Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (14) – dĩ oán báo ân

1“Tất cả mọi việc thiện đều do lòng ích kỷ,

cũng như mọi con sông đều chảy ra biển.”

(La Rochefoucauld)

            Sau khi chiếm miền Nam, Lê Duẫn nhắc nhở đảng viên của ông “chớ ngủ quên trên chiến thắng” và ngay sau đại hội đảng Việt Cộng lần thứ Tư năm 1976, trong một lần đến thăm tỉnh Hà Sơn Bình, Lê Duẫn bảo rằng chỉ trong vòng một hai kế hoạch 5 năm, mỗi nhà sẽ có một TV, một tủ lạnh, v.v…

            Đúng ra Lê Duẫn nên nói rõ nhà đó là nhà cán bộ đảng viên, còn nhà dân, nhất là dân miền Nam thì thay vì sắm, nhà nào đã có TV, tủ lạnh thì phải bán đi để chạy gạo nuôi con.

            Thế rồi sau 10 năm “ngăn sông cấm chợ”, đảng Dziệt Cộng đứng trên bờ vực thẳm, tài sản quốc gia, ngoài người dân cu đen, không còn gì nữa cả, nên Việt Cộng bèn…xuất cảng người. Thế là Việt Cộng mở cửa cho dân vượt biên, mai mốt làm Việt kiều hồi hương, “áo gấm về làng” đem tiền về nuôi Việt Cộng.

            Đây là lần thứ hai đảng Việt Cộng bán dân lấy tiền. Lần trước, năm 1979 là vụ “nạn kiều”, thu vàng cho vợ chồng cha con các chú Ba ra biển, điều người miền Nam hồi đó gọi là “đi bán chính thức”. Các tỉnh đua nhau đóng tầu cho nạn kiều đóng 12 cây một đầu người mà đi. Việt Cộng vừa xua đuổi được người Tầu ra biển, “sống chết mặc bây”, vừa cướp vàng của họ. Bây giờ thì không thu vàng, nhưng chờ người về đem tiền đô về nuôi. Đảng Việt Cộng thật “thông minh, sáng tạo” trong việc bán người cướp của.

            Cả hai lần, phe Tư Bản chỉ đỡ đòn, thế thụ động, chứ không đánh trước được. Kết quả lần trước là chương trình ODP (ra đi trong trật tự). Lần nầy, đòn phe tư bản đỡ là “Đóng cửa đảo và buộc thanh lọc”. Đòn thụ động nầy dở ẹt mà lại còn vô nhân đạo.

            Sau một hội nghị quốc tế, có Liên Hiệp Quốc tham dự, việc thanh lọc được đề ra. Các quốc gia thứ hai, gọi là nơi tạm dung, có trại định cư như Thái Lan, Mã Lai, Singapor, Indonésia, Phi luật Tân, HồngKông, phải tổ chức thanh lọc người tỵ nạn, có luật sư Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc giám sát cho được…công bằng.

            Ức lòng vì bị thanh lọc, sợ bị cưỡng bức hồi hương, phong trào đấu tranh nổ ra ở hầu hết các trại tỵ nạn.

            Người ta có thể nhận định ba thành phần như sau: Cao ủy Tỵ nạn LHQ (thứ nhứt), chính quyền của quốc gia tạm dung (thứ hai) và đồng bào tỵ nạn (thứ ba).

            Những người làm việc cho Cao ủy Tỵ nạn ở đảo Bidong, quả thật họ có lòng thương người tỵ nạn, nhưng khi thực hiện chức năng của mình lại quá máy móc. Mâu thuẫn giữa các phong trào đấu tranh và Cao ủy Tỵ nạn phát sinh từ đây.

            Ông Allen là Cao ủy trưởng ở Bidong.

            Ở Bidong, trước khi có đấu tranh, đồng bào tỵ nạn rất kính trọng và có cảm tình với ông cao ủy nầy.

            Như tôi có nói trong một bài trước, khi có ghe vượt biên tới đảo, nếu ghe cập được vào bờ hay cầu jetty, có người nhảy lên bờ hoặc lên cầu, thì coi như chính quyền Mã Lai “thua”, phải cho đồng bào trên ghe vượt biên lên bờ, vào trại. Còn ngược lại, dù ghe vượt biên tới đảo, nhưng chưa có ai lên bờ thì Mã Lai có quyền kéo đi, coi như Cao ủy “thua”.

            Một hôm, ông Allen đang cởi trần, chân không, đá bóng với thanh niên tỵ nạn trên bãi cát khu A thì ghe vượt biên tới. Không kịp mang giày, không cần mặc áo, cứ người ngợm như thế, Cao ủy Allen chạy thẳng ra cầu jetty, nơi có chiếc ghe sắp cập cầu tầu. Ông gọi người trên tầu nhảy xuống nước, bơi vào bờ. Rồi một người trên ghe nhảy xuống, bơi tới cầu tầu. Ông Allen vói tay kéo người thanh niên đó lên giữa tiếng reo hò, hoan hô của mọi người đang dứng quanh cầu, trên bờ biển.

Biết là thua, những người trong lực lượng Task Force của Mã Lai có mặt hôm đó cũng vui lây, và vỗ tay như mọi người.

            Trường hợp ông cao ủy Erick đáng thương hơn.

            Đang làm việc, nghe tin có ghe vượt biên tới đảo, ông liền chạy ra cầu jetty. Khi ông ta vừa ra tới nơi thì chiếc ghe vượt biên mới tới đã bị lính Mã Lai đuổi ra xa, kéo ngược lên phía bắc. Cao ủy Erick liền bỏ cầu jetty chạy dọc bờ biển, vừa chạy vừa vẫy gọi chiếc ghe vượt biên. Vậy mà ghe cứ đi, Erick cứ chạy theo, dọc bãi biển khu A. Tới chỗ hết bờ biển rồi, đường đi đã nghẽn, mà ghe vượt biên cứ đi. Ông Erick luồn rừng chạy theo ghe, vừa chạy vừa ngoắt tay, vừa gọi.

            Một giờ đồng hồ sau, cao ủy Erick mệt mỏi trở về, ngồi nghỉ mệt ở cái băng ghế, phía trước nhà máy điện. Mặt ông đỏ gay, phanh áo cho đở nóng, bày ra một đám lông dày nơi ngực ông. Lá mục, mạng nhện vướng khắp mặt mũi chân tay ông. Ai đi ngang chào ông, ông chào lại và lắc đầu chán nãn. Trận ấy, coi như cao ủy thua, mà thua đậm. Chiếc ghe vượt biên mất hút, không biết họ có tới được Singapore, Indô hay lại bị hải tặc Thái Lan tấn công, đàn bà con gái bị bắt, đàn ông con trai làm mồi cho cá biển. Đó là thân phận những người vượt biển sau ngày gọi là “Đóng cửa đảo.”

            Câu chuyện “Đồng bào mới tới đảo” thường thường xảy ra như vậy. Khi đồng bào được lên bờ, đưa vào Task Force trước khi qua lập hồ sơ sơ khởi ở phòng SB, người tỵ nạn ùa ra đứng sát hàng rào tìm người quen, thân nhân. Họ gọi nhau ơi ới, mừng nhau thoát khỏi chế độ nô lệ ở quê nhà, thoát khỏi hải tặc Thái Lan, hy vọng xây dựng một đời sống mới, có cơm ăn áo mặc, có tự do ở quê hương mới. Vậy mà nay họ bị thanh lọc, có nguy cơ bị cưỡng bức hồi hương.

            Nhìn chung, Cao ủy Tỵ nạn ở đảo, từ Cao ủy trưởng Allen, người Mỹ, cao ủy Erick người Hòa Lan, cao ủy Francesco, người Ý… đều tốt bụng, chu toàn trách nhiệm được Liên Hợp Quốc giao phó. Các cao ủy người Mã, phần đông Mã gốc Tầu có khác. Họ làm tròn trách nhiệm vì quyền lợi của họ hơn là vì bác ái, thương người tỵ nạn Việt Nam.

            Tuy nhiên, khi có lệnh thanh lọc người tỵ nạn, khi đối phó với các cuộc đấu tranh có phần dữ dội, các cao ủy phản ứng một cách máy móc, nguyên tắc.

            Khi có người đấu tranh mổ bụng mà không cho băng bó, không cho đưa đi bệnh viện, các ông cao ủy hốt hoảng, lo lắng, thiếu phương cách phản ứng tế nhị, thông cảm người tỵ nạn. Từ chỗ họ tìm ra những người lãnh đạo cuộc đấu tranh là những kẻ dấu mặt, cứng rắn nếu không muốn nói là ngoan cố, bất thương thuyết, thì cao ủy tạo ra một “chiến tuyến” giữa những người lãnh đạo cuộc đấu tranh và cao ủy. Từ chỗ đứng đó, Cao ủy Tỵ nạn trở thành những người đối kháng, đứng đằng sau Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai để đàn áp người tỵ nạn. Thật ra, nếu Cao ủy có phản ứng thì phản ứng với những người lãnh đạo cuộc tranh đấu chứ không phải phản ứng với tất cả đồng bào tỵ nạn, nhưng họ không khôn khéo làm được như thế.

            Trong số hơn mười ngàn người tỵ nạn trên đảo, không phải ai ai cũng muốn đấu tranh, không phải ai ai cũng tham gia phong trào đấu tranh, và không phải ai ai cũng chung lập trường với những phương cách đấu tranh như thế.

            Cao ủy tỵ nạn trên đảo Bidong đã không phân tích được như thế. Họ nhìn người tỵ nạn ai ai cũng giống nhau, cũng “chống lại cao ủy”. Cái nhìn phiến diện ấy đã đẩy tất cả người tỵ nạn về một phía, cao ủy về phía khác, phía Mã Lai. Vậy thì bên phía ấy có 2: Cao ủy và Mã Lai, phía bên tỵ nạn chỉ co một. Tục ngữ nói: “Hai đánh một không chột cũng què.” Huống chi bên phía hai lại có súng đạn và cơm gạo, còn phía một chỉ có hai bàn tay không và cái bụng dẹp lép.

            Chức năng của cao ủy bây giờ là thi hành chính sách thanh lọc, trong khi người tỵ nạn chống lại chính sách đó. Bên cạnh đó, Cao ủy cũng thấy họ không đủ sức đối phó với người tỵ nạn, họ bèn núp bóng lực lượng quân sự Mã Lai trên đảo. Về sau, khi đảo Bidong giải tán, tất cả đồng bào tỵ nạn bị đưa về trại Sungei Beshi ở ngoại ô thủ đô Kualar Lumpur của Mã Lai, Cao ủy càng ngày càng tránh mặt, để mặc cho bọn lính tráng Mã Lai đàn áp, đánh đập, người tỵ nạn.

            Phải chi Cao ủy nhìn vấn đề khác đi, đúng với chức năng nguyên thủy căn bản của họ là “cứu giúp người tỵ nạn” thì đâu đến nổi “ân biến thành oán” như đã xảy ra ở hầu hết các trại tỵ nạn.

            Chức năng của Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai thì hoàn toàn khác với chức năng của Cao ủy. Lực lượng nầy gồm có một chỉ huy trưởng là một sĩ quan cấp tá, với các binh lính thuộc quyền. Có thể đây là một lực lượng bán quân sự, địa phương quân chứ không phái quân đội chính qui thường trực. Nhiệm vụ của lực lượng nầy là giữ trât tự, an ninh trên đảo. Nói chung, họ thuộc về những kẻ cai trị, với tâm lý của người cai trị, có quyền, coi đồng bào tỵ nạn là kẻ bị trị. Người cai trị có bạo lực của họ. Đồng bào, thành phần bị trị, chỉ có tay không.

            Có thể từ ban đầu, khối An Ninh của người tỵ nạn là bộ phận hỗ trợ cho người Mã Lai giữ gìn an ninh, trật tự trên đảo. Mã Lai làm việc với người tỵ nạn qua khối An Ninh trong hầu hết mọi sự việc, từ những vụ giết người, lập thủ tục truy tố ra tòa án Mã Lai,  hoặc ẩu đả, đâm chém, tranh giành, v.v… Khi cần, khối An Ninh nhốt người ở phòng giam gọi là Monkey House trong khu vực Mã Lai.

            Từ khi có thanh lọc, có kẻ đậu người rớt, có đấu tranh, trại Bidong giải tán, không còn “đồng bào mới đến đảo” nữa thì phòng SB đóng cửa. Một vài người, trước kia, khi còn ở Bidong, làm việc ở phòng SB, biết mình sẽ đậu thanh lọc, “không ưa” các vụ đấu tranh thì nay quay ngược lại, tham gia “làm tham mưu” – chỉ làm tham mưu mà thôi – cho phong trào đấu tranh.

            Khối An Ninh thì vẫn còn, nhưng vì theo như trước kia, khối nầy là một bộ phận hỗ rợ Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai, mà nay Mã Lai đàn áp người tỵ nạn thì khối An Ninh coi như đứng trước ngã ba đường.

            Sau nhiều manh động của vài phần tử cực đoan như đánh lén ông trưởng khối An Ninh, và vì đồng cảm với đồng bào, việc làm của khối An Ninh trở thành lững lơ, chiếu lệ, không còn tích cực như trước, nhất là chống lại việc lính tráng Mã Lai đánh đập tàn bạo đồng bào tỵ nạn thì Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai không còn tin tưởng, không làm việc hay quan hệ chặt chẽ với khối An Ninh nữa.

            Vốn dĩ cung cách làm việc của Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai từ trước tới giờ là cai trị, cậy quyền, trừng phạt, đàn áp, lại thêm nhiều tên lính Mã Lai vốn thiếu học, thiếu trình độ hiểu biết, quen thói đàn áp hung dữ nên chúng đánh đập nhiều người tỵ nạn rất tàn ác, dã man, chẳng chút nhân đạo, chẳng chút thương người.

            Không dùng khối An Ninh nữa, Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai chơi trò bá đạo, xử dụng bọn “bồ tạt”, tiếng Mã Lai, có nghĩa là bọn du côn, dân dao búa, để dùng người Việt đàn áp, đánh đập dã man người Việt. Bọn “bồ tạt”, vốn dĩ là những tay du côn, dân dao búa ở Việt Nam, một số ở chợ Cầu Ông Lãnh, trước nay vì sang vùng đất mới, không dám làm gì như khi còn ở trong nước, nay được bọn binh lính Mã Lai che chở, xúi dục, lại tung hoành như xưa. Càng được Mã Lai hứa giúp cho đậu thanh lọc, bọn chúng đối xử với người tỵ nạn càng hung tợn, đánh đập và cướp bóc người tỵ nạn càng hung tợn, trắng trợn, thật đáng ái ngại.

            Mà có đứa “bồ tạt” đậu thanh lọc thật. Tên “bồ tạt” T., gốc là dân chợ Cầu Muối, từng đánh bác sĩ Vũ Ngọc K. rất dã man, lại được đậu thanh lọc. Khi nhận được tin đó, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc cơ quan Boat People SOS, đã phải vận động đồng bào tỵ nạn hải ngoại, lên tiếng với những quan chức có trách nhiệm ở chính quyền địa phương, không chấp thuận cho tên “bồ tạt” nầy đến dịnh cư.

            Đồng thời, Cao ủy Tỵ nạn đưa nhiều người, nhiều phái đoàn đến trại, nói chuyện vơi đồng bào tỵ nạn, khuyến khích họ nên tự nguyện hồi hương sau khi hỏng thanh lọc, đúng theo chính sách của Liên Hiệp Quốc. Những người châu Âu, châu Mỹ nầy hiểu một cách lờ mờ về tình hình Việt Nam, về Việt Cộng, về người miền Nam, người miền Bắc, về “đánh tư sản”, về chế độ cũ, chế độ mới thì biết đếch gì tới việc thanh lọc, chống thanh lọc, đậu hỏng mà khuyên người tỵ nạn trở về. Chẳng qua, là một chương trình do Liên Hiệp Quốc tài trợ thì mấy ông mấy bà cũng bỏ công mà di du thuyết một lần, vừa khỏi mất tiền, vừa được du lịch một vòng Đông Nam Á. Cũng là tiền chùa cả, đâu có đau lòng ai mà sợ.

            Buồn cười nhất là việc du thuyết của ông đại tá Mỹ Nguyễn Văn Hai. Ông ta là người Mỹ, tên thiệt là “Mái Cồ” hay “Xì Mít” gì đó, từng qua Việt Nam hồi còn chiến tranh, lúc Mỹ chưa “bỏ của chạy lấy người”, từng làm cố vấn cho quận trưởng Bến Tranh, không biết có phải là ông Ngô Văn Th., người cho thủ tiêu ông già Lê Văn Duyện, người cả gan chống lại “quan quận trưởng”? (1)

            Cũng có thời, ông đại tá Mỹ tên Việt Nguyễn Văn Hai nầy làm cố vấn cho trường hay bộ Xây Dựng Nông Thôn gì đó. Vì vậy, khi tới đảo, ông tìm hỏi xem ai trước kia là cán bộ Xây Dựng Nông Thôn. Thế là đám cán bộ nầy mừng quýnh lên, hy vọng ông đại tá Hai sẽ đưa cả hai tay ra giúp đỡ các ông cán bộ nầy đậu thanh lọc. Thế rồi, mỗi khi ông đại tá Hai vào trại du thuyết bằng tiếng Việt ai hỏng thanh lọc hãy nên về Việt-Nam. Nếu ai muốn “thống nhứt” với gia đình (Thống nhứt là chữ ông ta dùng thay cho tiếng sum họp. Ông ta khoe đậu cử nhân văn chương Việt Nam đấy!) thì hãy ghi tên, chính phủ Mỹ sẽ giúp đỡ. Trong khi các ông cán bộ thì lo điếu đóm cho ông đại tá Hai, kẻ pha càphê, người che dù cho ông đại tá khỏi bị nắng Mã Lai làm cháy mặt, thì đồng bào lại cho rằng ông đại tá Mỹ hứa lèo. Người ta bảo: “Ông tổng thống đại cường quốc còn hứa lèo với ông Thiệu, huống gì ông đại tá biết nói tiếng Vìệt. Mấy tay tình báo Mỹ nầy tin gì được.”

            Bên cạnh đó, để gây áp lực cho người tỵ nạn phải hồi hương, Cao ủy Tỵ nạn đã không làm đúng chức năng của mình như trước kia. Lấy lý do những người hỏng thanh lọc không phải là đối tượng phục vụ của họ (tỵ nạn chính trị), họ bèn chơi trò bẩn thỉu, hạ cấp. Ban đầu thì giảm bớt lương thực: Thay vì phát gạo đủ ăn thì nay bớt đi, cho ăn đói. Nhiều gia đình phải ăn cháo. Trước kia mỗi tuần phát thức ăn ba lần: hai lần gà, một lần cá thì nay chỉ còn mỗi tuần một lần. Trước kia có phát muối, rau thì nay cho ăn lạt. Ăn lạt là vì thiếu muối chứ không phải ăn lạt là ăn chay. Trước kia có gian hàng Mã, gian hàng Tầu bán chạp phô thì nay chẳng có gian hàng nào hết. Thứ hai là núp sau lưng Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai, làm ngơ trước việc lính Mã Lai, chơi trò “bồ tạt” như tôi nói trên kia. Khi những người bị lính Mã Lai đánh đập, lên thưa với Cao ủy thì Cao ủy làm ngơ, coi như không phải phần việc của họ. Vậy thì họ là “Hạ ủy” chớ “Cao ủy” gì nữa!

Thưa độc giả, đó là những hành động “cao thượng” của cái cơ quan được gọi là “Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc”. Cơ quan nầy nhận không ít tiền tài trợ từ chính phủ Mỹ, mà tiền đó cũng một phần là tiền thuế của người Việt ở Hoa Kỳ. Có ai nghĩ tới điều đó hay không?

Sau khi các ông Cao ủy không còn cứu người tỵ nạn nữa, người tỵ nạn trông cậy vào ai?

Không có ai hết!

Đó là mối “Hận” mà nhà thơ Hoàng Vũ ghi lại trong mấy câu thơ:

            Chín tầng lồng lộng cao xanh ấy

            Phật, Chúa ngài đang ngự cõi nào?

            HẬN nén vào thơ treo đỉnh gió,

            Gọi tình người bốn bể năm châu!

Phật, Chúa ở đâu không biết, thánh Ala ngự nơi đâu không hay, nhưng lính Mã Lai thì có mặt hằng ngày, lùng sục, tìm dao tìm búa, sợ người tỵ nạn bạo động, đã không có các gian hàng Mã, hàng Tầu bán chạp phô mà việc mua bán giữa người tỵ nạn trong trại với người Mã nhà ở phía ngoài, sát hàng rào cũng bị theo dõi, bắt bớ và kiểm soát rất chặt.

Trại Sungei Beshi, như đã nói, nằm phía ngoại ô thủ đô Mã Lai. Hàng rào trại được che bàng tôn, rất kín, trong không thấy ngoài, ngoài không thấy trong.

Thường mỗi sáng tinh mơ, khi lính Mã Lai chưa thức dậy, chưa đi tuần thì người trong trại lui phía sau, chỗ có nhà dân phía ngoài để liên lạc nhờ mua hàng giúp.

Bên trong trại là những cô gái chuyên đi mua hàng lậu. Hàng lậu có nghĩa là hàng Mã Lai cấm buôn bán chớ không phải lậu thuế. Ai không quen mua hàng lậu thì nhờ mấy cô gái nầy mua giúp với chút ít tiền công. Bên ngoài, nếu là người Mã Lai chính gốc thì có thể nhờ họ mua những món thực phẩm gì đó, rau, cá thịt bò, chớ không bao giờ nhờ họ mua thịt heo. Người Mã theo đạo Hồi, không ăn thịt heo, và cũng không mua giúp thịt heo cho người khác ăn. Người Việt miền Nam thì lại thường ưa ăn thịt heo. Nếu độc giả là người ở miền Tây hay có về vùng nầy, sẽ thấy chợ nhỏ, chợ lớn ở đây có nhiều sạp thịt heo hơn thịt bò, có khi không có sạp thịt bò. Vì vậy, người tỵ nạn, có ai “nhớ” thịt heo mà muốn ăn thì có bà Tầu nhà sát ngoài hàng rào mua giúp cho. Dĩ nhiên bà người Mã gốc Tầu không phải là tín đồ ông Mohamad.

Bọn lính Mã Lai, tôi không biết chúng có lén ăn thịt heo hay không, nhưng rất thính mũi khi thấy mùi thịt heo nấu chín. Vì vậy, mua thịt heo về rồi, rửa, cắt thì cũng phải làm lén, mà nấu cũng phải nấu lén. Và lỡ khi nồi thịt đang sôi, đang bốc mùi thơm lựng mà có tên lính Mã Lai xuất hiện tuần tiểu ngang qua, có khi không những không được ăn mà còn phải “Trình diện Task Force”.

Việc trình diện nầy cũng khá độc đáo. Nếu người bị bắt vì “tội thịt heo” mua bán, nấu, ăn… là một cô còn trẻ, gặp tên sĩ quan Mã Lai xử tội có máu 35, máu dê thì nó cho hai giờ trình diện một lần, từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều là chấm dứt ngày hôm đó. Gặp “tội nhân” là bà già hay đàn ông thanh niên thì nó bắt một giờ trình diện một lần. Trình diện ba ngày thì nó tha. Gặp ngày phải trình diện thì chẳng còn thì giờ để nấu ăn huống chi làm việc gì khác.

Trốn trình diện là không xong. Người ít bị bắt thì bọn lính Mã Lai rất dễ nhận biết nếu vắng mặt; còn những cô gái buôn bán thường xuyên, bị bắt nhiều lần thì bọn chúng rất quen mặt giới “chị em tiểu thương”, trốn đâu cho thoát.

Một hôm Arlington đến trại! Thế là bắt đầu câu chuyện vui!

Arlington là một cựu trung tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, nay qua làm việc cho bộ Ngoại giao Mỹ, phụ trách “Phái đoàn Hoa Kỳ”. Gọi là phái đoàn nhưng chỉ có một mình anh ta. Lâu lâu, anh ta từ đâu đó, Bangkok hay Indo hay ở Hoa Kỳ tới xét hồ sơ người tỵ nạn, cho định cư ở Hoa Kỳ.

Thái độ của anh ta, như người ta thường nói là “coi trời bằng vung”, chẳng coi “ai” ra gì. “Ai” đây là viên chức Mã Lai hay Cao ủy Tỵ nạn, chớ với người tỵ nạn thì thái độ anh ta rất khác, độc giả hãy cố gắng xem tới phần sau sẽ rõ.

&

Một hôm, anh Nguyễn Công Chính, thông dịch viên thanh lọc cho Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc, làm việc xong, đến thăm tôi, nói chuyện chơi như anh thường đến trước kia. Anh ấy nói:

-“Chú Hải! Hôm qua cháu đi taxi do một người Mã lai lái. Nói chuyện với ông ta về việc ăn thịt heo, cháu kể lại một chuyện mà cháu đã đọc trong sách nào đó đã lâu. Người ta kể hồi ông Mo-Ha-Mát đang còn truyền đạo, có một trận dịch lớn lắm vì người ta ăn thịt heo. Vì vậy nên ông Mô-Ha-Mát cấm tín đồ ăn thịt heo để tránh dịch, chớ có phải kinh Koran cấm đoán gì đâu! Nghe nói vậy, ông ta nổi giận đùng đùng, thiếu đường muốn đuổi cháu ra khỏi xe!”

Tôi nói:

                -“Kinh Koran nào? Ông Mo-Ha-Mát tiêu đời rồi thì có tới 6 bộ kinh Koran do 6 ông “đại đệ tử” của ông ta soạn ra. Ông nào cũng cho mình đúng. Sáu ông đúng, nên có 6 chân lý của kinh Koran. Ông Mô-Hát-Mát có sống lại cũng không biết ông đại đệ từ nào đúng, nói chi tín đồ. Tín đồ mù quáng, cuồng tín, biết cái gì? Cấm ăn thịt heo là họ tu đấy!”

            -“Tu như thế nào? Nguyễn Công Chính hỏi tôi.

            -“Ông” coi phim “cô-song” chưa? Mình gọi là “phim con heo”. Tại sao biết không? Tại vì heo dâm nhất trong hàng loài vật. Cấm ăn thịt heo để khỏi dâm như heo.” Tôi trả lời.

            -“Cháu tưởng con dê mới dâm nhất chớ. Người nào dâm người ta gọi là “dê” chú à!”

            -“Ông” đọc “Lục Súc tranh công” chưa? Trong sáu con gia súc gà, ngựa, chó có tới những hai con vật dâm. Không lý người ta phải nhịn ăn thịt gia súc.” Tôi nói.

            -“Nhịn ăn thịt gia súc thì hết dê, bộ phải ăn chay sao?” Chính nói.

            Tôi nói đùa bằng câu tục ngữ: “Ăn mặn nói ngay, ăn chay nói láo!”

&

Theo luật lệ do Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai đặt ra thì ngay cổng có cuốn sổ. Ai vào ra trại thì xuất trình giấy tờ, xong ký tên vào sổ, khi vô cũng như khi ra.

“Ông trời con” Arlington chẳng cần xuất trình giấy tờ cho lính gác hay ai xem cả. Và hình như người ta cũng biết cái tính cà khịa của anh trung tá nầy rồi. Đậu xe xong là anh ta đi thẳng vào cổng trại. Tới chỗ có cái bàn có cuốn sổ xuất nhập mở sẵn thì anh ta đóng cuốn sổ lại mà chẳng cần ký tên hay ghi danh gì cả. Xong đi vào, thấy một hàng người xếp hàng đứng chờ trình diện, anh ta bước tới, hỏi: “What?” Người tỵ nạn chỉ cần nói “Pork” là anh ta biết ngay họ bị phạt vì tội ăn thịt heo. Vậy là anh ta thu mấy tờ giấy trình diện. Thu tờ nào anh ta xé bỏ tờ đó, vụt xuống đất, đuổi người tỵ nạn “Go home”. Thế là ai nấy hớn hở ra về, việc trừng phạt coi như xong. Mỗi khi xếp hàng trình diện, thấy Arlington đi vào, người ta coi như gặp “vị cứu tinh”, còn hơn “cứu tinh cho dân tộc”.

Vào tới văn phòng Cao ủy, Arlington kéo ghế ngồi, gác chân lên cái ghế trước mặt, và rút thuốc ra hút, mặc dù ngay cửa vào đã có dán mấy chữ “No Smoking”. Vừa hút, vừa xem hồ sơ, Arlington gạt tàn xuống đất. Cô Cao ủy Daeng tìm một cái gạt tàn thuốc đem tới để cạnh đống hồ sơ. Arlington đưa tay đẩy cái tàn thuốc ra xa, không xài tới.

Chưa hết đâu! Anh ta ngồi trong phòng, gọi từng người vào phỏng vấn để xét hồ sơ. Anh thông dịch viên ngồi bên cạnh làm cái công việc “thông dịch thông gà” (mờ).

Có hai mẹ con người Việt, chồng định cư ở Mỹ. Trường hợp nầy, người ta gọi là “diện đoàn tụ”, rất dễ đậu thanh lọc và đã đậu rồi mới được Mỹ xét. Bà mẹ được gọi vào phỏng vấn trước. Xong, bà ta ra khỏi phòng, đứng cạnh cửa, hồi hộp chờ đợi. Cô con gái vào phỏng vấn. Chỉ ít phút, người con gái cũng được ra.  Thấy con, người mẹ lo lắng từ nảy giờ, bèn hỏi con:

– “Sao? Thằng Mỹ nó hỏi mày sao?”

Đứa con gái chưa kịp trả lời thì anh thông dịch viên bước ra cửa, gọi người mẹ vào. Arlington không cho bà ta ngồi, nói ngay, bằng tiếng Việt:

– “Tôi gọi bà bằng bà, gọi con gái bà bằng cô. Tại sao bà gọi tôi bằng thằng Mỹ?”

Bà mẹ chỉ kịp ngồi sụp xuống đất chắp tay lạy lia lịa mà nói rằng:

– “Tui lạy ông! Tui lạy ông! Tui lỡ lời!”

Tưởng là “thằng Mỹ” từ chối hồ sơ, ai ngờ chỉ tháng sau bà ta cùng cô con gái qua Mỹ theo chồng. Hú hồn!

Người ta tranh cãi nhau về trường hợp trung tá Arlington khá nhiều! Kẻ thì cho rằng ông ta khước, dốc, kiêu ngạo. Có người thì bảo rằng y ghét việc thanh lọc, đày đọa người tỵ nạn thì quậy chơi cho bỏ ghét. Vậy thì ông ta chống thanh lọc, cho thế là bất công, chống đối bằng một thái độ tiêu cực chớ làm gì được bây giờ!

            Làm gì được bây giờ?

Làm gì để cứu người tỵ nạn?

            Chịu! Luật tỵ nạn đã có rồi, ai làm ngược lại được.

Khi tôi còn ở trại Marang, thuộc tiểu quốc Teranganu trên đất liền, chờ thanh lọc thì nghe tin tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đến trại tỵ nạn Sungei Beshi. Ở các trại tỵ nạn, nhiều người biết ông tiến sĩ người Việt, làm chủ tịch cơ quan Boat People SOS nên khi nghe tin ông đến trại, ai ai cũng hy vọng, chờ đợi, may ra ông có thể giúp đỡ gì họ, những người đã hỏng thanh lọc, định cư được chăng!

            Thăm thì đến thăm, ông Thắng không làm kẻ du thuyết như mấy ông bà mắt xanh mũi lõ châu Âu đến khuyên người tỵ nạn hãy trở về. Ông đến gặp trại gặp nhiều anh em trong trại tỵ nạn, nhất là những người hỏng thanh lọc, đang tham gia phong trào tranh đấu đòi quyền định cư, nói họ biết, giải thích cho họ rõ về những khó khăn họ phải đương đầu vì luật tỵ nạn đặt ra.

Điều ông Thắng hứa với anh em là trở về Mỹ, ông sẽ gây nên một phong trào, vận động với các dân biểu, nghị sĩ Mỹ, xét lại vấn đề người tỵ nạn bị hỏng thanh lọc. Ông khuyên những người đậu thanh lọc, sắp đi định cư, tới Mỹ, Úc hay Canada, vận động với ngườì Việt đã định cư tại chỗ, liên lạc và đặt vấn đề người tỵ nạn hỏng thanh lọc, với các vị dân cử ở địa phương. Đó là động cơ khiến tôi viết hơn 10 bài nhan đề là “Thảm Trạng Thanh Lọc ở Mã Lai” đăng trên báo Văn Nghệ Tiền Phong và tham gia những buổi vận động ở Masss do ông Phạm Thư Đăng tổ chức như tôi đã trình bày ở trên, cũng như các cuộc vận động do chị Julitte Hạnh tổ chức, gặp vài dân biểu liên bang ở địa phương để trình bày vấn đề như tôi đã làm với các dân biểu Neal, Peter Blute và McGovern của Central  Mass. Trong khi đó thì tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và cơ quan Boat People SOS của ông thì lobby tại quốc hội Hoa Kỳ.

            Nhiều người tin rằng, với sự hoạt động tích cực và bền bĩ của tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, quốc hội Mỹ đã thông qua chương trình định cư cho người hỏng thanh lọc, được đi Mỹ theo “diện RORV” (Resettlement Opportunity for Vietnamese Returnees).

hoànglonghải

(1) Ông trung tá quận trưởng Bến Tranh, tỉnh Định Tường tên là Ngô Văn Th. bị ông già Lê Văn Duyện tố cáo tham nhũng. Ông quận trưởng bèn cho lính giả làm Việt Cộng bắn chết ông già to gan. Báo chí điều tra làm tùm lum lên, ông trung tá quận trưởng bị đưa ra tòa án quân sự vùng 4, ở Cần Thơ. Nhờ ông trung tá có cô em vợ là người đẹp làm speaker của đài TV Cần Thơ, quen lớn với ông tướng vùng. Thế là khi ra tòa, ủy viên công tố, làm chuyện ngược đời, thay vì lên án ông trung tá quận trưởng, thì lại bênh vực, khiến báo chí lại nhao lên lần nữa vì trò đời chơn giả khó phân, bảo rằng đời bây giờ không phải “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” như tục ngữ nói mà phải sửa lại là “cái ấy” đâm toạc tờ giấy mặc dầu “cái ấy” cũng chỉ là “Thịt da đâu cũng thế mà thôi” chớ không phải sắt thép chi cả.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: