Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

ĐIỆP MỸ LINH – CHÚT TÌNH ĐỂ LẠI HAWAII

???????????????????????????????Không nhớ bắt đầu từ tuổi nào và tại sao khi tâm trí tôi hơi thảnh thơi một tý thì một dòng nhạc lại âm thầm reo lên trong hồn tôi. Dòng nhạc không âm thanh này buồn hay vui tùy theo hoàn cảnh và trạng thái tình cảm của tôi. Cũng có khi trạng thái tình cảm của tôi thay đổi tùy theo tiết tấu của dòng nhạc. Vì không nhớ lời ca, cho nên, đôi khi ngẩu hứng, tôi thường “ư hử” theo âm điệu của dòng nhạc ẩn kín trong hồn tôi chứ ít khi tôi hát thành lời.

Vậy mà, một sáng nọ, từ khung cửa nhỏ của chiếc phản lực 747, trong khi lơ đễnh nhìn ra xa để hồn tôi lần dò tìm lại vết tích của một cuộc tình đầy nước mắt, thì tôi lại hát thành lời – mà không cần biết mình hát đúng lời ca hay không – theo dòng nhạc câm văng vẳng trong lòng tôi: “… Tình ngỡ đã quên đi, nhưng tình bỗng lại về. Người ngỡ đã đi xa, nhưng người vẫn quanh đây. Ôi! Trái tim phiền muộn đã vui lại một giờ, như bờ xa nước cạn đã chìm vào cơn mưa. Khi cơn đau chưa dài thì tình như chút nắng. Khi cơn đau lên đầy thì tình đã mênh mông. Một người về đỉnh cao, một người về vựt sâu, để cuộc tình chìm mau như cánh chim cuối đèo…” (1) Vừa thầm thì hát đến đây tôi chợt cảm thấy tâm hồn tôi chùng thấp đến độ tôi cảm thấy nhói đau nơi lồng ngực. Và tôi như muốn khóc, như ngày xưa, mỗi khi bị hành xử quá tệ bạc, phủ phàng, tôi thường “ngân nga” đoạn này; vì lời ca diễn đạt được phần nào hoàn cảnh và nỗi niềm của tôi, rồi tôi lặng lẽ lau nhanh những giọt nước mắt mặn đắng ưu phiền. Mỗi khi nhớ lại khoảng thời gian buồn tủi nhất của đời mình, tôi tự hỏi tại sao ngày đó tôi lại dại khờ, chỉ sống, và có thể chết, vì người tôi yêu mà tôi lại không chịu sống, và có thể chết, vì người yêu tôi! Tôi vừa tiếp tục “ngân nga”, tới lui cũng một đoạn đó, vừa suy nghĩ về câu tự hỏi của tôi, và vẫn không tìm được câu trả lời.

Bất ngờ tiếng nhân viên phi hành thông báo trên máy khuyếch đại âm thanh cắt đứt dòng tư tưởng của tôi. Tôi vội nhấn nút cho lưng ghế trở về vị trí thẳng đứng rồi nghiêng người nhìn ra khung cửa sổ.

Biển mênh mông. Thỉnh thoảng biển chuyển mình và muôn ngàn gợn sóng nhẹ lóng lánh dưới ánh mặt trời. Trong không gian lồng lộng giữa bầu trời trong vắt và mặt biển xanh thẫm, tôi chỉ thấy một màu vàng nhạt, trong suốt, của ánh nắng mai. Và xa, xa lắm là những hải đảo màu xanh lá cây. Giữa màu xanh lá cây của mỗi hải đảo và màu xanh thẫm của biển khơi là những viền trắng mong manh. Khi phi cơ đến gần, tôi thấy những viền trắng ấy di động một cách chầm chậm, dịu dàng. Lúc phi cơ ở vào cao độ vừa phải, tôi nhận ra những viền trắng di động chầm chậm đó là những lượn sóng bạc đầu đang tung tăng bên những bờ cát mịn màng. Lòng tôi cũng rộn ràng vui như những lượn sóng đang lao xao phía dưới xa.

Nhìn cảnh vật dưới xa, tự dưng một đoạn nhạc mà Ba tôi đã tập cho tôi hát, từ khi Ông vừa bắt đầu dạy tôi học ký-âm-pháp, chợt reo lên trong lòng tôi. Tôi thầm thì hát theo dòng nhạc câm mà cũng không cần biết đúng lời ca hay không: “Loin des fracas, sous ton gai firmament, Je viens de vivre si tendres moments. À l’ivresse de ton ciel bleu, Je viens de vivre un suprême adieu …” (2)

 *       *

*

Từ khoảng lang cang hẹp nơi căn phòng 925 của khách sạn Pacific Beach nhìn ra bãi biển Waikiki, tôi bỗng bồi hồi nhớ lại một thời tuổi nhỏ và bờ biển xưa.

Bờ biển xưa của tôi không có những thiếu nữ gợi tình bằng hai mảnh vải che hờ cùng với những thanh niên vạm vỡ đua nhau surf trên triền sóng. Bờ biển xưa của tôi không tràn ngập màu sắc rực rỡ của áo tắm, của khăn choàng và của da thịt người. Bờ biển xưa của tôi không có ngọn núi lửa Diamond Head, đang ngủ yên nơi cuối ghền. Bờ biển xưa của tôi không có những con đường chằn chịt, len lõi giữa những khách sạn đồ sộ và cao vút. Bờ biển xưa của tôi không nằm cạnh một quân cảng đã đi vào thế giới sử bằng trận tấn công bất ngờ, đầy kinh hoàng và khốc liệt của Đô-đốc Isoroku Yamamoto. Bờ biển xưa của tôi mang nhiều tỳ vết đau thương của chiến tranh; nhưng bờ biển xưa của tôi không triền miên ấp ủ dòng nước đã pha loãng bằng những giọt dầu rỉ ra từ chiến hạm USS Arizona. Người đời đặt tên những giọt dầu này là “nước mắt đen”. (Black tears)

Tôi không hiểu những giọt “nước mắt đen” này có khiến ai ngậm ngùi hay không; nhưng nhìn hình dáng chiếc USS Arizona bất động trong dòng nước, tôi xúc động đến lặng người! Nếu từ đệ nhị thế chiến cho đến nay, thời gian và sóng nước đã tạo nên rỉ sét trên thân chiến hạm Arizona thì bây giờ sự xúc động và niềm thương cảm cũng đang gậm nhấm tâm hồn tôi đến rã rời! Quanh tôi, trong ngôi nhà tưởng niệm màu trắng, được bắt ngang thân chiến hạm Arizona, tôi thấy sự xúc động cũng hiện trên nét mặt của những du khách cùng đi với tôi trên chiếc tàu nhỏ từ bờ ra đây. Không hiểu có phải ngôn ngữ của loài người sẽ làm vẩn đục những chốn trang nghiêm như nơi này hay không mà tôi không nghe ai nói với ai một lời. Mọi người quanh tôi cố bước những bước hết sức dè dặt mỗi khi phải thay đổi vị trí để được nhìn đủ mọi góc cạnh của chiến hạm Arizona! Tôi có cảm tưởng như quanh tôi mọi vật đều lắng đọng và thời gian như ngưng lại. Tôi tự hỏi, có phải âm thanh sẽ làm kinh động sự linh thiêng u uất trong lòng chiến hạm, mà chính phủ Hoa-Kỳ muốn giữ nguyên hình hài và trạng thái y như trước khi chiến hạm bị tấn công, hay không?

Trong khi thăm viếng chiến hạm Arizona không thể nào tôi không nghĩ đến chiếc Soái-Đỉnh 01, thuộc Giang-Đoàn 26 Xung-Phong, bị chìm cạnh đồn thứ 9, trong dòng kinh Trèm-Trẹm. Chiến hạm Arizona bị đối phương đánh lén từ trên không trung; chiến đỉnh 01 bị đánh lén từ dưới lòng sông! Giữa chiến hạm Arizona và soái đỉnh 01, kể từ sự chế tạo, sự hủy diệt, cho đến hình thể, thời điểm, địa điểm, cũng như phương cách và môi trường được xử dụng đều hoàn toàn khác nhau; nhưng, sự đau thương và niềm tiếc nhớ của mỗi nhân viên trên hai chiếc tàu đó để lại cho người thân, tôi nghĩ, chắc chắn không khác gì nhau. Tôi lại thở dài, đến bên khung cửa nhìn ra xa.

Tôi thấy, xa xa, tiềm thủy đỉnh phế thải Bowfin Submarine cặp nơi chiếc cầu gỗ để du khách vào xem. Tiềm thủy đỉnh Bowfin được hạ thủy đúng một năm sau khi Pearl Harbor bị tấn công, ngày 07 tháng 12 năm 1942. Chiến công oanh liệt của tiềm thủy đỉnh Bowfin là đánh đắm 44 chiến hạm của Nhật; vì vậy, tiềm thủy đỉnh Bowfin được tặng danh hiệu là Pearl Harbor Avenger.

Không xa chiếc cầu gỗ dẫn xuống tiềm thủy đỉnh Pearl Harbor Avenger là Waterfront Memorial; nơi đó có những trụ xi-măng nhỏ, đặt theo hình tròn. Trên mỗi trụ xi-măng được gắn một bản đồng, khắc hình, tên, tiểu sử và những hoạt động của 52 tiềm thủy đỉnh của Hoa-Kỳ bị đánh chìm trong trận thế chiến thứ II.

Những tài liệu và chứng tích lịch sử quanh đây khiến tôi nghĩ ngợi rất nhiều nhưng không gây được ấn tượng mạnh mẽ trong lòng tôi như khi tôi nhìn lại chiến hạm Arizona.

Chiến hạm USS Arizona chỉ chìm khỏi mặt nước ở một độ sâu vừa phải cho nên mắt thường vẫn có thể thấy rõ từng ngõ ngách của một sân tàu nguyên vẹn. Tôi còn thấy rõ từng phiến rong rêu nhỏ xíu bám vào mấy sợi cáp dọc theo thành tàu đang đong đưa nhè nhẹ theo sự chuyển vận của dòng nước. Muốn thấy bên trong chiến hạm, tôi đến khoảng giữa của ngôi nhà tưởng niệm, nhìn xuống. Nhìn khoảng không gian đen ngòm ngập nước, bỗng dưng tôi rùng mình, quay nhìn về phía ngôi nhà tưởng niệm, nơi có ghi đầy đủ danh vị của 1,177 sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên đã chết theo tàu! Trong sự im lặng gần như tuyệt đối này tôi nghe được tiếng thở dài của chính tôi và tiếng lách tách của biển vỗ về quanh ngôi nhà tưởng niệm.

Trên chiếc tàu nhỏ đưa du khách rời ngôi nhà tưởng niệm, tôi nhìn lại xác của chiến hạm Arizona với cõi lòng rưng rức như khuya 29 tháng Tư năm 1975, từ Dương-Vận-Hạm Thi-Nại, HQ 502, tôi nhìn bến Bạch-Đằng từ từ lùi lại phía xa.

Niềm xúc động cứ vấn vương trong tôi cho đến khi chiếc tàu nhỏ cặp bến. Sau khi du khách rời chiếc tàu nhỏ được một khoảng ngắn, tôi thấy nhóm du khách khác vừa từ rạp xi-nê – rạp này chỉ chiếu cho du khách xem mỗi một phim tài liệu, quay cảnh thật của trận Pearl Harbor mà thôi – sắp hàng, chuẩn bị đi ra chiếc tàu nhỏ để được đưa sang viếng thăm chiến hạm USS Arizona. Tôi nghe trên máy phóng thanh lời của cựu Tổng-Thống Bush, “Tôi không trách hận gì người Nhật về trận Trân-Châu-Cảng cả.”

Nghe nhắc đến trận Trân-Châu-Cảng tôi lại nghĩ đến chiến hạm Arizona. Và từ sau khi rời Pearl Harbor, hình ảnh chiến hạm Arizona cứ lẩn quẩn mãi trong trí tôi suốt đoạn đường tôi và các con đi tìm ngõ rẽ để lên Natonal Memorial Cemetery of the Pacific, trên ngọn đồi Punchbowl.

Khi đến đoạn đường dốc để lên ngọn đồi Punchbowl, tôi thấy, gần đỉnh đồi, một bức tường thật cao và rộng; trên đó tượng Nữ-Vương Hòa-Bình (Lady of Peace) được khắc nổi. Với đôi mắt chĩu nặng tình thương và khuôn mặt phúc hậu như gương mặt của Đức Phật Quán-Thế-Âm, Nữ Vương dịu dàng dang đôi tay như muốn đón nhận tất cả khổ đau của loài người. Xe càng lên cao tôi càng thấy rõ, từ bức tượng, thoát ra sự dịu dàng, nhân ái và khoang hòa.

Từ bãi đậu xe, nhìn bức tượng, tôi cảm thấy hồn nhẹ tênh, không còn vương chút vui, buồn, thương, ghét, hờn, giận gì nữa cả. Tôi đi chầm chậm trên con đường chính, hai bên đường là hai hàng cây sao được cắt xén giống như dạng của những chiếc dù. Con đường này dẫn đến những bậc cấp thoai thoải theo chiều cao của ngọn đồi để đến gần bức tượng. Dù hiểu rằng chỉ cần đi chếch về hướng bắc của bức tượng, tôi có thể thấy bao quát vùng thị tứ, tôi cũng không đi tiếp.

Tôi không muốn đi tiếp không phải vì lười hoặc mệt mà chỉ vì, không biết bắt đầu từ bao giờ, tôi không còn tha thiết và không muốn nhập vào dòng đời đầy phức tạp, đầy lừa đảo này nữa. Không muốn nhập vào dòng đời mà tôi lại không có căn duyên để thoát tục. Những dằn co, trăn trở trong hồn tôi rất mãnh liệt, đôi khi biến tôi thành đứa con bất hiếu; vì tôi đã giám âm thầm hờn trách Ba tôi. Nhưng không âm thầm hờn trách sao được khi mà Ba tôi – một giáo sư Pháp văn – sớm cho tôi hấp thụ nền văn hóa Tây-Phương và gieo vào đầu tôi tinh thần tự lập, lại đồng thời đóng khung tôi vào mớ luân lý một chiều của ông Khổng, ông Mạnh, ông Trang, ông Lão nào bên Tàu! Lớn lên, tôi không biết tôi được nuôi trong bầu (3) hay là nuôi trong ống (4). Dù nuôi trong bầu hay trong ống thì tư tưởng của tôi, cũng như tư tưởng của bao thế hệ phụ nữ Việt-Nam, đã bị tật nguyền theo hình dáng cái bầu, cái ống do mớ đạo đức nghịch lý nhập cảng từ mấy ông Tàu đó tạo nên rồi! Đã tật nguyền thì làm thế nào người phụ nữ có thể vùng vẫy để tự cứu mình và cứu các con ra khỏi chốn tận cùng của khổ đau?

Trong khi tim tôi mang đầy tỳ vết đau thương vì một cuộc tình đầy thống khổ, tôi nhận được vài mối tình đến muộn. Tôi không phải là nữ tu cho nên lòng tôi không thể nào không rung động trước những mối tình muộn màng nhưng đằm thắm đó. Nhưng sự tật nguyền vì hình thể của cái bầu, cái ống khiến tôi cho rằng sự rung động trong tim tôi là tội lỗi! Vì sợ phạm tội, tôi trở nên lạnh lùng để che dấu những đột biến và những dằn co dữ dội trong tôi.

Thái độ của tôi khiến một trong những mối tình đến muộn cảm thấy bị tổn thương cho nên người đó hỏi thẳng tôi: “Cho đến bây giờ mà em cũng vẫn còn hy vọng rằng người ta sẽ quay lại để thương yêu em như trước sao?”  Tôi trả lời không đắn đo: “Quay lại để làm gì nữa, anh? Em nghĩ, trong mọi ngõ ngách của cuộc đời, người đàn ông có thể ra đi rồi trở lại. Nhưng trong trái tim của người phụ nữ, khi người đàn ông bước ra thì lối về sẽ bị khép kín.” Người ấy lại hỏi, “Như vậy có nghĩa rằng em sẽ không tha thứ cho người ta, có phải không?” Tôi thoáng lúng túng, muốn che giấu những điều không hay của gia đình. Nhưng cuối cùng tôi vẫn thấy nói thật dễ hơn nói dối cho nên tôi đáp, nửa đùa nửa thật: “Em đi tu không được nên em không có trái tim Bồ-Tát. Vả lại, đây không phải là lần thứ tư, thứ năm gì đâu anh ạ.” Người ấy đi thẳng vào chủ đích: “Nếu vậy thì em còn lý do nào nữa để chần chừ mà không về với anh? Anh hứa sẽ lo lắng và bảo bọc các con của em.” Vừa khi tôi cảm thấy hơi xiêu lòng trước sự thương mến và sự kiên nhẫn đợi chờ của người ấy thì mấy bức tượng vô hình của ông Khổng, ông Mạnh, ông Trang, ông Lão từ đâu ùa ra, chạy lanh quanh như tìm kiếm, lục lọi, cố tìm cho ra cái-ý-tưởng-chưa-được-thốt-thành-lời của tôi, để mách lại Ba tôi – mà tôi thì sợ Ba tôi hơn bất cứ sợ một nhân vật uy quyền nào trên hành tinh này! Lý do tôi sợ Ba tôi đến như vậy không những vì tôi đã tòng phụ đến hơn hai mươi năm mà còn vì Ba tôi là thầy của tôi.

Vì sống trong hoàn cảnh không lối thoát như vậy cho nên trái tim và lý trí của tôi cứ bị điên đảo quay cuồng trong sự tù quẫn như một linh hồn sa đọa cứ mãi hoài ngụp lặn trong kiếp luân hồi. Hậu quả là nhiều lần tôi muốn chối bỏ cuộc sống đầy oái ăm này! Nhưng khi nhìn các con còn thơ dại, tôi không đành. Rồi một lần, bao nhiêu đau thương, tủi nhục, sầu hận trong lòng tôi bỗng sôi sục vì sự khiêu khích đầy ác tâm. Ôm các con vào lòng, với ý tưởng điên rồ, tôi hỏi: “Cuộc đời của măng đã triền miên chìm trong sầu não và đọa đày, măng chịu không nổi nữa! Măng muốn chết. Các con có chịu chết với măng không?” Mấy đứa con lớn im lặng, khóc. Đứa út ôm cổ tôi: “Con chết với măng, mà con sợ họ bỏ con vô hòm, con ngộp thở!” Câu nói ngây thơ của đứa con út khiến tôi khóc òa. Từ đó, tôi hiểu, dù cuộc đời và người đời có phũ phàng, tệ bạc và cố tình vùi dập tôi đến đâu đi nữa thì, vì các con, tôi vẫn phải sống và phải vươn lên.

Ý nghĩ này giúp tôi vượt qua không biết bao nhiêu oan khiêng của người và nghiệt ngã của đời; ý nghĩ này khiến tôi thán phục phụ nữ Tây Phương, vì họ can đảm, dám chấp nhận mọi thử thách và mọi hoàn cảnh để không phải sống trong khổ lụy và tủi hờn. Tôi cũng cúi đầu khâm phục sức chịu đựng bền bỉ cũng như lòng hy sinh vô bờ của bao nhiêu thế hệ phụ nữ có cùng ngôn ngữ với tôi; nhưng ý nghĩ này không thể đưa tôi hòa nhập trở lại vào dòng đời. Và ý nghĩ này cũng không thể giúp tôi nhìn đời một cách lạc quan.

Ý niệm về cuộc đời và người đời của tôi là như vậy thì tôi còn muốn lên gần tượng Nữ-Vương Hòa-Bình để nhìn xuống dòng đời xuôi ngược dưới phố thị để làm gì! Tôi dừng lại, tìm bóng mát, ngồi xuống, nhìn ngắm bức tượng trong khi các con của tôi đi tìm thăm mộ của phi-hành-gia-không-gian, Lt. Col. Ellison Onezuka, tử nạn cùng với phi-hành-đoàn ngày 28-01-1986, trên phi thuyền Challenger, chuyến STS-51L; và thăm mộ của Ernest Taylor, đặc-phái-viên-chiến-trường thời đệ nhị thế chiến.

Khi các con đi xa tôi mới nhận biết rằng quanh tôi yên lặng quá! Trong sự yên lặng an bình và thoát tục này tôi nhìn quanh sườn đồi được phủ kín bằng những dãy mộ bia im lìm sát mặt cỏ. Tôi cảm thấy đời sống thật mong manh. Tôi cảm nhận được rằng sự sống đáng quý biết dường nào – dù sống trong hạnh phúc, giàu sang hoặc nghèo nàn, khổ hận, tật nguyền. Nghĩ đến những bất hạnh của con người, tôi chợt nhớ đến cuộc đời đáng thương của nhà văn Claire Tomalin. Mỗi khi nghĩ đến nhà văn này, tôi thầm phục lòng can đảm, chí phấn đấu và sự hy sinh của Bà sau một cuộc tình nhầm lẫn.

Từ sự ngưỡng phục của tôi đối với hoàn cảnh của nhà văn mang hai dòng máu Pháp Anh, Claire Tomalin, từ những dãy mộ bia và từ sự im lặng thanh thoát quanh đây, tôi mới hiểu được rằng, nhìn từ một khía cạnh nào đó, quả thật tôi may mắn hơn nhiều người. Trời Phật đã ban cho tôi những đứa con, dâu và rể thông minh, đỉnh ngộ và hiếu thảo. Nghĩ ngợi thêm tý nữa, tôi nhận ra rằng cuộc đời đã ban cho tôi nhiều ân sủng mà vì triền miên sống trong buồn tủi, uất hờn, tôi vô tình không nhận biết. Một trong những ân sủng hiếm hoi đó là Trời Phật đã cho tôi sức khỏe và chút nghị lực tiềm tàn trong trái tim sầu héo cho nên tôi đã vượt qua những uất ức, muộn phiền để nuôi dạy các con thành thân và thành nhân.

Tôi vừa nghĩ đến đây, các con của tôi trở lại. Gia đình tiếp tục cuộc hành trình quanh đảo Oahu bằng đường bộ. Mẹ con cùng ngắm những triền núi thẳng đứng, đầy góc cạnh; đến những hốc núi cao để nghe gió hú từng chuỗi dài; để ngẫng nhìn những chóp núi ẩn mình trong mưa phùn và mây mù phủ kín quanh năm. Gia đình cũng đến những eo biển xa, ít người tới, để thấy nhiều phiến phún xuất thạch bị nước xoi mòn, trở thành những hình thể quái dị. Xe chạy ngang đồn điền khóm Dole. Mùa này khóm chưa có trái, tôi chỉ thấy dọc hai bên đường một màu xam xám của những bụi khóm đầy gai. Dưới ánh nắng, lớp nhựa đường ánh lên, từ xa trông giống như dòng sông nhỏ lượn quanh trong vườn khóm.

Khung cảnh quanh vườn khóm như gợi lại trong hồn tôi hình ảnh những dòng sông âm thầm len lõi trong những vườn khóm rộng thênh thang ở Kiên-Hưng. Ven những vườn khóm xinh tươi và những dòng sông hiền hòa đó, nếu không có âm vang kinh hoàng của thủy lôi rồi tiếng súng, máu và xác của thanh niên Việt-Nam – của cả hai miền Nam Bắc – khuấy động lòng sông thì, những đêm trăng, cảnh sắc ở đó nên thơ, lãng mạn và quyến rũ vô cùng.

Trong khi tôi nhớ về những dòng sông xưa thì các con của tôi bàn luận nho nhỏ về những nơi sẽ đi thăm vào những ngày sắp đến. Các con đã quen với những giây phút im lặng rất riêng tư của tôi nên không kéo tôi vào câu chuyện. Nhưng tôi nghe “anh chàng” rể của tôi, vì liên hệ nghề nghiệp, muốn đi xem Astronomical domes, trên ngọn núi cao nhất ở Hawaii, núi Mauna Kea; và con gái của tôi muốn đến Ka Lae, the southernmost point in the United States. Thảo luận một lúc, “anh chàng” rể bảo: “Đi đâu cũng được nhưng phải ưu tiên đưa măng đi mua lan và những nơi măng thích trước.” Nghe như vậy, tôi cảm thấy vui, nhìn các con, mỉm cười, tỏ ý cảm ơn rồi lại nhìn ra xa để ghi nhận những cảm xúc của tôi đối với ngoại cảnh.

Khi đến một eo biển vắng sau những khóm thông già, tôi nhớ đến bãi biển Đại-Lãnh và những lần cắm trại. Trong trạng thái vô thức, tôi “ư hử” theo những bản nhạc vui mà ngày xưa, khi đêm về, quanh ánh lửa bập bùng, tôi cùng các bạn thường đồng ca theo tiếng Tây-Ban-Cầm rộn rã và tiếng trống giả do một nam sinh dùng đôi tay đập nhẹ vào phía sau thùng đàn, tạo nên.

Tiếng trống, tiếng đàn và tiếng ca ngày xưa nghe có vẻ ngây ngô, mộc mạc; nhưng lúc nào lòng tôi cũng tràn ngập tiếc nhớ. Nhưng khi nghe tiếng trống dồn dập, tiếng đàn chuyên nghiệp và nhìn những đôi tay dịu dàng cùng những bước chân ngập ngừng một cách điêu luyện của các nghệ sĩ nơi Polynesian Culture Center thì tại sao lòng tôi lại không gợn lên chút lưu luyến nào? Suy nghĩ một lúc tôi mới hiểu rằng, tôi đi tìm dòng nhạc, tiếng ca và những điệu vũ hoang dã của người Hạ-Uy-Di thuần túy, mà trước mắt tôi lại là một sân khấu, từ kỹ thuật trang trí cho đến màu sắc, ánh sáng và âm thanh đều chịu ảnh hưởng nặng nề của Hollywood thì làm thế nào tôi thích cho được! Tuy vậy tôi vẫn nhận ra cách dàn dựng của mỗi tiết mục cũng như sự trình diễn liên tục của diễn viên đều mang tính cách phim ảnh; nhờ vậy trông rất tân kỳ, rất rực rỡ và sống động.

Nghĩ đến đây tôi chợt nhớ đến Ba tôi. Và tôi xin sám hối vì đã hơn một lần tôi âm thầm hờn trách Ba tôi. Nếu không có sự dạy bảo của Ba tôi, làm thế nào tôi có thể hiểu được sự uyển chuyển tuyệt vời của một tấu khúc; làm thế nào tôi biết thưởng thức một đoạn văn hay hoặc một câu thơ ướt tình; và làm thế nào tôi có đủ trình độ để phân định được giá trị của Chân-Thiện-Mỹ. Tôi hiểu, Ba tôi giáo dục tôi theo hình thể cái bầu hoặc cái ống là chỉ với mục đích uốn nắn tôi thành một người Mẹ đức hạnh và một người vợ đảm đang, để xứng đáng với một người chồng tốt. Không thể nào Ba tôi tiên đoán được rằng đời tôi lại rơi vào bế tắt vì một cuộc tình không may!

 *      *

*

Xe chạy dọc theo Hawaii Belt road (còn gọi là Hwy 11) thuộc thành phố Hilo, đảo Hawaii (còn gọi là Big Island). Tôi thấy những khóm bông giấy đủ màu, được chặt thấp để mọc xòe ra chứ không cho leo lên giàn để tạo bóng mát như bên mình. Qua khỏi vùng thị tứ, tôi thấy dọc hàng rào mỗi nhà, thiết mộc lan (corn plants), lá xanh mướt, vươn cao khỏi những cụm anthuriums lá xanh, hoa màu đỏ rực và nhụy vàng. Những loại cây này và những loại cây miền nhiệt đới cùng những ngõ ngách để rẽ vào các vườn lan trên con đường nửa quê nửa tỉnh này khiến tôi nhớ đến con đường Krom thuộc thành phố Hempstead, Florida; chỉ khác một điều, đường Krom và những ngõ ngách rẽ vào các trại lan ở đó đều trải dài trên mặt phẳng; còn đường 11 và những ngõ rẽ vào các trại lan ở đây thì lượn qua nhiều con dốc nhỏ xinh xinh.

Dù tối hôm qua đã mua rất nhiều lan tại Orchid show, sáng nay, thấy những dãy lan xanh mướt được sắp theo loại và tuổi tại mỗi trại lan, tôi cũng lăng xăng và trong lòng rộn ràng niềm vui thích; chẳng khác gì những lần tôi rộn ràng, lăng xăng trong những buổi lễ ra trường của các con.

Sau khi những giò lan hiếm quý được gói kỹ, cho vào thùng và đóng mộc, rồi đặt vào xe, nơi không bị ánh mặt trời chiếu vào, xe tiếp tục lăn bánh đến những trại lan mà tôi thường đặt mua theo hình và giá biểu do chủ trại lan gửi đến tận nhà.

Giữa lúc tôi đang hình dung lại khuôn viên nhà lan (green house) của tôi ở Texas và nghĩ xem chỗ nào thích hợp để đặt những giò lan mới này, tôi chợt thấy xa xa, trên sườn núi, nhiều cụm khói vươn lên. Những cụm khói này hình thể khác nhau nhưng cùng một màu lam nhạt; vì vậy, khi những cụm khói cao vươn khỏi màu xanh của cây rừng, màu khói tưởng như tan loãng, hòa nhập vào mây. Những cụm khói thấp gợi nơi hồn tôi hình ảnh buồn thảm của những buổi chiều sau trận chiến, ở U-Minh.

Những buổi chiều ở U-Minh, khi nghe tiếng súng giao tranh phía xa thưa dần, tôi thường lẻn vào phòng lái, đứng trên mấy thùng đạn, chồm ra, nhìn về phía còn lác đác tiếng súng để thấy khói vươn lên từng cụm nhỏ. Đó là những cụm khói của tang thương, chia lìa chứ không phải là những cụm khói đầm ấm, sum vầy tỏa ra từ mái tranh của gia đình sau một ngày đồng áng. Nhìn những cụm khói lam dịu dàng tỏa rộng trong ánh nắng hiu hắt của một ngày sắp tàn, tôi liên tưởng đến những làn khói mong manh cuộn tròn rồi tỏa rộng, vươn cao từ lư hương nơi bàn thờ! Và tôi tưởng như tôi nghe được tiếng nất nghẹn ngào của những thiếu phụ bất hạnh và tôi cũng tưởng như thấy được ánh mắt ngơ ngác của những đứa bé có liên hệ với những thân người nằm bất động trên băng-ca, đang được khiêng ra nơi đoàn chiến đĩnh ủi bãi. Những lúc đó, hình ảnh tôi sợ nhất không phải là xác chết, vũ khí hoặc cơ giới mà là hình ảnh một chiếc Jeep đậu ngay trước nhà, rồi một hoặc vài sĩ quan trong quân phục thẳng tắp, bước vào nhà với nét mặt nghiêm trọng! Khi nào hình ảnh này lướt qua, tôi cũng cúi đầu, niệm danh hiệu Phật Bà Quán-Thế-Âm.

Vừa nhớ đến đây tôi chợt cảm thấy dường như quanh tôi không khí hơi hâm hấp nóng và mang một mùi là lạ khiến tôi hơi khó thở. Tôi nhìn các cửa xe và thấy cửa vẫn đóng kín và máy lạnh đang hoạt động. Tôi ngẫng lên nhìn ra phía trước đúng lúc chiếc xe rẻ vào Hawaii Volcanoes National Park.

Tôi cùng các con đứng bên bờ vực của miệng núi lửa câm nín Halemaumau. Nhìn một diện tích rộng lớn bị nhận sâu xuống mặt đất và trên diện tích sần sùi đen đủi ấy chỉ còn những cụm khói dật dờ chứ hoàn toàn không có sự sống, tôi cảm nhận được sự vô thường của vạn vật và sự nhỏ nhoi của con người! Lúc ấy tôi mới nhận ra mùi lạ làm tôi khó thở chính là chất sulfur dioxide từ lòng đất thoát ra.

Xe chạy trên con đường hẹp quanh khu vực núi lửa. Gia đình tôi ghé thăm miệng núi lửa đã ngưng hoạt động, Kilauea Iki. Vì đã nguội hẳn cho nên miệng núi lửa này là nơi quyến rũ nhiều người thích mạo hiểm để họ leo xuống, thám xét một vùng phún xuất thạch loan lỡ trong một chu vi không tròn như hình thể miệng núi Halemaumau.

Qua khỏi Kilauea Iki, nhìn hai bên đường, tôi hoàn toàn không thấy được sự sống giữa những khối phún xuất thạch dị hình. Là một người ít thích xem phim loại giả tưởng, vậy mà khung cảnh quanh đây khiến tôi nghĩ đến những phim đó và tưởng như tôi đang lạc vào một hành tinh lạ!

Độ cao của con đường giảm dần cùng với ánh sáng mặt trời. Trời tối hẳn. Quanh khu vực này không có đèn đường. Trong đêm đen, ánh đèn đôi của những chiếc xe cùng chiều hoặc nghịch chiều với xe của gia đình tôi tạo nên một đường sáng ngoằn ngoèo, từ xa trông như những chòm sao di động. Tôi và các con tìm đến Kilauea volcano, vùng núi lửa còn đang âm ỉ hoạt động.

Sau khi tìm được chỗ đậu xe, tôi mới thấy quanh tôi người và xe tấp nập. Cửa xe vừa mở tôi đã ho khan và cảm thấy khó thở, đồng thời mắt sưng lên và nước mắt ràng rụa. Biết tôi bị bệnh dị ứng hành hạ, các con bắt tôi ngồi lại trong xe, cho xe nổ máy để mở máy lạnh. Sau khi tôi trở lại trạng thái bình thường, các con mở nút “on” nơi điện thoại cầm tay của tôi, để cạnh tôi và dặn dò mọi điều cần thiết rồi các con nhập vào dòng người.

Dòng người đi vội vã trong đêm đen, tiếng nói chuyện thì thầm, hơi nóng hầm hập quanh đây, một vùng rực đỏ phía xa và thỉnh thoảng ánh đèn bấm lóe lên khiến tôi nghĩ đến đoàn người tản cư ngày xưa.

Ngày xưa, mỗi lần Tây “nả moọc-chê”, (danh từ ngày đó thường dùng) nhiều người gồng gánh tản cư, vì nghĩ rằng thế nào Tây cũng đổ bộ. Trong những đêm tản cư, tôi thường thấy xa xa một khu vực rực lửa, vì bị trúng “moọc-chê”. Đoàn người đi mà không biết đi đâu; cứ ban đêm đi, ban ngày sợ máy bay nên trốn dưới mấy gốc cổ thụ; vài ngày thấy yên yên thì về. Nhiều khi đang đi, nghe tiếng máy bay, đoàn người ngồi thụp xuống, tắt hết mấy ngọn đèn lồng. Những lúc đó bà Ngoại của tôi thường lập lại một câu mà tôi không nhớ Ba tôi đã giải thích cho Ngoại bao nhiêu lần rồi: “Tại răng trời tối thùi thui như ri mà thằng Tây hắn thấy đường hắn lái tàu bay, tài rứa hè?” Còn tôi, tản cư hoài cực khổ quá, tôi chịu cực không quen cho nên cứ cầu nhầu với Ba tôi: “Sao Ba giỏi tiếng Tây mà Ba không chịu ở lại, gặp mấy ông Tây, xin mấy ổng việc làm mà Ba tản cư chi cho cực vậy, Ba?” Ba tôi cười, xoa đầu tôi: “Cha mày – Ba tôi thường dùng hai tiếng này để tỏ lòng thương của Ông đối với các con – Tao mà mày biểu làm việc cho Tây hả? Đời nào, con!” Lúc đó tôi chỉ đủ khôn để hiểu rằng Ba tôi không thích Tây, chứ tôi không ý thức được những gì ẩn dụ trong câu nói đầy tự hào của Ba tôi.

Thời điểm đó, nếu phải tản cư, tôi thích tản cư vào những đêm trăng; vì dưới ánh trăng, cảnh sắc ở thôn quê nên thơ và đẹp vô cùng. Tản cư vào những đêm mưa là một khổ nạn. Tản cư vào những đêm tối trời như đêm nay, tôi nhận ra được những nét bi hùng của ánh lửa từ xa, của chút ánh sáng leo lét từ mấy chiếc đèn lồng và của tiếng nói chuyện nho nhỏ, mang âm hưởng sợ sệt, lo âu, của đoàn người.

Đoàn người tản cư ngày xưa trông bi hùng vì mang nặng tính cách lịch sử. Đoàn người tối nay đi tìm xem những biến động kỳ bí của thiên nhiên cho nên giọng nói của họ thoát ra âm hưởng rộn rã, như họ vừa nói vừa cười.

Tôi nhìn quanh. Trời tối đen. Tôi không thể phân biệt được đâu là núi, đâu là vòng chân trời và đâu là vùng phún xuất thạch khô. Trong không gian đen kịt đó, tôi chỉ thấy một vệt đỏ như máu, rất lớn, di động rất chậm theo chiều ngang. Vệt đỏ như máu đó, đối với tôi, vì nhìn từ xa, không có vẻ gì hung tợn như tên gọi – hỏa-diệm-sơn – mà lại trông giống như một “vết thương” còn tươi. “Vết thương của đất”.

Đất phải chịu sự cọ xác đớn đau ghê gớm lắm cho nên đất mới nổ bùng dữ dội để thành “vết thương” vĩ đại đến như vậy. Cuộc đời của tôi chịu biết bao nhiêu cọ xác đớn đau giữa trái tim khao khát yêu đương và mớ đạo đức nghịch lý của mấy ông Tàu; vậy mà vết thương của tôi cứ âm ỷ, thỉnh thoảng mới thoát ra bằng những giọt nước mắt hoặc bằng tiếng thở dài! Sự so sánh khôi hài này khiến tôi nhận thức rất rõ rằng cái “tôi” của tôi quả thật chẳng là gì cả so với vũ trụ bao la! Cái “tôi” của tôi đã nhỏ bé thế kia thì nỗi đau thương trong lòng tôi cũng đâu có lớn lao gì! Vậy thì buồn khổ làm chi – nhất là buồn khổ vì một người đàn ông đã lừa dối tôi từ đầu cuộc tình cho đến cuối cuộc tình!

Ý nghĩ này giúp tôi dập tắt được ngay nỗi u sầu, buồn tủi đã xâu xé tâm hồn tôi từ suốt mấy mươi năm qua. Nhờ vậy, tôi nhìn lại “vết thương của đất” với tâm trạng của một người biết cảm nhận tất cả vẻ đẹp huyền bí của thiên nhiên. Càng xa điểm khởi hành bao nhiêu, “vệt máu tươi” nơi “vết thương của đất” càng xuống thấp bấy nhiêu. Nơi chỗ thấp nhất – các con tôi kể lại – du khách có thể đứng gần để nhìn tận mắt lượng phún xuất thạch đỏ thẫm chảy cạnh chân mình. Khi dòng phún xuất thạch nóng này chảy ra biển, gặp nước, sẽ biến thành cát đen.

Nhắc đến cát đen tôi chợt nhớ đến giãi cát đen lóng lánh trong ánh nắng chiều, ở Punaluu Beach Park. Hôm ghé thăm bãi biển đó, tôi ngạc nhiên đến sửng sờ. Tôi ngồi bệt trên cát, lùa cát trong lòng bàn tay.

Hôm đó nhìn những hạt cát đen tuyền chạy qua kẻ tay, tối nay nhìn “vết thương của đất” đỏ thẫm màu máu, tôi cảm nhận được sư vĩ đại và kỳ bí của Đất Trời. Lúc này, trong lòng tôi, sự xúc động về chiến hạm Arizona cũng như những ưu tư, khắc khoải về cuộc đời và những tủi buồn về một cuộc tình tàn phai đều đã lắng xuống; chỉ còn lại niềm vui thích trước những cảnh sắc hùng vĩ và thơ mộng của một quần đảo mà, từ ngày Ba tôi mới tập cho tôi hát ca khúc ngoại quốc đầu tiên, tôi đã từng mơ ước được đến một lần.

Xe chạy chầm chậm trên con đường vắng, gần biển, để trở về khách sạn Hawaii Noniloa.

Từ lang cang trước phòng 511 của khách sạn Hawaii Naniloa nhìn ra vịnh Hilo, tôi thấy từng khóm thông già đang lã lơi với gió, trên một bờ biển lởm chởm đá đen. Vài chiếc du thuyền đang yên nghỉ nơi cuối ghềnh, về phía phải của khách sạn. Nơi ngọn đồi thấp, bên trái của tôi, vạn vạn ngôi nhà đã chìm vào màn đêm; chỉ còn lại một vùng ánh sáng rực rỡ, từ xa, trông như lượng lân tinh khổng lồ vừa rơi xuống từ đỉnh trời, chảy xuôi theo triền đồi rồi dừng lại nơi bờ biển.

Đêm chưa khuya nhưng chung quanh hoàn toàn vắng lặng. Tâm hồn tôi được vỗ về bằng lời thì thầm của sóng và tiếng vi vu của ngàn thông. Lúc đó, đoạn nhạc mà Ba tôi đã tập cho tôi hát từ ngày tôi còn bé thơ lại reo lên âm thầm trong tôi. Tôi hát theo nho nhỏ, mà tôi không chắc tôi nhớ đúng lời ca; và tôi cũng không hiểu tại sao tôi lại bắt đầu ngay đoạn giữa: “…Goodbye Hawaii. Je pars aujourd’ hui pour toujours, mais mon âme ravie. Te doit tes plus beau jours. Oh terre bénie! C’est dans ton merveilleux séjour, où tout est poésie. Que J ‘ai connu l’amour.” (5)

Hơn nửa thế kỷ trước, một nghệ sĩ tài hoa – Tino Rossi – đã đến đây, biết được tình yêu và để lại cho đời những dòng nhạc bất tuyệt. Giờ đây, là một người bình thường, tôi đến đây, tìm được niềm vui và ý nghĩa của sự sống, xin để lại nơi này chút tình yêu còn sót lại của một trái tim đã khép kín từ lâu!

ĐIỆP MỸ LINH

http://www.diepmylinh.com

1.- Tình Nhớ của Trịnh-Công-Sơn

2.- Đoạn đầu của nhạc phẩm Goodbye Hawaii của Tino Rossi

3 và 4.- Ngạn ngữ Việt-Nam “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.”

5.- Đoạn giữa và cuối của nhạc phẩm Goodbye Hawaii của Tino Rossi.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on ĐIỆP MỸ LINH – CHÚT TÌNH ĐỂ LẠI HAWAII

  1. sao bai viet cua ban hay vay toi vua doc thi da thay hay roi.
    luc nao ma ban muon nhan tin thi ban hay nhan vao so dien thoai nay cho minh nhe

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: