Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (13) – Thánh cứu người

1Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán

Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi

Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận

Đã sinh ra thân thể con người

(thân thể – Huy Cận)

 

Chuyện của Phùng Trí Hằng,

hiện định cư ở Florida

Hai hôm sau, buổi trưa, cha Queentin đến chỗ tôi ở. Ông mang theo một cái gói, nói với vợ chồng tôi rằng cha mua cho, theo lời yêu cầu của vợ tôi. Mở gói ra xem, tôi ngạc nhiên và thích thú khi thấy một cái ống vố hiệu Dunhill và ba gói thuốc lá, một gói hiệu “79” là thứ tôi thường hút trước 1975. Tôi cám ơn cha rối rít. Cha Queentin nói thêm, cha không biết tôi ưa loại thuốc gì. Cho cha biết, lần sau qua đất liền, cha sẽ mua thêm. Tôi vâng dạ, nhưng thầm nghĩ, sẽ nhờ “Gian hàng Mã” (1) mua giùm.

Tôi nói với cha về việc tranh đấu. Những người rớt thanh lọc, quả tình rất đáng thương. Họ không thể trở về. Với cha, tôi chỉ nói tới việc họ sợ Dziệt Cộng trả thù, theo dõi, kềm kẹp, rất khó sống.

Tôi không nói về tự do. Lý thuyết, nhiều khi không thực tế, nên nói cũng vô ích. Sở dĩ tôi chủ trương như vậy vì tôi nhớ câu cha Quentin nói hôm tôi gặp cha ở văn phòng Cố Vấn Hùng:

“Tự do ở trong trái tim” Khi nói câu ấy, cha Quentin đưa bàn tay to nhưng gầy để lên phía trái ngực của cha. Khi cha đã nói như thế, thì lý luận với cha như thế nào để cha có thể hiểu ở Việt Nam bây giờ không có tự do.

Tuy nhiên, tôi không nói với cha về lòng tự ái, nỗi buồn rầu, khi người hỏng thanh lọc phải trở lại quê nhà. Tâm lý người Việt, sau chiến tranh, bỗng trơ cứng đi, vô cảm. Cái chết, cái đói, sự đau đớn về lửa đạn, chinh chiến làm cho lòng người chai đá, thấy người chết không buồn, thấy người đói không thương, thấy người hoạn nạn không xúc động. Người tỵ nạn bị cưỡng bức hồi hương chắc gì sẽ được đồng bào thương xót, thậm chí còn mai mỉa cho là ham vui, ham sướng ra đi để nay bị trở về, mất mát, đói rách… và “đáng đời”.

Thật vậy, anh Phan Trí Hằng nói với tôi:

“Nhà em ở trên đường lên Quang Trung (2). Em kiếm việc làm không ra. Vợ em buôn gánh bán bưng nuôi con. Sống không nỗi, đành bán nhà để vượt biên. Nay về lại, nhà không có mà ở, việc không có mà làm, lấy gì nuôi năm đứa con.”

Tôi nói:

– “Phải đi! Đi thì còn sống, về là chết. Chết một “cửa tứ.”

Sống chung với đồng bào tỵ nạn, nghe họ kể về đời mình, nghe họ than thở, kêu rêu, thật đau lòng nhưng có sống với họ mới hiểu, thông cảm và biết thêm tình người!

Hồi tôi mới định cư ở Mỹ, trong một buổi họp ở Boston, do ông Phạm Thư Đăng tổ chức, có anh Nguyễn Đình Thắng từ Virginia về dự, để bàn cách làm thế nào giúp đồng bào đang kẹt bên các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Bỗng nghe một người, qua Mỹ chắc cũng đã lâu hiện làm thư ký thư kiếc gì đó cho một khách sạn ở Boston, phát biểu một câu làm tôi ngạc nhiên đến sững sờ:

– “Những thứ đó, cho qua đây làm gì, chỉ xấu hổ thêm. Biểu họ về đi.”

Nói xong, ông ta bỏ ra khỏi phòng, đi một mạch.

Thì ra vậy, những người nghèo khổ, giành giật miếng ăn nên ghét bỏ nhau đã đành. Những người nay giàu có sung sướng rồi, sợ dây vào đám bần cùng, chỉ thêm “xấu hổ” mình.

Tôi không hiểu cái “xấu hổ” đó, người ta lấy từ đâu ra: Từ văn hóa của người Việt, từ Từ bi của đạo Phật hay từ Bác ái Công giáo. Không! Nó không từ những chỗ ấy mà ra. Nó từ lòng ích kỷ, đố kỵ nhỏ nhen, từ tâm lý của chính người ấy hay từ cái gène của gia tộc anh ta đó thôi!

Khi còn ở trại Sungei Béshi, một buổi trưa, vừa ăn cơm xong thì một cô gái, tên Lữ, cũng gần tới 30 tuổi, cao gầy, quen với vợ tôi, đến chơi. Vợ tôi mời cô lên gác, chỗ ngủ. Vừa ngồi xuống, tôi nghe tiếng cô ta khóc nức nở, và tiếng than:

– “Chị ơi! Má em nuôi em cực khổ. Em chưa làm gì trả hiếu cho má mà nay em hỏng thanh lọc rồi chị ơi!”

Nghe tiếng khóc, lời than cô ấy, tôi bỗng thấy xúc động mạnh, tưởng như có cái gì đè nặng lên ngực mình, chẹn nơi cổ tôi.  “Chưa làm gì để trả hiếu cho má mà nay em hỏng thanh lọc.” Vậy thì rõ ràng cô ta mong đậu thanh lọc, mong đi định cư để trả hiếu cho mẹ. Trả hiếu cho mẹ, có nghĩa tới nơi định cư, Mỹ, Úc gì đó, làm lụng, chăm chỉ, chắt bóp từng đồng, từng xu để gởi về “trả hiếu cho mẹ”, để mẹ có cơm canh ngon ngọt, để mẹ sắm cái áo, cái quần, để mẹ sửa sang nhà cửa, thay một mái tranh, vá lại bức vách. Chuyện thì nhỏ mà vĩ đại quá, lòng thương mẹ của cô Lữ, của người Việt vĩ đại quá.

Ai cũng có mẹ, ai cũng muốn làm lụng, dù vất vã, tiết kiệm từng đồng xu để lo cho mẹ, giúp mẹ. Cái vĩ đại của con người, chính là hoàn tất những việc làm nhỏ nhặt thường ngày. De Amicis (3) nói vậy! Cái vĩ đại của người con chính là làm những việc nhỏ nhặt thường ngày… để lo cho mẹ. Đó là vị tha… cho mẹ.

Trường hợp của cô gái nầy vĩ đại hơn! Cô ta vượt biên, xông pha vào nơi nguy hiểm, có hải tặc, có sóng to gió lớn, có bão táp. Để làm gì? Để kiếm tiền gởi về cho mẹ!

“Mà nay em hỏng thanh lọc rồi chị ơi!”

Nó có nghĩa là em không lo tròn chữ hiếu, không có cơ hội kiếm tiền gởi về cho mẹ. Đó là tiếng kêu than vô cùng đau đớn, là tiếng kêu tuyệt vọng của một sinh vật bị một vết thương trí mạng. Hỏng thanh lọc rồi, có nghĩa cô ta phải trở về, sống bên mẹ mà không lo gì được cho mẹ cả, không giúp đỡ gì được cho mẹ cả, là tiếp tục những ngày sống mòn của tuổi thanh xuân một cách vô ích, trong sự hao mòn của năng lực, của sức sống, và lại chìm ngập trong bóng đêm của những ngày tháng u buồn, tuyệt vọng. Ra đi, tìm thấy một nguồn sáng ở cuối chân trời. Hỏng thanh lọc là tia sáng vừa le lói ấy đã vụt tắt.

Anh chị em chúng tôi rất thương mẹ. Điều ấy khá dễ hiểu. Cả gia đình tôi đi kháng chiến, lên chiến khu. Năm 1948, cha tôi bị bệnh qua đời cũng ở trên ấy. Người chị cả cũng qua đời trước đó một năm. Thế rồi mẹ tôi đem 7 đứa con còn lại, từ chiến khu, về “theo Tây” để anh em chúng tôi được đi học trở lại, được no cơm ấm áo, là nhờ công lao của mẹ. Lúc đó, mẹ tôi mới 41 tuổi! Công ơn mẹ như thế, có đứa con nào mà không biết thương yêu, nhớ ơn mẹ. Từ chỗ đó, tôi kính trọng những ai biết thương yêu mẹ như anh chị em tôi. Tiếng khóc than của cô Lữ, là tiếng lòng của cô ta, nhưng đó chính là tiếng lòng của ai có mẹ, thương yêu mẹ, như anh chị em chúng tôi, như chính tôi vậy.

Có ai hiểu tâm trạng của những người hỏng thanh lọc?

Có ai thương xót cho những người đang đi trên một cuộc hành trình gãy đổ, có ai thương cho những người phải quay lại một vòng tròn, tiếp nối những ngày đau buồn, đói khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả tự do ở quê nhà. Giá như chúng ta là những người hỏng thanh lọc và bị cưỡng bức hồi hương, chúng ta sẽ nghĩ gì, thấy gì, khi gặp lại những tên Công an, trở lại với buôn gánh bán bưng, đầu tắt mặt tối mà không đủ chén cơm, không đủ cọng rau cho con ăn, thiếu cái áo lành cho con mặc, thiếu đôi dép cho con mang.

Những  đứa trẻ sinh ra ở Mỹ, lớn lên ở Mỹ, và cả những người sống quen đời sống Mỹ, sẽ không bao giờ tưởng tượng ra được ở Việt Nam, ngay bây giờ, lúc nầy, có những đứa bé đi chân đất, chưa bao giờ xỏ chân vào đôi dép nhựa, đừng nói chi tới hai chiếc giày, những đứa bé chưa bao giờ xỏ tay vào cáo áo mưa bằng nylon, mà phải co ro trong cái tơi lá, với quần xà lỏn, với chiếc áo vải mong manh, giữa cơn lạnh mùa đông, trong cảnh mưa phùn gió bấc mà có lần bác sĩ Lê Trọng Lộc vừa kể lại vừa chảy nước mắt khi thấy đứa bé “chự bò” (4), như tôi viết về cuộc đời ly hương của ông.

Có khi, nửa đêm, tôi giật mình thức dậy, toát mồ hôi lạnh vì một giấc mơ tôi còn ở trong trại cải tạo.

Tất cả những cảnh tượng đó, chính là cảnh “Đoạn trường” – như Nguyễn Du viết “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.”  Những người nhanh chân hồi 30 tháng Tư 1975, chưa từng trải qua cảnh đoạn trường khi quân Cộng Sản chiếm miền Nam. Cũng không ít người đã từng “qua cầu”, đã hay nó, biết nó, nhưng có ai còn nhớ lại không để thương cho những người phải quay trở lại cảnh đoạn trường ấy theo một

con đường vòng.

Dù vậy, rõ ràng cô gái ở trên ra đi vì tìm đường nuôi mẹ. Đâu có một động cơ chính trị nào thúc đẩy hay buộc cô ta rời bỏ quê hương như luật tỵ nạn đòi hỏi. Người ta quên đi một điều, hầu như phần lớn những người vượt biên là vì lý do kinh tế. Nhưng động lực kinh tế đó không phải là do chính trị tạo ra hay sao? Chế độ chính trị độc đoán, hà khắc đã tạo ra tất cả, đã đẩy người dân vào hoàn cảnh thất nghiệp, thiếu ăn thiếu mặc. Ai có liên hệ đến chính quyền miền Nam trước 1975 thì đều giống nhau cả, chỉ tùy thuộc ở “mức độ phản động” cao thấp, ít nhiều mà thôi.

&

Phùng Trí Hằng hỏi tôi:

– “Làm sao em đậu được anh?”

– “Làm sao? Phải nói láo chớ làm sao? Đậu hay hỏng, ai cũng phải nói láo mới qua được thanh lọc, láo ít hay láo nhiều mà thôi. Anh là người có đạo. Anh có nói láo được không?” Tôi hỏi.

– “Được chứ anh! Nói láo để đậu thanh lọc là em nói láo liền.”

– “Phải nói láo. Không có cách nào khác. Bọn mình không có con đường nào khác. “Ông” lên nhà thờ xưng tội đi, rồi tôi bày cách nói láo cho “ông.”

– “Khỏi anh! Chả cần! Khỏi xưng tội! Em đậu được, em xưng tội một lần luôn.” Hằng vừa cười vừa nói.

– “Tui bày cho “ông” nói láo, còn nói hay không là tùy “ông”. Khi xưng tội, “ông” đừng đổ thừa cho tui, tại vì “thằng tui” mà ông nói láo, nghe chưa!”

Khi nói hai tiếng “thằng tui”, tôi đưa tay chỉ vào người tôi.

Hằng cười, sung sướng:

– “Anh bày cho em đậu thanh lọc, ơn anh lớn lắm. Chưa cám ơn sao lại có thể đổ thừa cho anh. Chúa biết, em càng thêm nặng tội.”

Tôi bỗng nhớ tới bốn câu thơ của Huy Cận: “Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán, Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi, Thì hẵn Chúa cũng thẹn thùng hối hận, Đã sinh ra thân thể con người.” Chúa sinh ra con người làm chi mà để con người khổ vậy hè?!

Tôi nói với Hằng:

–  “Tui có cách nói láo rồi, để tui sắp xếp lại cho có đầu có đuôi. Sáng mai, sau mười giờ, “ông” lên gặp tui. Tui sẽ bày trò cho. Trò nầy chắc ăn trăm phần trăm.” Tôi lại đùa:  “Ông” không đậu thì tui đốt hết sách vở thánh hiền tui đã học cho xong.”

Hôm sau, đúng giờ hẹn, tôi với Hằng ra ngồi ngoài bãi biển Khu C, gần chỗ Hoàng tự tử để nói huyện cho dễ. Vừa yên chỗ, tôi hỏi Hằng:

– “Ông có biết vụ phong thánh cho 117 vị tử đạo không?”

– “Biết chút chút.” Hằng trả lời.

– “Mẹ” – tôi chưởi thề – “Tui không phải là người có đạo, tui cũng biết. Ông đạo dòng mấy đời mà chỉ biết chút chút! Nghe muốn nổi sùng.”

– “Biết chút chút là được rồi. Vợ chồng em lo chạy gạo toát mồ hôi, còn chưa đủ cho con ăn. Biết tới mấy ông thánh cho nhiều, nồi cơm có đầy thêm được đâu!” Hồng phân trần.

– “Chủ nghĩa thực dụng!” Tôi nói. “Vậy là chủ nghĩa thực dụng đấy. “Bác Hồ” của tụi Việt Cộng sợ điều nầy lắm. Cán bộ mà “chủ nghĩa thực dụng” thì chỉ lo cho đầy túi – túi tham đấy – túi tham không bao giờ đầy. Dân thì khổ mà cán bộ thì giàu có.”

– “Cán bộ bây giờ giàu lắm anh ơi!” Hằng thêm vào.

Tôi cười:

– “Rơi vào cái nầy thì “ông cố nội cũng xa”.  Má tui hồi xưa hay nói câu “Phú quí đa đinh hội, cùng bần ông cố nội cũng xa.” Ông cũng bỏ luôn 117 ông thánh. Ông có biết bây giờ tôi nhờ 117 ông thánh cứu ông đây!”

– “Là sao? Anh! Anh giúp em đậu là nhờ anh chớ có ông thánh nào vào đây?” Hằng nói, với vẻ lo lắng.

– “Từ từ. Để tui nói cho ông nghe. Ông có biết tấm hình nói về 117 ông thánh Việt Cộng cho phổ biến ở Việt Nam không?” Tôi hỏi.

– “Biết! Em có thấy ở trước khi vượt biên.” Hằng nói.

– “Ông” có thấy bức hình đó được vẽ lại trên nhà thờ Bidong không?” Tôi lại hỏi.

– “Có! Em có thấy!” Hằng trả lời.

– “Ông có thấy hai bức hình đó có chi khác nhau không?” Tôi lại hỏi.

Hằng không trả lời, có vẻ suy nghĩ. Tôi cứ để yên cho anh ta suy nghĩ. Một lúc lâu, Hằng nói:

– “Em thấy hình như có chỗ khác anh à!”

– “Khác thật chớ hình như mẹ gì nữa. Ông rán tìm cho ra cái chỗ khác đó đi. Tại sao nó khác nhau? Suy nghĩ đi.”

Một lúc lâu, Hằng lại nói:

– “Anh chỉ cho em đi! Việc nầy rắc rối, em không rành!”

– “Tui muốn “ông” suy nghĩ là để “ông” nhớ cho lâu, khi phỏng vấn, dễ trả lời. Chớ tui nói thì dễ thôi, nhưng “ông” phải nhớ kỹ, thuộc lòng mới được.” Tôi nói.

Ngưng một lúc, tôi lại hỏi Hằng:

– “Bức tranh trên nhà thờ là bức tranh nguyên thủy, do tòa thánh La Mã phát hành. Đúng không?”

– “Đúng!” Hằng trả lời.

– “Bức tranh được phổ biến ở Việt Nam” tôi nói: “là bức tranh bị Việt Cộng bắt sửa lại. Nó khác nhau ở chỗ nầy, phải nhớ kỹ:

“Cái giống nhau là trời xanh, hình mấy ông thánh, lũy tre làng.

“Khác nhau là dưới lũy tre làng, tranh của La Mã thì vẽ gông xiềng, người bị trói chờ xử chém, người cầm mã tấu giơ cao lên, để chém tử tội. Đúng chưa”

– “Dạ đúng!” Hằng nói.

– Tranh ở trong nước, Việt Cộng bắt sửa lại là không có cảnh chém giết đó mà chỉ có ruộng vườn, con trâu, người đi cày, bé chăn trâu. Nhớ chưa?”

– “Dạ nhớ!” Hằng nói.

– “Ông” có biết tại sao Việt Cộng bắt sửa như thế, biết không?” Tôi hỏi.

– “Dạ không!” Hằng trả lời tỉnh bơ.

Tôi cười, giải thích:

– “Một là, nếu nói về dân tộc, thì người Việt Nam hiền hòa, không muốn chém giết nhau nên không muốn vẽ ra cái cảnh ấy! Tuy vậy, điều nầy không quan trọng. Chính yếu là việc chém người theo đạo Thiên Chúa là nghề của Việt Cộng. Chúng nó ác không thua gì vua chúa ngày xưa, mà có phần trội hơn. Cảnh ấy làm cho chúng nó chột dạ, nó nhắc người

Việt Nam nhớ lại những gì chúng nó đã đối xử, đã chém các cha, các tín đồ. Vì vậy chúng nó sợ, không muốn có, bắt phải xóa đi. Việc nầy có liên gì đến việc thanh lọc của “ông”? “Ông” biết không?”

– “Dạ chịu!”  Hằng trả lời nhanh, không suy nghĩ. Một lúc, anh ta nói tiếp:

– “Bố em đi lính Quốc Gia, tử trận ở lò đường Bình Dương, khi Việt Cộng tấn công phá lò đường. Còn em là trung sĩ. Em tưởng khai cái đó chứ!”

– “Điểm chính là lý do tại sao rời Việt Nam? Điều nầy mới quan trọng. Các điều khác cũng khai, nhưng là lý do phụ.”

Một lúc sau, tôi nói với Hằng:

– “Lý do chính khiến anh phải rời Việt Nam là vì tụi nó tìm bắt anh. Anh làm gì mà tụi nó tìm bắt anh? Ấy là việc anh phổ biến bức tranh phong thánh 117 vị tử đạo của La Mã. Hình ấy từ ngoại quốc lén gởi về, “ông” đem phổ biến cho bà con tín đồ. Việc bại lộ, chúng nó tìm bắt “ông” nên “ông” phải trốn đi. Tuy nhiên, nói có sách, mách có chứng mới được.”

– “Là sao anh?” Hằng hỏi, lo lắng.

– “Ông gởi thư về Việt Nam, nói cho bố vợ anh, gởi cho anh một bức hình thánh tử đạo in ở trong nước. Thứ hai, nhờ một ông cha ở Ý hay ở Pháp, ở Mỹ gởi cho anh bức hình do La Mã phổ biến. Khi thanh lọc, anh trình cho luật sư Cao ủy và Mã Lai hai bức hình nầy, chỉ cho họ thấy rõ sự khác nhau.” Tôi giải thích.

– “Em có quen ông cha, ông chú nào ở “nước ngoài” đâu!” Hằng nói.

– “Tui mà phỏng vấn thanh lọc, tui cho anh rớt cái bịch ngay. Phải nói là “hải ngoại” như hồi trước 1975. “Nước ngoài” là danh từ Việt Cộng. “Ông” bị “Việt Cộng hóa” thì tui cho “ông” về ở với tụi nó.” Tôi nói nửa đùa nửa thật!

– “Anh thông cảm, em quen miệng, cứ chúng nó nói sao, em theo vậy.” Hằng trả lời, vẻ không vui.

Ngưng một lúc, tôi nói tiếp:

–  “Để tui hỏi cha Đại là người tui quen thân ở bên Mỹ coi. Đối đế lắm, anh kêu thợ chụp hình lên nhà thờ chụp lại bức tranh trên đó. Nhưng phải kín, kẻo người ta “cướp công cách mạng” thì hỏng ăn.”

Tôi nói thêm:

“Ông phải khai tên tuổi, địa chỉ một ông cha nào đó ở Mỹ. Tui sẽ cho “ông” mượn tên, địa chỉ cha Đại để khai. Để phòng chừng, tui sẽ nói trước với cha Đại là cha đã gởi bức hình nầy về cho bố vợ anh, không qua đường bưu điện mà do một người quen của cha lén đem về.

“Ông” phải khai bố vợ “ông” đưa tấm hình nầy cho “ông”. “Ông” có trình bày với hội đồng giáo xứ, tức là họ đạo đấy, và mấy ông ấy đồng ý giao cho anh phổ biến bức hình nầy. “Ông” có quen ai làm thợ hình không?”

–  “Dạ có, thằng bạn em. Thằng đó vượt biên sau em, hiện ở Indô.” Hằng nói.

– “Tốt. Anh phải nhớ tên tiệm, địa chỉ, khai là nó in giúp 100 tấm, giá rẻ. Nhớ gởi thư bảo nó nếu ai hỏi thì nói có in giúp anh một trăm tấm hình phong thánh. Còn bố vợ anh?”

– “Ông bỏ xứ lên Lái Thiêu rồi. Ông “điện chạm” hơi nặng, xăng đít (110) lên đơ xăng vanh (220)”, (4) ba hồi tỉnh ba hồi điên.”

– “Tốt! “điện chạm” là tốt. Cần nhứt là hai tấm hình khác nhau trình cho phái đoàn xem. Còn như tên địa chỉ người nào đó, sức mấy mà Cao ủy xác minh, thì giờ đâu! Cao ủy cũng chẳng nhờ Dziệt Cộng đâu. Họ không tin Dziệt Cộng đâu. Cần nhứt là “ông” nói láo rất tỉnh, như thật, có thứ lớp, khiến Cao ủy tin là được. Nhưng “ông” có một cái khó khác.”

– “Cái gì anh?” Hằng hỏi, vẻ nôn nóng.

– “Việc phổ biến hình thánh tử đạo khiến anh phải đi trốn, vượt biên một mình “ông” thì hợp lý. Tại sao lại vượt biên cả gia đình được? Vô lý quá!”

– “Em có vượt biên cả gia đình đâu!” Hằng cải.

– “Cả nhà qua một lần, cùng một “phom”, một blue card mà?!”

– “Thực ra, em đi trước một tuần. Vợ và mấy đứa con em đi sau. Lên ghe lớn, em mới gặp lại vợ con. Chỉ có đưa con gái đầu, nó không chịu đi. Nó sợ.” Hằng giải thích.

– “Ông” kể đầu đuôi câu chuyện vượt biên của “ông” đi. Tại sao “ông” đi trước, vợ con đi sau.” Tôi đề nghị.

– “Vậng!” Hằng nói. “Chuyện của em như thế nầy. Sau 75, em xin vô làm ở một gara sửa xe hơi trong Chợ Lớn với thằng em vợ. Sáng đi chiều về. Bây giờ Saigon chẳng ai đi “ô-tô con”. Chỉ còn xe đò thôi. Gara em làm, chuyên sửa, tân trang xe đò nên cũng có việc đều đều. Thỉnh thoảng có sửa xe Jeep của tụi Công an. Được gần hai năm, Dziệt Cọng bắt gara vô hợp tác xã. Thế là em mất việc. Khai lý lịch, tụi nó nói bọn chế độ cũ không tin được, nhứt là có sửa xe cho Công an. Thằng bí thư phường nói với ông chủ người Tầu: “Khi sửa xe, “ló” gài “nựu đạn” vào xe Công an “nà” ông tù mọt gông đấy nhá.” Ông chủ người Tầu nhát gan, sợ quá, biểu em nghỉ. Vậy là em thất nghiệp”

Không hiểu sao, hơn nửa năm nay, người ta đem máy Yanmar đến sửa nhiều quá! Nghi là người ta sửa máy ghe để vượt biên. Chuyện y như thật. Thế là thằng em vợ em tìm cách làm quen với một ông chủ sửa máy, chuẩn bị ghe vượt biên thật. Ông ta đã làm hai chuyến, trót lọt, đang chuẩn bị chuyến thứ ba. Rồi thằng em vợ ghé nhà biểu vợ chồng em đi. Nó bảo tình cảnh anh chị kéo dài chắc chết. Đi đi! May ra còn sống! Nó không đi vì chưa có vợ con gì, còn độc thân, chưa đói rách. Vợ chồng em thì tả tơi quá rồi, phải đi thôi. Kẹt là đi cả nhà, phải trả trước 7 khoen, tiền taxi cho 7 người.

Ngưng một lúc, Hồng kể tiếp:

– “Tìm đâu ra 7 khoen, một khoen cũng đủ chết, huống chi 7. Em gặp thằng em vợ lần nữa. Nó hẹn em gặp ông chủ ghe. Tin tưởng lắm! Thế rồi em bàn với vợ bán nhà để đi. Em bán cái nhà 6 cây, đưa trước một cây. Em phòng xa, nếu vợ chồng em đi được, thì người mua lấy nhà. Nếu không đi được, em về lại nhà cũ, trả lại cây vàng. Người mua nhà là ông cậu em, nên cũng dễ thông cảm nhau. Thế là em chuyển hộ khẩu cho ông vào nhà em để nhận cây vàng. Cái khó là nếu gia đình em không đi được, mất ít nhứt là 7 cái khoen, lấy đâu trả lại cho người mua nhà, dù là cậu cũng phải giữ lời. Bàn đi tính lại, không có cách nào khác hơn là liều.

“Thế rồi đến ngày đi, ông chủ ghe cho em đi trước, về ở nhà ông, Hộ Phòng, ở Bạc Liêu cho an toàn. Công an có bắt vợ con em, đàn bà con nít, chúng cũng phải thả ra. Em chẳng biết cách họ tổ chức như thế nào cả. Biểu ở thì ở, biểu đi thì đi. Khi lên “con cá lớn”, em mới gặp lại vợ con.”

Tôi nói:

– “Cứ sự thực như thế mà khai. Sửa một chút là vì Công an tìm bắt nên ông phải trốn đi, trước nửa tháng. Phải kéo thành nửa tháng cho hợp lý. Mọi việc chuẩn bị ghe tầu, tổ

chức là do em vợ và người quen của nó là ông chủ tàu lo. “Ông” mới trốn môt tuần mà cả nhà đi liền là nhanh, không hợp lý lắm. Riêng đứa con gái lớn, có đi với mẹ, nhưng bị Công an bắt vì tình nghi nghi vượt biên. Phải đổ cho Công an cái tội mà chúng nó thường làm, cho đáng đời. Nếu Cao ủy có hỏi con gái bị bắt như thế nào, “ông” nói không biết, xin hỏi vợ “ông”. Hễ Cao ủy kêu vợ “ông” thì vợ “ông” phải khóc nghẹn ngào, trả lời không rõ. Thấy người mẹ khóc vì thương con bị tù, Cao ủy mủi lòng, sẽ không hỏi nhiều, không làm khó dễ! Yên tâm.”

Một lát sau, tôi lại nói:

– “Nếu luật sư gọi vợ ông lên phỏng vấn, thế là “ông” có hy vọng, tụi nó tin ông. Coi như “ông” khai thế là được. Điều thứ hai, vợ “ông” có dễ khóc không! Giả khóc mà nước mắt đầm đìa than vãn, cầu Chúa, lạy Phật tứ lung tung lên, thế là “ăn” lắm.”

Hằng cười, trả lời tôi:

– “Anh có biết mấy bà Bắc kỳ khóc thuê đám ma không? Khóc thuê, chẳng bà con gì mà người ta khóc như thật.”

– “Tôi có nghe nói, nhưng chưa từng thấy bao giờ.” Tôi trả lời.

– “Bữa nào Cao ủy gọi vợ em lên, anh đứng rình mà xem.” Hằng vừa nói vừa cười, “Vợ em mà đi khóc mướn, người ta phải trả công gấp đôi mới xứng cái tài của vợ em. Cục đá mà thấy vợ em khóc, cũng phải cho đậu, nói chi Cao ủy”

Tôi cũng cười vì câu trả lời của Hằng. Kết thúc “buổi học bài”, tôi nói:

– “Ông về lo chuẩn bị tất cả như tôi dặn. Cố nhớ và suy nghĩ những gì tôi bày cho anh mà thấy chưa hợp lý. Hai tuần nữa, tui sẽ giả làm Cao ủy phỏng vấn, “ông” trả lời. Mình phải dượt cho kỹ, thực tập cho nhuyễn trước khi “ra quân”. Nhớ không.”

Hằng dạ, chúng tôi đứng dậy ra về.

Hơn hai tuần sau, tôi “dợt” cho Hằng lần đầu tiên. Anh ta trả lời cũng tạm ổn. Hai tuần trước khi thanh lọc, tôi “dợt” lại hai lần nữa cho Hằng.

Vậy mà, cũng cách hai tuần trước thanh lọc, Hằng tìm tôi, giọng thiểu não:

– “Em nói thật với anh, em đào binh!”

Tôi hốt hoảng:

– “Đào binh là sao?”

– “Là đào ngũ! Em đào ngũ khỏi quân đội!”

– “Chết cha!” Tôi nói. Rồi hỏi tiếp:

– “Ông” đào ngũ lúc nào! Sao không nói.”

– “Dạ! Tết 75, em được phép về Saigon thăm nhà. Vợ em sắp đẻ. Vả lại, ở Quảng Ngãi, lúc đó đánh nhau dữ quá, em cũng ngại trở lại đơn vị. Thấy em chuẩn bị trả phép, vợ em khóc. Nhìn cái bụng vợ thề lề, em “đào” luôn.”

Tôi không nói gì, trầm ngân suy nghĩ. Một lúc lâu, tôi hỏi Hằng:

– “Khi tới đảo, ông có khai ở phòng SB là đào binh không?”

– “Không! Em mới nói với anh lần đầu.”

Tôi nói, và giải thích:

– “Được! Không can chi! Anh về phép tết, ở luôn Saigon, tức là đào ngũ khoảng tháng 2- 1975. Cuối tháng 2, đại đội trưởng mới báo cáo lên tiểu đoàn. Ít ra, cuối tháng 3 tiểu đoàn mới báo cáo lên trung đoàn. Cuối tháng tư, chẳng còn ai để báo cáo cho ai hết. Vậy là trong hồ sơ bộ Tổng Tham Mưu, anh chưa bị báo cáo đào ngũ, coi như còn ở lính. Ấy là chưa kể, có thể mỗi nơi, dìm vài tháng để lảnh đồng lương lính ma của anh. Dại gì họ báo cáo liền để mất “quyền lợi.” Cứ cái “hệ thống quần dài” như thế mà báo cáo, thì trước ngày 30 tháng Tư, trong hai cái dĩa IBM hồ sơ quân vụ của một triệu lính Việt Nam Cộng Hòa, không có tên anh trong mục đào ngũ. Cứ yên yâm, anh không khai ra thì đại tá Bill (6) cũng chịu thua “chăm phần chăm”.

Nghe tôi giải thích như thế, Hằng yên tâm, hớn hở ra về.

&

Y như rằng, luật sư Cao ủy gọi vợ anh ta lên.

Tôi phải sửa lại câu tục ngữ “Biết con không ai bằng mẹ” thành “Biết vợ không ai bằng chồng.” Xong buổi phỏng vấn, hai vợ chồng Hằng dắt tay nhau vui vẻ ra về. Chẳng cần hỏi, cũng biết họ đậu thanh lọc.

Tôi không bao giờ hối hận việc bày cho hai vợ chồng Hằng nói láo khi phỏng vấn thanh lọc, nhứt là sau khi biết họ định cư ở Florida, làm ăn khá giả, mua nhà tậu xe, bảo lãnh cho đứa con lớn qua Mỹ, đoàn tụ với cha mẹ và tôi cũng không vui khi biết cả hai “Áo gấm về làng.”

hoànglonghải

(1) Tại Bidong có hai gian hàng bán chạp phô cho người tỵ nạn, một gian của người Tầu-Mã (Nguời Mã gốc Tầu), đồng bào tỵ nạn thường gọi là “Gian hàng Tầu”. Gian hàng thứ hai của người Mã Lai, thường gọi là gian hàng Mã.

(2) Con đường từ chợ Gò Vấp lên “Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung” cũ.

(3) Nhà giáo dục người Ý, tác giả cuốn “Grand Coeur”, Hà Mai Anh dịch thành “Tâm Hồn Cao Thượng”, sách gối đầu giường của học sinh tiểu học thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa.”

(4) Chự bò: Giữ bò. Tiếng địa phương Trị-Thiên.

(5) xăng đít lên đơ xăng vanh, tiếng Pháp có nghĩa là điện 110 volt lên 220 volt. Câu hài của hề Phi Thoàn, Khả Năng.

(6) Đại tá Bill, xin xem lại bài số 2, viết về phòng SB.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: