. Ông nầy cũng “cường quyền”, đem tài liệu quảng cáo về bà sư Thanh Hải phổ biến trong trại. Chẳng ai phản đối, ai muốn theo bà Thanh Hải thì cứ theo. Bên cạnh đó, anh chàng thợ điện, thường tự xưng là kỹ sư nầy, đem một tượng ông Quan Công vào chùa, thờ chung với chư Phật trên bàn thờ.

Hôm Thầy ở thủ đô vào, thấy tượng ông Quan Công, bèn nói: “Ông nầy không phải là Phật.” Bèn nắm tượng ông Quan Công quẳng ra sân. Sân ximăng cứng đụng với tượng Quan Công bằng đất sét trắng, làm tượng vỡ tan tành. Chẳng thấy ông Quan Công hiện lên la mắng hay làm gì ông Thầy tu cả. Có lẽ ông Thầy tu có “phép Phật nhiệm mầu”, cao cường hơn.

Nhưng một số Phật tử người Tầu và anh chàng thợ điện Mã Lai gốc Tầu phản ứng mạnh lắm. Họ vận động với chính quyền Mã Lai không cho Thầy vào trại nữa. Thầy rời trại chẳng có một lời từ biệt, đưa tiễn, thật đáng buồn!

Thật ra, người Trung Hoa thường hay thờ ông Quan Công trong nhà.

Thiên Địa hội là một hội kín bên Tầu, do người Tầu dựng nên để chống lại nhà Mãn Thanh hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, mục đích lật đổ nhà Thanh, gốc là người Mãn Châu.

Vì là một hội kín, sợ quan quân nhà Mãn Thanh phát giác bỏ tù nên họ có một cái giao ước để nhận nhau bằng việc thờ ông Quan Công trong nhà. Bên cạnh đó, Quan Vân Trường là một nhân vật nổi tiếng trong truyện Tam Quốc, coi trọng tín nghĩa và trung với vua (Lưu Bị). Ở Việt Nam, tại một vài nơi như ở Chợ Lớn, Cần Thơ, Sóc Trăng, người Tầu cũng có thờ ông Quan Công trong chùa hay tại nhà riêng.

Người Việt Nam, tuy ngưỡng mộ ông Quan Công nhưng không thờ ông ta trong chùa bao giờ.

Hôm ghé chùa thăm Thầy Nguyên Đạt, nói chuyện với Thầy chuyện tượng ông Quan Công bị đập vỡ, Thầy chỉ nói: “Thầy ấy nóng quá.”

Cũng một hôm, tôi ghé chùa thăm Thầy thì Thầy cho biết rằng thượng tọa Quảng Ba ở bên Úc mới ghé chùa thăm đồng bào tỵ nạn.

Bấy giờ ở Việt Nam, nhân dịp “ôông” Đôn Hậu qua đời, đồng bào Phật tử xôn xao về việc Dziệt Cộng tạo ra vụ “Chúc thư giả” để bác bỏ việc “ôông” Đôn Hậu để di chúc, trao lại cái chức Viện Trưởng viện Hóa Đạo cho “ôông” Huyền Quang.

Dziệt Cộng ngăn cản, đàn áp đồng bào ở Huế biểu tình chống hành động gian trá nầy. Thầy Nguyên Đạt đưa cho tôi các tài liệu vụ chúc thư giả nầy, do Thầy Quảng Ba đem từ Úc qua. Tôi với Thầy bàn bạc với nhau, thấy rằng tài liệu nầy từ trong nước gởi lén ra hải ngoại, khá chính xác. Phần đông đồng bào Việt Nam không biết hành vi gian trá nầy của Dziệt Cộng, nên Thầy và tôi bàn nhau tìm cách phổ biến rộng rãi cho đồng bào ở ngoài nầy biết, để đừng mắc mưu Dziệt Cộng.

Bàn bạc xong rồi, tôi ôm mớ tài liệu về đọc, tìm hiểu, và viết một loạt khoảng gần 10 bài với nội dung như trên. Sau đó, Thầy Quảng Ba từ Úc gởi qua trại thêm nhiều tài liệu mới, tôi lại tiếp tục viết. Không có computer hay máy chữ, tôi viết tay. Thầy Nguyên Đạt nhờ một vài em Phật tử nào đó đánh máy lại. Xong, gởi cho báo chí Việt ngữ ở Mỹ, ở Canda, ở Úc, ở Pháp và đài phát thanh Chân Trời Mới.

Nhiều hôm đài Chân Trời Mới phát đi những bài tôi viết, Thầy nghe được, thu vô băng, chờ tôi lên thăm, Thầy lại mở ra cho nghe. Thầy có vẻ thích thú lắm, khiến tôi cũng hăng hái viết tiếp nữa, khi có tài liệu từ bên Úc hay trong nước gởi ra, cũng qua ngã Úc.

Kết quả việc làm nầy khá rõ. Mấy “ông” Dziệt Cộng tức tối lắm. Tờ báo Công An “Thành Phố Hồ Chí Minh” đăng một bài phản kích, lên án ba người. Một là Thầy Quảng Ba ở Úc, hai là giáo sư Võ Văn Ái ở Paris và ba là “Tuệ Chương ở Mã Lai.” Bỗng nhiên đứng chung “liên danh” với hai “ông lớn”, tôi cũng thấy khoái lắm và buồn cười nữa. Té ra Dziệt Cộng không biết cái chi hết! Hễ ai chống lại chúng thì chúng cho đi chung một bè cho tiện việc “thả trôi sông”. Khi nào tụi nó làm thinh thì thôi, còn như tụi nó lên tiếng phản bác tức là chúng nó bị chạm nọc đấy! Vui không?

Nhân dịp cao ủy Daeng về Việt Nam, tôi nhờ cô đến thăm các con tôi. Con gái tôi cắt bài báo đó, dấu trong thư bỏ chung phong bì gởi thăm cha mẹ, gởi qua cho tôi. Tôi đem lên chùa cùng đọc với Thầy, hể hả lắm!

Cũng xin nói vô đây chuyện Thầy Lương Minh Chánh được phong linh mục. Nếu không có 30 tháng tư 1975, Thầy Lương Minh Chánh đã được phong linh mục vào tháng 6 năm đó. Chiếm miền Nam xong, Dziệt Cộng áp dụng chính sách đàn áp tôn giáo ngay tức thì, nên việc phong linh mục cho Thầy Chánh bị hoãn lại. Phải 16 năm sau (1991), Thầy Chánh mới đuợc phong linh mục, mà phong ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Khi vượt biên tới Bidong rồi, Thầy liên lạc với giáo hội La Mã. Đức giám mục địa phận Kuala Lampur, thay mặt giáo hội, vào trại Sungei Beshi làm lễ phong chức linh mục cho Thầy Lương Minh Chạy. Lễ phong chức diễn ra uy nghiêm, đồng bào tham dự rất đông, không phân biệt lương giáo.

Người ta vui mừng nghĩ rằng buổi lễ phong chức rất có ý nghĩa, không riêng gì cho Thầy mà cho tất cả đồng bào tỵ nạn. Nó chứng tỏ cho thế giới và Cao Ủy tỵ nạn biết rằng, ở Việt Nam không bao giờ ngưng việc đàn áp chính trị, tôn giáo. Nếu việc đàn áp của chính quyền Dziệt Cộng ở Hà Nội không còn nữa thì làm sao có việc phong chức linh mục cho một người tỵ nạn ở trong trại, sau khi phải trốn chạy khỏi quê hương mình.

Tuy nhiên, sự kiện nầy chẳng có mảy may tác động vào Cao ủy Tỵ Nạn hay việc thanh lọc. Việc thanh lọc càng ngày càng khó khăn thêm ra, tỷ lệ hỏng thanh lọc ngay càng cao.

Sau hôm anh Dũng tự tử, đồng bào bàn tán xôn xao náo động quá! Ngồi nhà không yên, tôi lên chùa thăm Thầy Nguyên Đạt và thử coi tình hình như thế nào? Té ra hôm đó Thầy đi Kula Lampur.

Ngày hôm qua, Dũng tự tử ngay trước Văn phòng Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai, ngay khi vừa nhận tờ giấy thông báo kết quả. Ra khỏi Văn phòng, Dũng tự tử ngay tức thì tại chỗ. Dũng được đưa đi bệnh viện ở thủ đô Mã Lai. Dũng qua đời ngay trên đường cấp cứu. Hôm nay là lễ thiêu xác Dũng. Thầy Nguyên Đạt đi ra ngoài đó, làm lễ cầu siêu cho Dũng, rồi đem hủ tro cốt của Dũng về chùa, chờ tìm cách gởi về Việt Nam cho bà mẹ.

Tôi ngồi ở chùa, chờ Thầy Nguyên Đạt về. Một lúc Hảo cũng nóng ruột như tôi, lên chùa. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau.

Chúng tôi đang trầm ngâm vì cái chết đột ngột và tức tưởi của Dũng đang đè nặng trên tâm hồn nhiều người trong trại thì một lúc, Hảo nói:

– “Chút nữa Thầy đem cái hủ tro cốt về. Con người to lớn như thế, thiêu xong rồi, chỉ còn nắm tro, chưa đầy cái hủ nhỏ. Phi lý thật!

Tôi nói:

– “Nhiều nhà văn Pháp cho rằng con người là một phi lý. Thượng đế sinh ra con người, cho con ngưòi hứng trãi bao nhiêu đau khổ, rồi buộc phải chết. Người ta không hiểu nỗi cái mục đích của tạo hóa.”

– “Anh Hải có nghĩ rằng mọi sự ở đời nầy chỉ là hazard cả không?”

– “Sao “ông” nói trúng ý tui vậy? Nếu Hồ Chí Minh

không đi Tây, không ở bên đó mà theo đảng Cộng Sản, không biến thành tay sai cho Đệ tam Quốc tế, thì nước mình đâu có cuộc chiến tranh dài 30 năm, và bọn mình ngồi… ở đây?! Tất cả chỉ là một chuỗi tình cờ, hazard của lịch sử.

Nếu Chúa, Phật có khả năng cứu người thật sự thì ông Hoàng Vũ không phải làm câu thơ mà hỏi “Chúa, Phật ngài đang ngự cõi nào?” Chúa bị đóng đinh, Chúa còn chưa cứu được Chúa, nói chi cứu ai. Ông Tất Đạt Đa có thoát khỏi sinh, lão bệnh tử đâu?!”

Hảo nói:

– “Anh không nghĩ có số phận sao? Mỗi người hay mỗi dân tộc đều có số phận cả chứ?”

– “Số phận chỉ là một cách nói, một sự an ủi. Từ ngàn xưa, ông cha chúng ta đã tin như vậy. “Cái quay búng sẵn trên trời, Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm!” Chúng ta chỉ là người đi trong đêm tối, đêm tối của đời chớ không phải đêm tối của trời, mò mẫn mà đi tới đâu hay đó. Cái gì mình chuẩn bị, sắp đặt ra, có khi đạt được, có khi không, tất cả đều do tình cờ. Thượng đế cho cái gì, Chúa cho cái gì, hay chỉ là con người gây ra cho nhau, đem đến cho nhau cả thôi, không do Chúa, Phật hay ai cả.”

– “Anh bảo Chúa không cho, Phật không cho là không đúng. Ông địa còn cho nữa kia. Mấy tiệm buôn bán, người ta thờ ông địa để ông địa cho mua may bán đắt. Anh nghĩ sao?”

– “Có tín ngưỡng rồi mới có tôn giáo. Xưa, tổ tiên tin lung tung: Thần sấm, thần sét, thần mưa, thần gió. Tin ông địa cũng là sự thường. Gặp ngày buôn may bán đắt, ông địa được cúng thêm nãi chuối. Gặp ngày ế, ông địa cũng bị trách oán vậy. Tui không bàn tới tín ngưỡng, tôn giáo. Cái ấy dễ động chạm, nhưng ông trời, tạo hóa thì bị người ta trách oán dữ lắm. Người ta gọi ông trời là “lão tặc thiên”, là “hóa nhi”,

tức là thằng bé con. “Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán, chết đuối người trên cạn mà chơi.” (2) Tiếng Mỹ gọi God là chúa, là thần. Nhưng God có phải là chúa Giê Su không thì tui không biết. Khi có chuyện, người Mỹ kêu “O! my God” thì có giống như mình kêu “Trời ơi!” hay không? Trong tiếng Việt, chữ Trời rất phiếm định, nó có nghĩa là ngọc hoàng thượng đế, là tạo hóa. Mấy ông cha đạo đồng hóa Trời của người Việt với đức Chúa Trời của họ là sai. Nhưng dù trời hay tạo hóa, hay đức Chúa Trời đều đáng trách cả. Tui thích nhất là hai câu thơ của Huy Cận:

                        “Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,

Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi,

Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận,

Đã sinh ra thân thể con người.” 

Tui nghĩ rằng khi làm mấy câu thơ nầy, Huy Cận tỏ ý muốn chống lại quan điểm thượng đế của Thiên Chúa giáo, hay nói trắng ra là ông ta chống đạo Thiên Chúa cũng vậy.”

Một lúc lâu, Hảo nói, không phải phê phán gì về những điều tôi muốn nói, mà trở lại với cái ý trước:

– “Anh bảo rằng Chúa không cho, Phật không cho thì nhân quả là cái gì?”

– “Từ khởi thủy cho tới bây giờ, nhân loại có nhiều nền văn minh khác nhau. Nhìn một cách tổng quát như văn minh Lưỡng Hà, văn minh Hy La, văn minh Ai Cập, có thể gọi chung là văn minh Địa Trung Hải. Nam Á thì có văn minh Ấn Độ, Đông Á thì có văn minh Trung Hoa. Mỗi nền văn minh đó tạo ra những con người, những bậc siêu việt: Ông Chúa, ông Phật, ông Khổng. Họ là tinh hoa của văn minh đó. Họ tinh lọc cái tinh hoa của nền văn minh đó mà dựng nên các tôn giáo. Rồi các đại tín đồ của họ ghi chép lại những gì họ nói, họ làm mà dựng nên kinh sách, giảng giải, thậm chí cả xuyên tạc cho tín đồ của họ, mục đích là quyền lợi của các đại tín đồ chớ có phải vì vị sáng lập tôn giáo đâu. Cho nên kinh thánh, kinh Phật, kinh Koran, tam sao thất bổn, làm sai cái nguồn gốc những gì Chúa nói, Phật dạy. Tui không phải là người vô thần vì tui là người chống Cộng, nhưng tin và theo các tôn giáo của mấy ông ở Vatican, ở Népal, ở La Mecque thì tôi xin chịu, không tin được. Tui thiếu niềm tin tôn giáo, tôn giáo hiện đại chớ không phải tôn giáo từ nguyên thủy của nó.”

            Một lúc sau, tôi nói tiếp:

            – “Còn như nói nhân quả, nó không phải là sự sắp đặt của thánh thần. Nó mang tính khoa học đấy, nói rõ hơn là vật lý hay hóa học cũng được. Hễ cái trước như thế, cái nhân như thế thì cái sau phải như thế, tức cái quả như thế. Nếu nói tới tính cách thần quyền, chắc gì đã có nhân quả. Nhân như thế, nhưng nhờ thần linh mà cái quả nó sẽ khác đi.”

– “Tôi thấy anh mâu thuẫn!” Hảo nói.

– “Có thể dzậy! Hễ không có niềm tin tôn giáo, người ta dễ mâu thuẫn với chính mình.” Tôi nói. “Ở đây nè! tại trại tỵ nạn nầy, tui kính trọng Thầy Đạt vì ông là thầy tu, không phải thầy cúng hay thầy chùa. Nhưng “qui y tăng” thì tui xin chịu. Nhiều tăng tầm bậy quá! Ông nhớ ở Huế có câu ca dao “Cóc cóc chiêng chiêng, con gà mô béo để riêng cho thầy.” Đó là nhận xét chung của nhiều người về nhiều người “tu” nên nó mới thành ca dao. “Con sâu làm rầu nồi canh”. Qui y Phật, qui y Pháp thì tui mần được. Qui y tăng thì xin hưởn một chút, cho tui xem lại đã.”

Hảo cười, không nói gì thêm, đồng ý hay không đồng ý với tôi. Một lúc sau, hình như Hảo ngần ngại gì đó, mới nói với tôi:

– “Anh đừng trách tôi. Tôi có cảm tưởng như anh là người vô thần. Anh không tin cái gì hết.”

Tôi cải:

– “Không phải dzậy. Tui nhớ hồi tết đầu năm 1965, tui đi xem phim Spartacus với nhà tui. Tui bị xúc động dữ, không hẵn vì phim hay mà vì đoạn kết, đoạn Kirk Douglas, đóng vai Spartacus bị đóng đinh trên thập tự giá. Hy sinh của Spartacus cao quí lắm, huống gì sự hy sinh của Chúa, cũng bị đóng đinh như vậy. Trước kia,  từng học với “xơ” Cần, từng nói chuyện với các cha, tui chưa bao giờ từng có những cảm xúc như vậy về chúa Giê-su, nhưng chỉ một đoạn phim ngắn, tui thấy rõ lòng nhân ái của Chúa. Là một “phật tử truyền thống” tui không thiếu niềm tin nơi ông Phật. Nhưng tui không tin tôn giáo của các vị ấy vì những đại môn đệ của các vị ấy huống gì tin được các ông thầy, ông cha. Cách giảng kinh sách của các ông ấy khiến tui nhiều khi không thể xúc động khi nghe một câu kinh. Tui chỉ thấy lời kinh toàn là những lời kêu than, van vỉ, xin xỏ. Tui không tin mình có thể van vỉ xin xỏ ai được, ngay cả tạo hóa là người sinh ra tui, cho tui sự sống, mặc dù tui vẫn tin rằng tạo hóa nhiệm mầu.

Ông thử nghĩ coi, cái cây vái cối, cái hoa, cái lá, bông đực bông cái, con bướm con ong làm thụ tinh nhị đực nhị cái, mình đã thấy tạo hóa tài tình. Ngay như thân thể mình, bộ máy tuần hoàn, bộ máy tiêu hóa, v.v… đã là quá nhiệm mầu, không thể có cái hazard nào mà có được. Sắp xếp cả đấy. Nhưng tạo hóa sinh ra con vật, con người, cho nó cái bản năng sinh tồn rồi bỏ đấy. Tự nó phải tìm cách sống còn. Loài

vật giết loài vật hay con người giết con người, thậm chí tàn sát giết chóc hàng loạt, tạo hóa cũng không ngó tới. Loài người muốn làm gì với nhau thì làm, có tạo hóa, có ông Phật, ông Chúa nào ngăn cản đâu.”

– “Anh nói vậy thì nhân loại tồn vong hay tự diệt là do tự nó hay sao?” Hảo hỏi.

– “Con người và thiên tai tự hủy diệt con người. Giả tỉ như có chiến tranh nguyên tử tràn lan, nhân loại tự nó diệt vong. Không do Chúa, không do Phật nào cả. Tuy nhiên, ngay cuộc sống hiện tại, tui vẫn thấy sự mầu nhiệm của tạo hóa trong việc cân bằng thiên nhiên. Một con diều hâu cắn cổ con chim chích, thế là mất đi một sự sống, nhưng bên cạnh đó, một sự sống khác hình thành, cũng do tạo hóa mà ra. Chỉ có tạo hóa mới tạo ra sự sống, nên giết người hay xử tử hình là sai. Người ta không thể lấy đi cái mà người ta không cho. Sự sống là do tạo hóa cho.”

Một lúc, thấy Hảo có vẻ không tin lời tôi, nên tôi nói tiếp:

– “Hồi ở trong trại tù cải tạo, mỗi kỳ Noel, lòng tui xao xuyến lắm. Buổi sáng, tập họp ở sân chờ tụi công an gọi đi lao động, đội bên cạnh tôi có nhiều tay còn rất trẻ, thường hát “Đêm đông lạnh lẽo…” hay “Jingle bell”… tui buồn dữ. Không phải buồn vì tôn giáo, nhưng tôn giáo là một phần kỹ niệm của tui. Ở Huế, hễ đêm Noel là tui chở vợ đi chơi, lòng vòng ở các nhà thờ. Tui không vào lạy Chúa, cũng như tui chẳng vào Chùa lạy Phật bao giờ. Ông thấy tui đi chùa thường, nhưng có bao giờ ông thấy tui đứng trước tượng Phật mà lạy không? Không có, Phật tại tâm. Phật là lương tâm của mình, là từ bi hỉ xã cũng trong đó, bác ái cũng trong đó, tu thân cũng trong đó, ăn ngay ở thật, sự chân thật cũng trong đó. Giữ được những thứ ấy trong lòng mình là Phật, tui tin như vậy.”

– “Anh nói trúng ý tôi.” Hảo nói. “Tôi ít đi nhà thờ, ngay khi còn nhỏ cũng vậy, nhưng tôi chọn sự ngay thẳng, chân thật để mà sống với mình, với mọi người.”

– “Chính sự chân thật mới dễ làm cho người ta xúc   động. Tui chưa bao giờ xúc động khi nghe một bài cầu kinh, đọc kinh, nhưng nhiều khi tui rất xúc động vì một bài hát. Nhiều khi, như hôm mới tới đảo, nghe bài quốc ca, tui xúc động hơn nghe một bài kinh, một bài gọi là “thánh ca”. Mai kia, tui có chết đi, tui không tiếc nuối gì ở đời nầy hết, bởi vì… khi chết thì tất cả đều hư vô, nhưng chết rồi, không còn nghe được những bài hát hay thì tiếc lắm.

Hảo cười:

– “Tiền bạc của cải không tiếc lại tiếc vì không còn nghe được bài hát hay. Buồn cười anh nầy thật!”

Vãn chiều thì Thầy Nguyên Đạt về, mặt mày đỏ gay, bơ phờ, dáng Thầy mệt nhọc. Mới về chùa, thấy chúng tôi đứng dậy đón chào, sau khi đặt bình tro cốt lên chỗ thờ xong, quay lại chúng tôi, Thầy nói:

– “Hai bữa nay Thầy mệt thiệt! Hôm qua chầu chực gần một ngày ở bệnh viện. Khi họ đem xác Dũng vào phòng lạnh đâu đó rồi, chờ bữa nay thiêu, Thầy mới về. Bữa nay thì suốt từ sáng tới giờ, mọi việc đâu đó xong xuôi hết mới về tới đây. Mệt thiệt.”

– “Nhìn thầy cũng biết thầy mệt lắm.” Hảo nói.

– “Công đức vô lượng. Thầy làm vậy là công đức to lắm! Cha mẹ Dũng không có ở đây!” Tôi nói.

Thầy xin lỗi đi tắm rửa một chút, hẹn chúng tôi cùng ăn cơm tối cùng Thầy.

Sau khi Thầy đi vào trong. Tôi và Hảo ngồi chờ. Tôi nói đùa với Hảo:

– “Mệt nhưng mà thầy chịu lắm! chịu lắm!”  (3)

Hảo cự nự tôi:

– “Anh thì thôi!”

Một lúc Thầy ra. Cơm được dọn tới. Thầy cùng anh

em chúng tôi ngồi ăn. Đang ăn, tôi nói:

            – “Lâu lắm, tui mới ăn chay, ngon ghê!”

            – “Tôi cũng vậy. Người Huế hay cúng chay. Khi nào đi ăn kỵ ở nhà bà con thì được ăn chay.” Hảo nói.

            Tôi hỏi:

            – “Ông không sợ?”

            – “Sợ gì?” Hảo hỏi.

            – “Bên đạo cấm ăn đồ cúng ma!” Tôi nói.

            – “Tôi là đạo dòng. Mấy người mới theo mới giữ luật kỹ. Từ nhỏ, đi lễ nhà thờ thì đi, ăn giỗ thì tôi cũng cứ ăn. Đi ăn kỵ ở nhà bà con, người ta mời, không ăn sao được? Ở Huế, người ta có bà con bên đạo, bà con bên ngoại lung tung, không bỏ bà con ông bà được.”

            Tôi cười, đọc đùa câu ca dao Huế:

                        “Cây bồ đề, lá bồ đề,

Đạo lấy ngoại có hề chi không?

                        Cây bình tinh, lá bình tinh,

Đạo lấy ngoại đọc kinh khó lòng.”

            Nghe đọc, Thầy Nguyên Đạt nói:

            – “Cây bồ đề tượng trưng cho bên Phật, Thầy hiểu. Bông huệ mới tượng trưng cho bên đạo, chớ thầy có nghe nói cây bình tinh đâu?”

            – “Trong ca dao, đó là thể ví. Lấy chữ (bình) tinh để nói qua chữ (đọc) kinh. Thầy nói làm tui nhớ “liên danh Bông Huệ” là của mấy ông bên đạo. Bên Phật thì “liên danh Hoa Sen.” Tôn giáo đi vào chính trị là phiền lắm!”

Hảo nói:

            – “Đem thần quyền vào thế quyền là lỗi thời.”

            – “Cũng do hoàn cảnh đất nước cả thôi. Mấy ông cha, mấy ông giám mục Tây dựa vào thực dân Pháp mà truyền đạo, giảng đạo, buộc người ta theo đạo. Phật giáo lép vế nằm im cả trăm năm. Khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, người ta tưởng thời cơ đã tới, bèn muốn nắm chính quyền, đặt ra những thứ “chính phủ thân Phật giáo”, “chính phủ thân Công giáo” là trật lất. Như thế là sai. Sai lầm ghê lắm. Ông Trí Quang đưa ông bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn làm thị trưởng Đà Nẵng thì có khác bao nhiêu với việc ông Ngô Đình Thục chọn bộ trưởng, tỉnh trưởng hồi trước.”

– “Tại sao bác Hải nói sai, nghĩa là sao?” Thầy Nguyên Đạt hỏi.

            – “Một tôn giáo mạnh là mạnh ở quần chúng, không mạnh ở chỗ cầm quyền hay không cầm quyền. Đạo Phật mạnh là vì đạo Phật ở trong dân tộc. Dân tộc sùng tín đạo Phật thì đạo Phật mạnh. Một chính phủ vì dân thì phải biết điều đó, mới gọi là chính phủ của dân, vì dân. Tây có cai trị một trăm năm, Việt Cộng có cai trị năm, bảy chục năm đi nữa, khi mà nó không phải là chính phủ của dân, vì dân thì cuối cùng cũng bị sụp đổ. Dân tộc lại trở về với dân tộc, với đạo pháp. Đạo Phật lúc đó mạnh lên. Một chính phủ dân chủ thực sự không ngó ngàng tới dân tộc, tới đạo pháp cũng không được, vì đó là trách nhiệm, là bổn phận của họ, của một chính phủ của dân. Nếu các Thầy thấy như vậy thì các Thầy nên củng cố đạo Phật, tu cho ra tu, củng cố cái tinh thần đạo pháp trong dân chúng, không cần phải đưa người của mình vào chính phủ, nắm chức nầy chức kia, để làm gì? Con người ta, giữ cái địa vị của mình là trước mắt. Khi cho họ cái     ghế rồi, người ta lo giữ cái ghế hơn là giữ đạo pháp. Có thể tui đa nghi. Tui ưa chủ nghĩa hoài nghi của Anatole France. “Tất cả mọi việc thiện đều vì lòng ích kỷ…” Tui nhớ Thầy có nói câu đó của Larochefoucault rồi mà!” Tôi nói, một hơi dài. Thầy Nguyên Đạt, nghe nhắc tới câu ông nói, chỉ cười.

            Một lúc, Thầy nói:

            – “Bác Hải nói nghe cũng được. Thầy thì ít hoài nghi ai bởi Thầy đi tu từ khi 9 tuổi, nên Thầy rất tin ở lòng chân thật của mọi người, dù ai xấu, Thầy mặc họ.”

            – “Thầy đi tu từ 9 tuổi. Tu được vậy là Thầy giỏi lắm.” Hảo tán tụng Thầy.

            – “Tui hỏi tình thiệt. Có khi nào Thầy bị hay muốn “chệch hướng” một chút không?” Tôi nói.

            – “Không đâu! Từ nhỏ Thầy đã quen, cứ một con đường tu mà đi, toàn tâm, toàn ý. Thầy không nghĩ khác đi bao giờ.”

            – “Vậy là Thầy có căn tu. Tui thì chịu. Tui hay có cái ý thức phản kháng, dù tiêu cực. Để tui kể chuyện nầy cho Thầy nghe. Năm tui mười bảy, mười tám tuổi, tui làm précepteur ở nhà một người bà con. Làm précepteur là ăn, ở nhà chủ. Người ta cho cơm ăn để đi học. Tối lại dạy kèm cho con chủ nhà. Nhà bà con ăn chay một tháng hai ngày, rằm và mùng một. Tui có cái kỳ, hễ ngày nào ăn chay, nếu có tiền thì tui ghé lại tiệm bún bò Mai Lợi, gần nhà, bên cạnh vườn hoa Đông Ba, đớp một tô ba đồng. Tui có thèm bún bò hay thèm ăn mặn đâu, nhưng tui ưng làm “hư” vậy. Phản kháng ăn chay bằng cách ăn mặn!

            – “Tự vì anh cho rằng “ăn mặn nói ngay, ăn chay nói láo chớ gì.” Hảo cười, nói.

Tôi chống chế:

            – “Đâu phải. Câu đó chỉ để đã kích những người không thật bụng, đâu phải phỉ báng đạo Phật. Người giả dối thì ở đâu cũng có, ở đâu cũng bị phê phán, riêng gì ăn chay hay theo đạo Phật. Phải không Thầy?”

Thầy Nguyên Đạt cười, vẻ thích thú!

hoànglonghải

(1)- “Chùa Phật Lồi” ở truông Ái Tử, tỉnh Quảng Trị. Khi hai châu Ô và Rí được giao cho người Việt (1309), người Chàm vùng nầy di cư về phương nam. Cũng như người Việt, họ thờ Phật. Đến khi ra đi, không muốn tượng Phật của họ về tay ngoại tộc, họ bèn chôn xuống cát. Lâu dài về sau, vì gió Nam (gió Lào) thổi mạnh, cát bay đi, tượng Phật lồi lên. Người Việt cũng thờ Phật, bèn lập chùa rước tượng về thờ, gọi nôm na là “Chùa Phật Lồi”.

(2)- “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều.

(3)- Khi còn làm việc ở phòng Phát Triễn Cộng Đồng,

tôi thường kể câu chuyện vui: Có ông thầy chùa dê lắm. Một khuya thầy đòi ngủ với một nữ đệ tử. Sáng hôm sau thức đây, ông thầy chùa nói: “Sáng nay thầy mệt quá!” Nữ đệ tử nói: “Hồi khuya con cản rồi, thầy cứ đòi cho được nên chi thầy mệt.” Thầy chùa trả lời: “Mệt nhưng mà thầy chịu lắm! chịu lắm!”

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: