Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (12) – Mười Năm Vượt Biên

1“- Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,

Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.”

 (Tống biệt hành – Thâm Tâm 1940)

            Khoảng cuối mùa hè năm 1989, khi tôi còn làm việc ở phòng SB thì bên Task Force (Lượng lượng Đặc Nhiệm Mã Lai) chuyển qua khoảng 15 hoặc 16 người vừa tới đảo. Việc nầy hơi lạ, họ tới đảo lúc nào mà không ai biết cả.

            Số người nầy, phần đông còn trẻ, khoảng trên dưới hai chục tuổi, không phải người miền Nam, Saigon, Biên Hòa hoặc miền Tây, đông nhất là người Sóc Trăng như thường thấy mà người miền thượng du Bắc Việt. Họ của họ cũng đặc biệt như họ Chung (Chung A Dũng), họ Phù (Phù A Lầu), Họ Bành, họ Wòng, v.v… (Những người sau, tôi không nhớ tên).

            Tôi làm việc với Chung A Dũng. Anh chàng nầy 21 tuổi, dáng người khỏe mạnh, hơi mập, mặt vuông. Khuôn mặt bình thường, hiền hậu, nhưng hai lông mày cao ngược lên, trông có vẻ hơi dữ.

 

1)- Lời khai của Chung A Dũng:

            – “Quê em ơ bản…. (tôi không nhớ) bên nầy ải Nam Quan, cách Lạng Sơn không xa. Bà con em ở bên kia biên giới. Trước khi có chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam, người bên nầy cũng như bên kia biên giới qua lại, giao thiệp “bình thường.”

            Tò mò về việc nầy, tôi bảo Chung A Dũng khai rõ thêm, có ví dụ nào nói rõ về sự “bình thường” đó.

            – “Ví dụ như thế nầy” Dũng nói. “Hai anh em ruột. Em ở bên nầy, anh ở bên kia”.(biên giới)

            – “Tại sao vậy?” Tôi hỏi.

            – “Tại vì ông anh lấy vợ bên kia thì qua bên kia sinh sống. Có vậy thôi.” Dũng nói.

            – “Hai bên cùng một “dân tộc ít người” như nhau hay khác?” Tôi hỏi.

            – “Khác gì đâu! Em người Nùng, chị dâu em bên đó cũng người Nùng. Người Nùng với người Nùng lấy nhau. Có gì đâu?”

            Tôi ngạc nhiên, hỏi:

            – “Vậy khi cưới nhau như thế, làm giấy hôn thú như thế nào? Hai người hai quốc tịch.”

            – “Có quốc tịch gì đâu!” Chung A Dũng nói. “Làm thịt một trâu hay hai heo, bà con tới ăn. Ai cũng biết hai người ấy là vợ chồng. Vậy là đủ rồi.”

            – “Từ xưa đến nay như vậy?”  Tôi hỏi.

            – “Không biết nữa. Ai cũng làm đám cưới, cha mẹ ông bà ngày xưa cũng thế.” Chung A Dũng giải thích.

            Tôi hỏi:

            – “Vậy thì bên nầy hay bên kia biên giới có liên hệ với nhau, có bà con với nhau!”

            – “Bà con nhiều lắm á! Buồn buồn thì qua lại chơi. Anh của Dũng qua chơi bên ấy, quen người ta rồi cưới.” Chung A Dũng giải thích.

            – “Vậy bên nầy bên kia không có ranh giới gì cả.” Để rõ hơn, tôi nói: “Không có ràng rào hay dấu tích gì cả?”

            – “Không! Không có gì hết. Dũng có nghe nói cột mốc, nhưng Dũng chưa tới đó.” Chung A Dũng giải thích.

            Câu chuyện của Dũng làm tôi nhớ lại một câu chuyện cũ rất buồn cười. Tôi có người anh con bà dì, chị mẹ tôi. Anh ấy đóng loon “đội” (trung sĩ). (Anh ưa người ta gọi là thầy đội hơn là trung sĩ, và đăng lính pháo binh Pháp, ưa gọi là artillerie hơn là pháo binh). Sau trận Điện Biên Phủ, anh ấy ở ngoài Bắc về. Anh khoe: “Tao lên tới tận biên giới Si-noa.” Hỏi biên giới có gì lạ, anh ta bảo: “Ở biên giới, có trời làm lằn ranh: Cỏ Việt Nam thì nghiêng về bên Việt Nam, cỏ Tàu thì nghiêng vê bên Tầu.” Hỏi về cây, anh cũng bảo cây bên nào nghiêng về bên nấy, không mọc thẳng lên trời. Hồi ấy, tuy còn nhỏ, nhưng tôi đã nghi anh ấy nói xạo. Sau nầy, học sinh vật, thì rõ ràng anh ấy xạo quá. Tôi hỏi kỹ Chung A Dũng về sinh hoạt ở biên giới, có lẽ cũng do ám ảnh về cái xạo của ông anh con dì tôi.

            Tôi hỏi Dũng:

            – “Vậy có cái gì để phân biệt ranh giới, bên nầy là đất Việt Nam, bên kia là đất Tầu hay sao?”

            Chung A Dũng, có lẽ hơi lạ về câu hỏi của tôi, nói:

            – “Có cái gì đâu! Ngay cột mốc là ranh giới, chỉ ở đó thôi á!”

            Tôi hỏi thêm:

            – “Vậy về hành chánh thì sao? Giấy tờ chứng minh nhân dân thì sao? Có chủ tịch, bí thơ đảng ủy không, họ ở đâu?”

            – “Có nghe nói. Nhưng Dũng chạy qua Trung Quốc năm 11 tuổi, Dũng không biết gì việc đó.”

            Cái khác là việc học. Bên nầy, có hai lớp học: lớp 1, lớp 2. Học tới đó là hết, khỏi học thêm vì không có trường, không có tiền để đi học xa. Bên nầy thì học chữ Việt Nam, bên kia, cũng chỉ có hai lớp, học chữ Tầu. Ngoài chừng đó, Dũng không biết gì thêm. Tuy nhiên, cũng nhờ học chừng đó, khi tới đảo, Chung A Dũng đọc bập bẹ chữ quốc ngữ, biết đọc tên của Dũng và biết ký tên mình.

            “Thiên đường Cộng Sản”, dù ở bên nầy biên giới là vùng Dziệt Cọng hay bên kia biên giới là Trung Cộng, cũng chỉ chừng đó, không cao hơn được.

&

            Dũng “vượt biên” năm 11 tuổi, là năm 1979, khi “Láng giềng hữu nghị” thành ra “Anh em thù địch” đánh nhau trối chết trên 6 tỉnh biên giới Việt-Trung. Từ năm đó đến nay (1989), tính ra là 10 năm. Mười năm vượt biên.

            Khi chiến tranh nổ ra, quân Trung Quốc tràn qua biên giới thì gia đình Dũng nghe lời Trung Quốc kêu gọi, cho Dũng “vượt biên.”

            Hỏi Dũng vượt biên như thế nào, Dũng bảo rằng chẳng có gì hết, cứ bên nầy vượt qua một ngọn núi thấp, bên kia là nhà anh chị Dũng. Bên đó dân chúng cũng chuẩn bị di tản, đề phòng “quân Việt Nam phản công, đánh qua.”

            Hỏi trưóc kia sao không vượt biên thì Dũng nói hồi trước có biết gì đâu! Bây giờ nghe Trung Quốc gọi đi thì đi.

Bà con nói qua tới Trung Quốc, sẽ đi HồngKông rồi đi Mỹ, sướng lắm. Thế là nhà biểu Dũng đi, Dũng vâng lời.

            Dũng đi theo một đám trẻ, khoảng ba chục đứa, đi gần một ngày, sâu vào lãnh thổ Trung Quốc. Tới một nơi có một cái đình hay chùa cũ gì đó, Dũng không rõ. Trước cổng có treo một tấm biểu ngữ bằng vải đỏ, dài, viết chữ Tầu, màu vàng. Viết chữ gì, Dũng không hiểu. Đồng bọn giải thích cho Dũng hiểu là nhà nước Trung Quốc “vui mừng tiếp đón nạn Kiều”, những người “trở về với đất mẹ thân yêu!”

            – “Khi đó chú mầy mừng không?” Tôi hỏi.

            – “Mừng chứ! mừng lắm! Được ăn ngon mà không mừng sao được. Gà! thịt bò, heo, cơm trắng tinh, ngon lắm!”

            -“Xong, họ cấp cho mỗi người một bộ quần áo, một cái chăn. Tối đó ngủ lại ở ngôi nhà nầy. Rệp khiếp luôn! Ba ngày sau, họ đưa đi.”

            -“Đưa đi đâu?” Tôi hỏi.

            – “Họ nói nạn kiều trở về đất mẹ đông lắm, những ai đến trước, cần phải đưa đi, để dành chỗ cho người đến sau. Vậy rồi lên xe lửa đi hai ngày, lại lên xe molotova đi thêm ba ngày nữa. Tất cả 5 ngày. Có người đưa đi, lo việc ăn uống”

            – “Đi đâu mà xa thế?” Tôi hỏi.

            – “Đi nông trường.” Chung A Dũng nói. “Đi lên phía bắc, rồi đi sâu vào hướng tây-bắc.

            Tôi ngạc nhiên hỏi:

            – “Chú mầy mới 11 tuổi mà đi nông trường làm gì?”

            Người ta bảo không được “ăn bám nhân dân”, “ăn bám là có tội với tổ quốc, nhân dân.” Vậy là mình phải làm việc để tự nuôi mình, “tạo điều kiện” để mình đi học. Mai mốt thành tài “phục vụ đảng, phục vụ tổ quốc.”

            – “Tổ quốc Tàu?” Tôi cười, hỏi.

            – “Tầu hay Việt, Dũng đâu có biết, đâu có thì giờ suy nghĩ tới. Dũng còn nhỏ thì cầm cái cuốc nhỏ, dẫy cỏ ở những gốc chè. Đây là nông trường chè, lớn lắm, rất đông người, hái chè, làm cỏ, phơi sấy, vô bao, nhiều việc lắm.”

            – “Không đi học?” Tôi hỏi.

            – “Không có thì giờ.” Dũng nói. “Làm cỏ phải đạt chỉ tiêu. Muốn đạt chỉ tiêu thì phải làm hơn 12 giờ một ngày. Làm về, mệt lắm, có khi ăn không no, có khi mệt quá, không ăn được.”

            – “Bọn nạn kiều như Dũng ở đây nhiều không?” Tôi hỏi.

            – “Chỉ trẻ con bằng tuổi Dũng. Không có đứa lớn hơn. Những đứa lớn đi đâu không biết.”  Dũng giải thích.

            – “Làm việc suốt ngày, sao biết được như vậy?” Tôi hỏi.

            – “Chủ nhật nghỉ. Mỗi tuần nghỉ một ngày, ra phố chơi gặp nhau.” Dũng nói.

            – “Ra phố xa không?” Tôi hỏi.

            – “Khi nào có xe nông trường đi, cho đi theo thì hơn nửa tiếng. Còn đi bộ, băng qua nông trường thì nhanh cũng phải hơn một tiếng, nhưng phải lội suối.” Dũng nói.

            – “Ra tới phố, đi ăn, mua ít dụng cụ, gặp bọn ở Việt Nam qua giống như Dũng nhiều lắm. Hầu hết những đứa tới Bidong với Dũng đều gặp nhau ở đó.”

            – “Cả Phù A Lầu?” Tôi hỏi.

            – “Phù A Lầu thì không? Dũng gặp nó ở một trại khác. Rồi cùng trốn đi.”

            – “Nó thưa mầy hiếp dâm nó, có không?” Tôi hỏi.

            – “Nó nói bậy. Nó nói chuyện với Dũng nhiều. Dũng tưởng nó yêu Dũng. Nhưng không! Không thì thôi. Chán gì đứa!” Dũng nói, vẻ làm cao.

            – “Ở nông trường đó bao lâu?” Tôi hỏi.

            – “Trốn đi chứ!” Dũng nói. “Gần bốn năm, không thấy tương lai gì cả, chết già ở đó sao? Khi bắt đầu đánh nhau, Trung Quốc tuyên truyền trở về đất mẹ sẽ cho đi học, sẽ được sung sướng, đời đời tự do. Nay không thấy gì hết thì bàn nhau trốn đi.”

            – “Bàn lúc nào?” Tôi lại hỏi.

            – “Cứ chủ nhật, ra phố, gặp nhau bàn chuyện trốn. Đứa nào cũng gởi thư về gia đình, than khổ, đói, xin tiền. Có tiền mới trốn đi được. Trốn ra Hồngkông để đi Mỹ hay đi châu Âu. Thế rồi định ngày, có tiền, ra phố, cùng nhau ra ga, mua vé đi HồngKông.”

            – “Rồi Dũng ở trại HồngKông?” Tôi hỏi, dịu dàng hơn.

            – “Đâu có! Tới gần Cửu Long thì bị bắt lại. Công An đánh cho một trần nhừ tử, bảo rằng đã trở về với đất mẹ, đã được nhân dân tổ quốc yêu mến giúp đỡ, lo lắng cho mà còn tư tưởng phản động, còn muốn chạy theo đế quốc. Rồi nó giải tới một nông trường khác.” Dũng kể.

            – “Không ở tù?” Tôi hỏi.

            – “Không! Dũng khai nhỏ tuổi lại, 14 tuổi nên khỏi ở tù. Những đứa khai tuổi thiệt, bị đưa đi trước Dũng, không biết đi đâu, sau nầy không gặp lại.” Dũng kể.

            – “Nông trường mới trồng gì?” Tôi hỏi.

            – “Cũng trồng chè. Cũng rất đông “nạn kiều”, còn trẻ như cháu. Nhưng bọn nầy không phải quê ở Lạng Sơn, phần đông quê ở Quảng Ninh. Dũng gặp Phù A Lầu ở đấy!” Dũng nói.

            – “Phù A Lầu quê ở Quảng Ninh?” Tôi hỏi.

            – “Vâng!” Dũng trả lời.

            Tôi cười:

            – “Mày nói yêu nó mà không biết gì về nó. Nó ở một bản làng từ Quảng Ninh đi sâu núi vào gần năm chục cây số, trên một độ cao cao lắm, nhưng bộ lạc nầy ít người lắm phải không?”

            – “Sao chú rành thế?” Dũng nói.

            – “Rành gì đâu! Hôm qua ông Thừa phỏng vấn nó, sát bên cạnh tao nầy nè! Tới đoạn nào hơi lạ, tao lắng nghe!” Tôi giả nói lãng chứ tôi đã phỏng vấn Phù A Lầu hôm qua rồi.

            Dũng nói:

            – “Thật ra cháu có yêu nó, nhưng con bé nầy khùng khùng, dỡ hơi, nên cháu không quan tâm lắm. Nó có kể về bản nó như chú nói vậy, nhưng cháu có biết chỗ nó là chỗ nào đâu.”

            – “Bây giờ, tôi cho anh về nghỉ một hai ngày, suy nghĩ lại cho kỹ. Bọn anh khai trốn từ HồngKông, đóng bè ra biển trôi ra tận ngoài Thái Bình Dương, rồi lại trôi về Bidong là xạo lắm, không phải đâu! Phải khai lại cho thật mới hy vọng đi định cư. Người Âu Mỹ ít nói dối như người Á Đông, người Tầu, người Việt. Chú mầy nói láo, Mỹ nó không tin, nó cho ở lại đây, mục đảo luôn. Đừng trách người ta làm khó.”

            Tôi vừa khuyên mà cũng vừa dụ Chung A Dũng như thế để nó khai thật. Trong đám nầy, hình như Dũng thường làm “tham mưu trưởng”, nhưng lại là đứa tương đối chân thật.

            Dũng về xong, tôi báo cáo với trưởng phòng SB về trường hợp bọn nầy. Người miền núi, tuy chân thật, nhưng lớn lên với Việt Cộng, Trung Cộng, lăn lộn từ nông trường nầy sang nông trường khác, từ lúc mới hơn mười tuổi, thành ra cũng “ba đá” lắm, phải dối trá để sống còn, rất đáng thương. Tuy nhiên, bản chất chân thật, nói ngọt chúng nó sẽ khai thật hơn làm dữ. “Nói ngọt lọt đến xương.” Tôi phân giải như thế vì ông truởng phòng tính dùng biện pháp mạnh, cho nhốt vào Monkey House để chúng sợ mà khai thật.

2)- Lời khai của Phù A Lầu

            Bản làng Phù A Lầu là một trong những nhóm của người Sán Dìu. Sán Dìu đã là một dân tộc ít người, lại chia thành nhiều nhóm nhỏ, sống trên những vùng cao, thuộc rặng Đông Triều.

            Xin nói qua một chút về vùng núi nầy.

            Theo sách địa lý, nói chung sách nào cũng vậy, là những dãy núi vùng thượng du Bắc Việt có hình nan quạt mà cái “tâm” là đồng bằng Bắc bộ hay Bắc phần, cũng vậy.

            Rặng Đông Triều nằm phía ngoài cùng, chạy dọc theo bờ biển vịnh Bắc bộ. Đây cũng là vùng có nhiều than đá, thuộc tỉnh Quảng Ninh, thị xã là Quảng Yên.

            Vùng Quảng Ninh là quê hương nhà Trần. Vì vậy, khi vua Trần Nhân Tôn nhường ngôi cho con, lên làm Thái Thượng Hoàng, ông về núi Yên Tử tu hành, lập ra phái Trúc Lâm Thiền Tôn, và trở thành tổ thứ nhứt của tông phái nầy. Xin chép lại một trích đoạn nói về lịch sử Phật giáo Việt Nam:

            “Yên Tử trở thành trung tâm của Phật giáo từ khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà sa tu hành và thành lập một dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam, đó là dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử và trở thành vị tổ thứ nhất với pháp danh Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (12581308). Ông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (12841330), vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm. Trong 19 năm tu hành, ông đã soạn ra bộ sách “Thạch thất mị ngữ” và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trong nước với hàng nghìn pho tượng có giá trị, trong đó có những chùa nổi tiếng như viện Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên ở Đông Triều… Tại trung tâm truyền giáo của Pháp Loa còn có Huyền Quang Lý Đạo Tái (12541334), vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm.” (theo wiki).

            Vì là quê hương của các vua nhà Trần, các vua lại trọng đạo Phật nên vùng nầy có rất nhiều chùa như độc giả thấy ở trên.

            Về dân tộc vùng nầy, nói chung, nguồn gốc của họ là từ bên Tầu qua, một ít từ đảo Hải Nam của Tầu di cư vào. Văn hóa tương đối cao, gần bằng người Việt, ngoại trừ những dân tộc sinh sống trên vùng thâm sơn.

            Vì Quảng Ninh là vùng mỏ, Cộng Sản tưởng là môi trường tốt để tuyên truyền và chiêu mộ đảng viên. Tuy nhiên, tình hình ngược lại. Dân chúng Quảng Ninh có tinh thần chống Cộng rất cao, ngay từ khi Việt Minh mới cướp chính quyền năm 1945. Lực lượng Bảo An Quảng Yên nổi tiếng chống Cộng có thành tích cao, hầu hết đều di cư vào Nam sau hiệp định Genève 1954. Về sau, trở thành những lực lượng chống Cộng nổi tiếng trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người lên tới cấp tướng, tá và làm dân biểu hay giữ những chức vụ cao cấp trong chính quyền miền Nam Việt Nam.

            Họ dùng danh từ Hán, nhưng không phát âm theo tiếng Việt mà theo ngôn ngữ của họ thành ra họ có những tên, họ hơi lạ như họ Phù, họ Bành, họ Chương (chuẩn tướng Chương Gìn Quay), họ Gíp hay Wòng (Wòng A Sáng hay Gíp A Sáng). Tuy nhiên, họ vẫn nói được hai ngôn ngữ: Tiếng dân tộc (của họ, gần với tiếng Tầu) và tiếng Việt.

            Vùng nầy có nhiều chủng tộc (Việt Cộng gọi là dân tộc ít người) bởi vì trong dân tộc Việt Nam nói chung có rất nhiều dân tộc ít người. Thông thường, người ta biết ở miền Trung thì có Radhé, Banà, Hmong… ngoài Bắc thì có Tày Nùng, Lôlô, Thái, v.v…

            Có lẽ trong sách địa lý cấp trung học ngày trước, các tác giả chỉ giới thiệu sơ qua về các dân tộc thiểu số, không nói nhiều, nói đủ vì không cần thiết. Nếu như có ai tò mò, mê đọc tiểu thuyết mới đọc thêm “Ai hát giữa rừng khuya” của Lan Khai hay “Thần Hổ” của TCHYA hay “Vàng và Máu” của Thế Lữ hoặc ít ra “Mắt Thần”, “Lệ Hằng phục thù” mới biết thêm chút ít về các giống dân nầy. Còn ngoài ra, những nhà nghiên cứu hay sách báo của họ thì tôi không rành rẽ lắm.

            Chính vì vậy, khi nghe Phù A Lầu khai là dân tộc Sán Dìu thì tôi cũng hơi ngợ. Có lẽ, tôi đã đọc đâu đó cái tên của dân tộc nầy, lâu ngày cũng đã quên, nay nghe nhắc mới nhớ lại một cách mơ hồ. Nếu hai chữ Sán Dìu không làm tôi liên tưởng tới một loài ký sinh dài như chiếc đũa trong ruột người thì tôi cũng đã quên tên dân tộc của cô ta, nay không nhớ để viết lại. Tuy nhiên, khi nghe cô ta nói hai tiếng Sán Dìu, tôi muốn cười vì sự liên tưởng trên nhưng không nói ra. Chữ ấy, cách nói ấy chỉ dùng để đùa giỡn trong số bạn bè vui chơi chứ nói ra với người lạ, lại là đàn bà con gái thì thô bỉ quá. May mà tôi đã kịp ngậm miệng lại mà không nói bậy.

            Cũng xin nói thêm về nhân dạng của Phù A Lầu như tôi có nói về nhân dạng Chung A Dũng như tôi đã nói ở trên. Có phải người miền núi hơi lớn con? Hai người giống nhau ở điểm đó. Cô gái hơi mập hơn một chút, cũng có nét mặt của người đàn bà con gái nhưng có vẽ “núi rừng” một chút. Thành thử, nếu cô ta có đóng vai Sơn nữ Phà Ca thì thích hợp hơn Thanh Nga nhiều. Khuôn mặt Thanh Nga có gì “núi rừng” như ca sĩ Siu Black để có thể đóng vai cô gái miền cao? Điểm đặc biệt, ở trại, người tỵ nạn không ai mang giày, chỉ mang dép Nhựt nên tôi thấy rõ hai bàn chân Phù A Lầu to quá khổ. Đúng là bàn chân của người leo núi, leo đồi nhiều từ khi còn bé. (1)

            Tò mò về vùng Đông Triều, hỏi thêm thì cô ta chẳng biết gì về quê hương núi rừng của cô cả. Vã lại, cô ta vượt biên hồi 10 tuổi. Một con bé mười tuổi không thể biết nhiều về quê hương mình cũng là lẽ đương nhiên.

            Bản làng cô ta nằm trên vùng cao rặng Đông Triều. Dân số trong bản làng chỉ có hơn trăm người, còn giữ nhiều phong tục hủ lậu, và ít giao thiệp với thế giới bên ngoài.

            Vậy cô ta có lý do gì để vượt biên?

            Chỉ là phong trào!

Dân tộc Sán Dìu của cô, tuy liên lạc không nhiều với thế giới bên ngoài nhưng vì bản làng cô ta không xa biển nên biết ít nhiều về vượt biên qua HồngKông. Chị Phù A Lầu vượt biên cũng vì vậy. Mặc dù người chị vượt biên sau Phù A Lầu, ra đi năm 1979, nhưng nhờ đi theo đường biển, tới thẳng HồngKông trước ngày đóng cửa đảo nên đã định cư ở Hòa Lan. Trước khi tới Bidong, Phù A Lầu vẫn thường liên lạc với chị và nhận tiền cứu trợ do chị gởi về. Sau khi tới đảo ít lâu, Phù A Lầu, nghe lời chị, xin đổi tên là Phù Hạnh Lan. Tôi không rõ hai tiếng A Lầu có tương đương với hai tiếng Hạnh Lan trong tiếng Hán Việt hay không.

            Chuyện Phù A Lầu vượt biên không quan hệ gì tới việc Tầu Cộng – Dziệt Cộng đánh nhau. Vì ở gần biển, họ biết việc vượt biên từ trước thời gian đó, sau 1975, phong trào người Nam vượt biên lan ra tới ngoài Bắc. Và người Bắc cũng đi theo, hy vọng một đời sống sung sướng tự do không như dưới chế độ Dziệt Cọng. Nhất là dân Quảng Ninh nhờ nối lại được quan hệ với bà con thân tộc đã ra đi trong cuộc di cư môt triệu người sau hiệp định Genève.

            Tuy nhiên, số phận Phù A Lầu ở “đất mẹ thân yêu” không khác lắm với số phận Chung A Dũng. Cò lẽ đó là chính sách chung của Trung Cộng.

            Những đứa bé “trở về với đất mẹ thân yêu” đều được đưa đi nông trường.

            Trong khi Chung A Dũng vác cuốc đi làm cỏ thì Phù A Lầu đeo gùi đi hái đọt trà non. Việc làm nào cũng có chỉ tiêu. Không ai có thể đạt được chỉ tiêu nếu chỉ làm việc 8 giờ mỗi ngày. Người làm nông trường thì cho rằng ban giám đốc đưa ra chỉ tiêu cao, nhưng ban giám đốc thì nói ngược lại. Họ cho rằng người làm nông trường làm việc kém, lao động lơ là, chỉ muốn “Ngồi mát ăn bát vàng”, bóc lột nhân dân…Và cuộc đấu đá, bề ngoài có vẻ dân chủ, nhưng không bao giờ chấm dứt vì không bao giờ đạt tới chân lý. Ban giám đốc bao giờ cũng tự cho rằng họ có quyền, và cần đạt “chỉ tiêu trên giao”.

            Khi Chung A Dũng trốn đi Hồng Kông thì bị bắt và đưa về đây, cùng nông trường với Phù A Lầu. Hai người biết nhau, tuy đã lớn nhưng vẫn còn ở tuổi vị thành niên.

            Tôi cho Chung A Dũng về trại hai ngày, suy nghĩ cho kỹ rồi lên khai thật việc chúng vượt biên như thế nào, làm sao mà hơn một chục thanh niên, trốn khỏi trại tỵ nạn ở HồngKông bên Tầu mà lại đến được trại Bidong ở Mã Lai. Chúng nó khai rằng chúng đi bằng bè, bè trôi ra ngoài Thái Bình Dương rồi lại trôi về vịnh Thái Lan, tấp vào đảo Bidong. Chúng nói khai như thế, tin được không?!

            Dĩ nhiên là không, không ai tin lời chúng khai.

Tôi cho việc nhốt chúng vào Monkey House như thế là tàn nhẫn. Mười năm vượt biên, từ Việt Bắc, qua Tầu rồi nay, sau 10 năm phiêu bạt, chưa đạt tới đích, nay bị đem nhốt vào tù. Tôi nghĩ là không nên làm vậy, nên đề nghị trưởng phòng cho chúng về, khuyên chúng khai thật. Có gì gấp đâu, và chúng nó có trốn đi đâu được mà ngại. Đằng nào rồi chúng cũng sẽ khai thật thôi!

            Hai ngày sau, Chung A Dũng lên trình diện. Thái độ nó vẫn thế, vẫn che dấu việc chúng rời HồngKông như thế nào để tới được đây.

            Tôi biết tôi nóng tính, hỏi nữa, Chung A Dũng vẫn không khai, ngoan cố, không chừng tôi không giữ được bình tĩnh, có thái độ hung dữ, tát tai nó không chừng! Vã lại, tôi cũng sợ mất mặt với trưởng phòng, cứ nhốt vào Monkey House là xong chuyện. Làm cho chúng sợ, không chừng chúng lại bị tụi lính Mã Lai đánh cho, chúng nó sẽ khai hết, vừa mau mà lại khỏe. Nhưng để chúng bị Mã Lai đánh thì tội nghiệp lắm!

            Tôi biểu Chung A Dũng ra phòng ngoài ngồi chờ, trong khi tôi chán nãn vì mớ hồ sơ gồm những lời khai của bọn nầy còn để trước mắt, trên mặt bàn.

            Kỹ sư Nguyễn Dương Hảo ngồi bên cạnh tôi, cũng vừa kết thúc một cuộc phỏng vấn. Người tỵ nạn được phỏng vấn đã ra về. Hảo hỏi tôi:

– “Bộ nó không khai à?”

– “Bọn nầy ở với Việt Cộng quen rồi, ngoan cố lắm, cứ “ba không” là mình chẳng làm gì được. Bực mình, tui muốn đục vào mặt nó.”  Tôi trả lời.

Hảo cười:

– “Đừng nóng. “Thương thì thương cho trót.” Hay anh để tui nói chuyện với nó coi.”

Tôi cười:

– “Đừng nóng sao được. Người ngợm nó như thế, họ tên nó như thế mà nó cứ khăng khăng cải với tui nó là ngưòi Kinh. Kinh cái mẹ gì ở cái thằng mọi Việt Bắc họ Chung.”

Hảo cười:

            – “Cứ như anh, qua Mỹ tụi nó thưa cho cái tội kỳ thị.”

            Tôi cười, mệt mỏi:

– “Ông vô đi! Ông nói năng mềm mỏng, dịu dàng, không chừng nó nghe. Tui quen thói “Cảnh sát là bạn dân”, đụng tới đâu nạt nộ tới đó, nhiều khi chúng nó biết tẩy của mình. Không khai thì làm gì được nhau!”

Hảo cười, không nói gì, đem hồ sơ trả lại cho ông trưởng ban Trần Quốc Phụ rồi ra phòng ngoài ngồi với Chung A Dũng.

Hảo thiệt là thiên tài. Anh ta nói gì với Chung A Dũng, tôi không biết, cũng chẳng lắng nghe! Một lúc sau, anh ta dẫn Chung A Dũng đi uống càphê. Trời cũng đã chiều, tôi lấy áo quần đi tắm để về nhà.

Ở Bidong, nước ngọt khan hiếm. Người tỵ nạn mỗi ngày được Mã Lai phát cho một xô nước ngọt, cỡ 10 lít. Nước ngọt nầy là nước đã lọc, do tầu chở từ trong đất liền ra, ở tiểu quốc Terranganu. Khi tầu ra tới nơi, đậu ở bến thì nước ngọt được bơm vào các bồn chứa ở lưng chừng núi. Sáng sáng, khoảng 10 giờ, Mã Lai bắt đầu phát nước. Người tỵ nạn sắp hàng dài, hai ba cái xô không sẵn sàng, chờ tới phiên, có tên lính Mã Lai đưa vòi cho nước vào xô. Nước đầy thì xách đi.

Trên đảo cũng có một cái giếng, ngay giữa trại nhưng nước còn mặn, không xài được. Ở lưng chừng núi, người tỵ nạn ban đất trồng rau. Họ trồng đủ loại, ngắn ngày như rau thơm, rau tần ô, rau muống, dài ngày thì có khoai mì (sắn), và đào giếng sát bên con suối cạn để lấy nước tưới rau. Suối chỉ cạn trên mặt, bên dưới còn mạch ngầm. Đám thanh niên, chiều chiều kéo nhau lên núi, lấy nước ở những cái giếng ấy tắm giặt, vì một xô nước 10 lít chỉ đủ để nấu ăn mà thôi.

Riêng tại phòng SB cũng như khu Task Force, Cao Ủy… thì nước ngọt dùng thoải mái. Những người làm việc ở phòng SB đều được tắm giặt ở đó. Đó cũng là cái “mồi” để trưởng phòng SB dùng để câu hoặc ràng buộc người làm việc ở đó. Hôm tôi nhận việc, ông cựu thiếu tá, lúc ấy là phó phòng Lữ Quới Trang (lúc đó còn làm phó phòng) nói với tôi:

– “Làm việc ở đây, anh có nước ngọt dùng thoải mái. Đó là sự ưu đãi.”

Nghe câu đó, tôi bỗng nhớ câu thơ trong truyện Kiều. Từ Hải nói với Kiều, sau khi nghe lời Kiều xúi Từ Hải ra hàng:

 

Nước nôi” buộc trói lấy nhau,

Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?”

Ở Bidông, khó so sánh việc có nước ngọt tắm táp thoải mái với tiêu chuẩn danh lợi trong truyện Kiều. Ở đây không có áo xiêm, không có “Xe ngựa rợp trời mây,” không có “Áo đỏ mũ pha chàm” như trong bài thơ “Vào Thành” của cụ Phan Bội Châu mà chỉ là một xô nước ngọt. Một xô nước ngọt mà cũng đủ trở  thành “Cái vòng danh lợi” khiến nhiều người phải cúi đầu. Cuộc đời buồn cười đến thế hay sao?

Cũng vì nước ngọt, đại tá Nguyễn Thiều, tuy không làm ở phòng SB nhưng chiều chiều cũng lên đây tắm giặt, bởi vì ông ta là người lon lá cao nhất đảo, người ta nể vì. Tuy nhiên, không biết do đâu, một hôm tôi nghe cựu thiếu tá Lữ Quới Trang, vừa mới lên trưởng phòng thay cho Trần đình Khánh, thì ông “quan tư” nầy đã đuổi Trần Đình Khánh về longhouse ở, không cho ăn ngủ tại phòng SB nữa, và với đại tá Thiều, ông Trang bảo: “Đại tá Thiều lên đây tắm, tôi đuổi về.”

Bỏ phòng SB qua làm việc ở phòng Phát Triển Cộng Đồng, tôi cũng như Hảo, Liệu đều bị mất “quyền lợi nước ngọt”. Uổng thật! Vậy là không còn ưu tiên nước ngọt là anh em chúng tôi đã thoát vòng danh lợi được rồi hay chăng??!!!

Hôm sau, Chung A Dũng dẫn cả đám chúng nó lên. Dũng nói với trưởng phòng, nhưng nói to, ai cũng nghe:

– “Chúng cháu xin khai thật. Thế cũng là mất lời hứa với người ta. Chúng cháu đành chịu vậy.”

Thế là trưởng phòng cho tập trung nhân viên để phỏng vấn lại đám nầy. Những “case” đang tiến hành, được tạm thời cho về, “sẽ gọi lại sau”. Ấy là trưởng phòng nói với họ, trước khi họ ra về.

Tôi lại phỏng vấn Chung A Dũng lần nữa.

Chung A Dũng khai tiếp:

Ở nông trường mới, Chung A Dũng làm quen với một đám thanh niên nam nữ mới, chưa đứa nào được 18 tuổi, trong số có Phù A Lầu. Ai từ 18 tuổi trở lên, đều bị đưa đi những nông trường rất xa, về phía tây lục địa Trung Hoa. Dũng không biết những nông trường nầy tên gì. Tuy nhiên, qua thư từ với gia đình, Dũng biết có một số thanh niên vượt biên hồi chiến tranh 1979, ai trên18 tuổi hoặc nay đã trên 18 tuổi đều bị đưa tới những nông trường nầy. Đời sống ở đây gian khổ lắm, tuy được ăn no nhưng làm việc hết sức cực nhọc.

Nông trường đưa ra những chỉ tiêu mới trong các dịp lễ lạc: Mừng đảng, mừng tổ quốc, mừng sinh nhựt chủ tịch Mao, chủ tịch Đặng, thi đua giành cờ đỏ, lao động tiên tiến, v.v… là coi như làm việc 18 giờ một ngày, liên tiếp nhiều ngày trong các đợt thi đua. Những thanh niên ấy báo cho gia đình biết đừng hy vọng gì có ngày họ trở về. Khó trốn ra khỏi nông trường. v.v…

Bọn Dũng biết khi chúng tới 18 tuổi, sẽ bị điều tới những nông trường như các thanh niên kia đã đi. Vì vậy, mỗi lần gặp nhau, chúng đều bàn cách trốn khỏi nông trường.

Sau khi hẹn nhau, một ngày chủ nhật, chúng nó chia làm nhiều toán, trốn khỏi nông trường, đón xe đi Sán Đầu. Từ Sán Đầu, Chung A Dũng và Phù A Lầu đi xe lửa về Cửu Long. Lúc nầy, người Anh còn cai trị HồngKông nên việc kiểm soát người vào HồngKông cũng bình thường.

Nhưng rồi bọn chúng gặp may, bởi vì lúc nầy chính quyền Cộng Sản Trung Hoa cố ý làm ngơ để người Hoa lục địa được vào HồngKông dễ dàng, nhằm giải tỏa bớt nạn thất nghiệp và đói kém ở lục địa. Việc kiểm soát người vào HồngKông bên phía chính quyền Cộng Sản mới gắt gao, khó qua lọt. Còn như nay, khi họ đã cố ý làm ngơ thì việc vào HồngKông tương đối dễ, nhất là với người già và bọn trẻ vị thành niên. Bọn Chung thuê thuyền nhỏ đi từ Cửu Long vào HồngKông rồi xin vào trại tỵ nạn, khai là từ Việt Nam qua.

Khi khai lý lịch ở trại, chúng phải quê quán ở Việt Nam, tên cha mẹ và anh chị em ở Việt Nam. Phù A Lầu khai thêm tên người chị, cũng vượt biên, hiện định cư ở Hà Lan. Kinh nghiệm cho chúng biết, nếu khai là từ các nông trường ở lục địa đến, dù gốc gác là từ Việt Nam, cũng bị chính quyền HồngKông trả lại cho Cộng Sản Tầu. Nhờ khai gian như vậy nên chúng khỏi bị trả về “địa ngục nông trường” (lời của Dũng).

Tuy nhiên, tình hình ở trại tỵ nạn HồngKông cũng khá tuyệt vọng vì lúc bấy giờ tuy HồngKông chưa “đóng cửa đảo” nhưng việc được xét cho đi định cư rất khó, nếu không phải là người ra đi từ miền Nam Việt Nam, có nghĩa là chưa từng sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Dũng nói:

– “Cháu đã lớn, cháu cần nhiều thứ, nhứt là thuốc lá. Ở quê, 10 tuổi cháu đã biết hút thuốc rồi. Ở quê cháu, người ta tự trồng lấy thuốc lá mà hút, bọn con nít phụ giúp cha mẹ nên được hút theo, đâu có ai la rầy gì.”

– “Ở nông trường, người ta cũng phát thuốc lá cho trẻ con như anh à?” Tôi hỏi.

– “Không! Không bác à! Nhưng cháu cũng có thuốc lá hút. Cháu đổi “tiêu chuẩn” cho người lớn, họ trao “tiêu chuẩn thuốc lá” cho cháu.”

– “Anh trao cho họ những gì?” Tôi hỏi.

– “Xà phòng, đường, quần áo… Cái gì không cần lắm thì đổi cho người ta lấy thuốc lá hút.” Dũng trả lời.

– “Chế độ Cộng Sản ở đâu cũng giống nhau!” Tôi nói, nhưng không thấy Dũng tỏ vẻ đồng ý. Tôi mới sực nhớ rằng, có thể anh ta chưa có kinh nghiệm hay đọc sách báo nói về chế độ nầy. Tôi lại hỏi:

– “Ở trại tỵ nạn HồngKông, người ta có phát thuốc lá cho người tỵ nạn không?”

– “Không bác à! Ai muốn hút phải mua.” Dũng trả lời.

Tôi lại hỏi:

– “Ở trại đó, ăn uống, quần áo người ta phát có đầy đủ không?”

– “Vâng! Đủ, thừa! Nhưng tiền thì không có, khổ lắm!” Dũng nói.

– “Anh cần tiền để tiêu gì?” Tôi hỏi.

– “Thuốc lá! Cháu thèm thuốc lá lắm.” Dũng nói. “Mấy tháng đầu, thèm thuốc lá quá! Cháu tìm ra cách có thuốc để hút.”

– “Kể đi.” Tôi bảo.

– “Cháu phát hiện đêm đêm tụi lính canh đi tuần dọc hàng rào. Bọn nầy hút thuốc lá. Chúng quăng tàn thuốc lá dọc đường đi. Vậy là cứ mỗi sáng, cháu dậy sớm, đi dọc theo con đường chúng đi tuần để lượm tàn. Gom nhiều cái tàn lại, lấy giấy báo mỏng vấn thành điếu thuốc mới, vấn kiểu sâu kèn, hút cũng được mấy hơi. Đã lắm.”

Câu chuyện của Dũng làm tôi nhớ tới một cảnh tượng tôi đã chứng kiến ở Trảng Lớn. Chúng tôi vào trại “tù cải tạo” đã mấy tháng, cho gởi thư về thăm nhà nhưng chưa cho thăm nuôi hay gởi quà gì cả.

Nhiều người nghiện thuốc lá, tin Việt Cộng, cứ tưởng đi “học tập” vài tuần thì về, như thông báo của tướng Trà, “Chủ tịch Ủy ban Quân quản”, đem theo năm bảy gói thuốc lá là vừa. Người ta mấy ai nghĩ đi lâu quá vậy, thành ra nhiều người thèm thuốc lá lắm. Một hôm tôi cùng một số người nữa, đi từ L3/T3 là “đơn vị tù” của tôi qua phía khu vực nhà thờ vác gạo xuống xe. Nhà thờ thành nhà kho. Trên đường về, thấy có một toán người đi ngược chiều, tôi dáo dác tìm xem có ai quen không, thì thấy Phan Văn Hộ, một bạn học cũ, và Huỳnh Hữu Ủy, một người em bà con. Khi hai toán người vừa gặp nhau, thì một vài người từ cả hai nhóm, chạy nhanh tới lượm một cái gì đó nằm ở giữa đường. Sau hỏi ra mới biết là cái tàn thuốc lá, có lẽ do một “chú bộ đội” nào đó, hút xong vụt xuống mặt đường. Bộ đội hút thuốc không có “cán” thành ra cái tàn thuốc cũng có phần “phong phú.”

Cuộc đời ở trại, dù là trại gì, trại tỵ nạn, trại tù, hay “trại cải tạo” có những cái giống nhau, rất đáng buồn!

Thuốc lá tàn thường ngon hơn thuốc cả điếu, vì vậy mới có câu tục ngữ “Thuốc ngon nửa điếu”. Bạn bè, nếu biết thương nhau, cũng thường chia nhau những điếu thuốc tàn:

            Bạn vàng chơi với bạn vàng

      Không tiền mua thuốc lượm tàn hút chơi.

Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng những người tranh nhau cái tàn thuốc trên đường hôm ấy, coi nhau là “Bạn vàng,”

Tôi hỏi Chung A Dũng:

– “Chú mầy lượm được nhiều tàn thuốc không?”

Dũng nói:

– “May rủi thôi! Có hôm những đứa khác ra sớm, nó lượm hết nên không được gì!”

– “Chú mày không có đồng xu nào dính túi để mua thuốc lá hay sao?” Tôi hỏi.

– “Cháu có ít tiền, nhưng cháu phải để dành. Chưa biết tương lai ra sao mà có bao nhiêu tiêu hết là chết đấy bác ạ!”

Được một thời gian, chúng nó được cho ra khỏi trại kiếm việc làm. Vậy là bọn chúng có tiền, chuẩn bị vượt biển một lần nữa, nhưng chưa biết đi đâu. Phải rời khỏi trại HồngKông, nhưng con đường sắp tới thì vô định.

Bọn chúng mua một chiếc ghe buồm, đã cũ. Cũ và không có máy nổ thì rẽ tiền, nhưng bọn chúng đã quyết, cứ giong buồm ra khơi. Lên phía bắc thì tới Nhật Bản, như vài người tỵ nạn đã tới được.

Tôi hỏi:

– “Lỡ buồm đưa bọn chú mầy về phía nam, vô đảo Hải Nam hay Hải Phòng thì sao?”

– “Vô Hải Nàm thì không sợ. Nhiều người từng vô Hải Nàm, được giúp đỡ, trước khi tới HồngKông nhưng về lại Việt Nam thì coi như chấm dứt.” Dũng trả lời.

– “Chấm dứt “một đời phiêu lãng” 10 năm! (1)” Tôi nói chen vào.

Dũng cười, rõ ràng là cười gượng. Anh ta không muốn trở về Việt Nam. Cuộc đời đáng buồn thật! Ra đi mà sợ phải trở lại cố hương!

Vậy là sau gần bốn năm ở trại tỵ nạn HồngKông, chúng lại trốn đi. Không biết bọn chúng gặp xui hay hên. Vừa ra khơi được hai ngày thì chúng gặp một trận bão. Cột buồm gãy, buồm cũng không còn. Vậy là chiếc ghe trôi giật dờ trên biển.

Vì vừa thiếu kinh nghiệm vượt biển, vừa không có tiền nhiều để chuẩn bị lương thực và nước ngọt cho đầy đủ. Tới ngày thứ tư thì tất cả bọn chúng nằm la liệt trên sàn ghe: Khát, đói, mệt lã, không còn đứng ngồi gì được nữa. Tội nghiệp nhứt là hai đứa bé con của hai cặp vợ chồng trẻ. Chúng lấy nhau trong trại tỵ nạn. Đứa bé nào cũng chỉ khoảng hai tuổi.

Ngày thứ năm trôi qua…

Rồi ngày thứ sáu trôi qua…

May mắn, tối hôm đó, trời đổ mưa lớn. Chúng nó hả họng uống nước mưa, tìm dụng cụ hứng để dành. Cũng chỉ đỡ khát trong ngày thứ bảy mà thôi.

Ngày thứ tám thì coi như chết cả. Cả bọn nằm la liệt trên sàn ghe, không đứa nào nhúc nhích gì được. Chung A Dũng nghĩ rằng chuyến đi của bọn chúng coi như vậy là xong. Đời nó chấm dứt ở đây, trên biển. Nó sinh ra ở núi, chết ở biển. Thật mai mỉa!

Thế rồi chiều hôm đó, khi mặt rời sắp lặn, bỗng nhiên, có một bóng đen vĩ đại chụp tới, che hết ánh nắng mặt trời chiều còn gay gắt, rồi dần dần che luôn cả ánh sáng. Chung A Dũng có cảm tưởng cái gì đó như một con quái vật khổng lồ bao trùm, che hết không gian, làm cho trời tối lại.

Thì ra, một chiếc tầu thủy rất lớn dừng lại bên cạnh. Thế rồi vài thủy thủ theo thang giây xuống ghe của chúng. Nhưng, Chung A Dũng nói: “Cháu thấy tuyệt vọng. Những người nầy là Liên Xô. Cháu nghĩ có lẽ chúng sẽ đưa bọn cháu về lại Việt Nam.”

“Bọn cháu chẳng đứa nào nhúc nhích gì được, chỉ nằm nhìn mấy thủy thủ Liên Xô. Chúng ngẩng đầu lên boong tầu cao, gọi và nói gì với những người trên tầu. Một lúc, chúng thòng xuống một thùng nước uống cùng với cái ca nhựa. Các thủy thủ đổ nước ra ca, đem đến cho từng người, trước hết là cho hai đứa bé rồi đến người lớn. Chúng cháu chỉ được cho uống vừa phải thôi. Mấy người Liên Xô ra dấu hẹn một chút nữa sẽ uống tiếp. Bọn cháu tỉnh dần dần.

Sau đó, họ thòng xuống một cái lưới như lưới cá nhưng lớn lắm. Do các thủy thủ Nga ra hiệu, bọn chúng cháu vào nằm trong lưới. Lưới cất lên cao và đặt chúng cháu xuống sàn tầu.

Họ cho chúng cháu ngồi nghỉ một chút, cho uống nước cam. Ai cũng thấy khỏe lại, rồi họ đưa cả bọn vào phòng ăn cho ăn cháo loảng.”

– “Cháo không, nấu bằng gạo, không có thịt cá gì hết?” Tôi hỏi.

– “Không phải nấu bằng gạo như người mình. Hình như bằng bột, có rau, có thịt nhưng loảng hơn cháo ta.”

– “Họ tốt không?” Tôi hỏi.

– “Tốt lắm! Ăn xong, họ biểu nghỉ một lúc, rồi phát quần áo, vải mỏng nhưng tốt lắm. Họ phát khăn tắm, biểu đi tắm. Đàn bà tắm trước, đàn ông tắm sau. Tắm xong thì vào một cái phòng rất lớn, chẳng có giường chiếu gì hết, nhưng họ phát cho mỗi người hai tấm chăn, cái để nằm, cái để đắp. Xong họ ra dấu chúc ngủ ngon rồi đi ra.” Dũng kể tiếp.

– “So với người Tầu thì sao?” Tôi hỏi.

– “Người Tầu so với họ thế nào được! Người Tầu đã không tốt bụng, không giúp đỡ mà nói thì toàn nói dối.” Chung A Dũng giải thích.

– “Bên nào cũng Cộng Sản, nhưng chú mầy có thấy Cộng Sản Tầu và Cộng Sản Nga khác nhau không?” Tôi hỏi câu đó là vì tôi bị ám ảnh bởi một câu văn tôi đã đọc khi còn trẻ, trong cuốn “Kẻ Nội Thù” (The enemy within) của linh mục Raymond J. De Jaegher, đại khái như sau: “Cộng Sản sau bức màn tre tàn ác hơn Cộng Sản sau bức màn sắt.” “Cộng Sản sau bức màn tre” là Cộng Sản Châu Á, đứng đầu là chú ba Mao Xếnh Xáng. “Cộng Sản sau bức màn sắt” là

Cộng Sản bên Đông Âu, đứng đầu là Nga Xô.

– “Khác hoàn toàn. Tầu thì chơi gì được.” Dũng kết luận.

– “Ngày hôm sau thức dậy, bọn cháu lại được ăn sáng, bánh mì, bơ, thịt heo… được nghỉ ngơi. Đến trưa thì một ông có vẻ là người chỉ huy, đã lớn tuổi, cùng một người khác, trẻ hơn, có lẽ là phụ tá hay gì đó, đến nói chuyện với bọn cháu. Họ nói, bọn cháu không hiểu gì cả. Thế rồi hai người nói gì với nhau, người phụ tá bỏ đi, một chốc, ông ta trở lại, mang theo một cái bản đồ xếp gọn. Trở lại phòng, ông ta trải tấn bản đồ ra trên sàn, chỉ chỏ trên bản đồ và nói.”

– “Nói gì anh có hiểu không?” Tôi hỏi.

– “Hiểu chứ!” Dũng nói.

Tôi cười, nói đùa:

– “Chú mầy học tiếng Nga nhanh thế.”

– “Đâu có hiểu họ nói gì. Họ chỉ trên bản đồ nên cháu hiểu.” Dũng nói, tin tưởng.

– “Họ chỉ một điểm ở ngoài biển. Cháu hiểu đó là điểm chiếc tầu bọn cháu đang ở trên đó.” Dũng giải thích.

– “Điểm đó nằm ở đâu? Gần HồngKông, Hải Nàm hay gần Việt Nam?” Tôi tính nói vịnh Bắc bộ nhưng sợ Chung A Dũng không hiểu nên nói gần Việt Nam cho y dễ hiểu.

– “Không gần đâu hết! Họ chỉ cho cháu biết chỗ nào là HồngKông, đảo Hải Nàm và Hải Phòng, nơi họ sẽ đến. Chỗ nào cũng xa lắm. Họ chỉ tuốt ngoài biển khơi.” Chung A Dũng nói.

– “Ngoài Thái Bình Dương?” Tôi ngạc nhiên hỏi.

– “Vâng, cháu biết chắc là Thái Bình Dương vì nó xa đất liền lắm. Vậy là suốt mấy ngày lênh đênh, thuyền của bọn cháu bị đẩy ra ngoài xa đến vậy.” Dũng nói.

– “Nếu lênh đênh thêm ít ngày nữa, bọn mầy đến được Mỹ rồi đấy. Khỏi thanh lọc.” Tôi nói đùa.

Dũng cũng nói đùa:

– “Chỉ còn mấy các xác khô trên ghe!”

Tôi hỏi:

– “Thế rồi họ nói gì nữa?”

– “Họ nói sẽ đưa mấy đứa cháu vào Hải Phòng. Tầu họ sắp ghé Hải Phòng. Nghe thế, mấy đứa con gái khóc lóc, con Phù A Lầu cũng khóc. Bọn chúng quì xuống chấp tay lạy hai người Nga. Bọn con trai cũng làm theo, lạy lấy lạy để. Thế rồi ông lớn tuổi cười. Thấy ông cười, bọn cháu bớt sợ, hết lạy, chỏng tai nghe ông nói gì.” Dũng trả lời.

– “Ông ta nói cái gì mà tụi bây hiểu đươc?” Tôi hỏi.

– “Ông chỉ vào bản đồ.” Dũng nói. “Ông bảo tầu ông sẽ đi Singapore. Ông ta phải nói những hai ba lần cháu mới nghe ra chữ Singapore, và hiểu rõ sau khi ông ta đưa tay chỉ vào cái chót mũi của đảo Mã Lai. Sau đó, ông ta mới quay trở lại Hải Phòng. Ông hỏi bọn cháu muốn đi đâu?” Dũng nói.

– “Bọn cháu nói muốn đi Singapore. Ông ta lắc đầu. Ông ta không có cách đưa bọn cháu vào Singapore. Ông ta bảo vào Mã Lai thì được. Ông ta chỉ vào dãi bờ biển gần Singapore. Bọn cháu mừng quá, chấp tay lạy mà cám ơn ông ta. Ông ta cười, xoa đầu cháu rồi bỏ đi.”

– “Thế rồi tầu đi về phía nam?” Tôi hỏi cho có chừng.

– “Phải ba ngày sau tầu mới tới nơi. Cháu không rõ vì tầu chạy chậm hay chỗ họ cứu bọn cháu ở ngoài Thái Bình Dương xa quá.” Dũng trả lời.

– “Tất cả là ba ngày ba đêm. Thời gian đó, bọn mầy làm gì? Họ có cho lên trên boong tầu không?”

– “Không! Chỉ ở trong phòng. Khi nào đi tắm mới ra khỏi phòng. Tới bữa, họ đem đồ ăn tới. Đồ ăn để trên cái xe. Ăn xong, họ tới lấy đem đi. Bọn cháu chỉ ăn rồi nghỉ.”

– “Con Phù A Lầu khai, trong thời gian ở trên tầu Liên Xô, mầy hiếp nó.” Tôi hỏi, nghiêm nghị.

– “Không bác à! Bác đừng nghe con điên đó.” Dũng nói, có vẻ sợ.

Tôi hỏi gắt:

– “Nhưng mầy có làm gì nó, nó mới tố cáo mầy. Tại sao nó không nói mấy đứa khác.” Tôi nói, cứng rắn: “Có lửa mới có khói.” Mầy có làm gì nó, mầy phải khai ra. Con nhỏ đó mà thưa bên Mã Lai, tụi Mã Lai cho mầy nhừ đòn luôn.”

– “Vâng! Vâng! Đầu đuôi như thế nầy. Cháu quen nó hồi ở nông trường. Hồi đó bọn cháu mới 15, 16 tuổi gì đó! Nó cũng dễ thương. Rồi bọn cháu trốn khỏi nông trường đi với nhau. Mua ghe vượt biển, cháu cũng rủ nó đi theo. Bao giờ cháu cũng lo chăm sóc cho nó. Mấy hôm ở trên tầu Liên Xô, cháu lo cho nó đủ mọi chuyện, giặt áo quần cho nó, quét chỗ ngủ, trải chăn cho nó. Nó có nói gì đâu?” Dũng khai.

– “Vậy mà mầy cũng xông vào làm ẩu nó được?” Tôi nói.

– “Không phải vậy đâu! Một đêm, khuya lắm, cháu không ngủ được, nó cũng không ngủ được. Hai cặp vợ chồng nằm phía bên kia, cứ lục đục trong cái chăn. Tưởng nó bằng lòng, cháu qua nằm bên cạnh nó.” Dũng nói.

– “Vậy là mầy “Thừa cơm rửng mỡ”, “Ăn no bò cỡi”. Mầy làm gì nó chưa?” Tôi hỏi.

– “Dạ chưa! Cháu chỉ mới đưa tay ôm ngang bụng nó, nó đã ngồi bật dậy. Nó dọa la to lên cho mọi người hay. Hoảng quá, cháu bỏ về chỗ ngủ của cháu!” Dũng khai.

– “Vậy mầy chưa làm gì hết? Chắc không?” Tôi hỏi.

– “Dạ, chắc chắn! chưa làm gì hết. Cháu thề có ông Chúa, ông Phật.” Dũng nói.

– “Để tao hỏi lại con Phù A Lầu coi. Nếu nó khai như mầy thì tao tha. Còn nó khai khác, tao sẽ điều tra lại, giao mầy cho Mã Lai. Mầy có đem ông Chúa, ông Phật hay ông thánh Ala ra làm chứng mà khai gian thì cũng coi như bằng thừa? Làm gì mầy mời cả Chúa, cả Phật làm chứng cho mầy dữ vậy? Một ông là đủ rồi, một ông mà mầy khai thật là tốt. Mầy mời cho lắm vào mà khai gian thì cũng vô ích. Không ông nào giúp được mầy!”

– “Cháu có theo đạo Phật, đạo Chúa gì đâu! Ở trại tỵ nạn, nghe người ta cầu thì cháu cũng cầu, làm theo như họ.” Dũng giải thích.

– “Mầy lớn lên ở với Việt Cộng mà Chúa với Phật gì. Tao ở với Quốc Gia nhưng tao cũng ít cầu Chúa, cầu Phật. Có thề thì tao thề với lương tâm. Lương tâm cũng là Chúa, là Phật. Tụi Việt Cộng không có lương tâm. Tao khác với Việt Cộng chừng đó cũng đủ rồi.”

Một lúc sau, tôi nói với Dũng:

– “Đến đây, tao cho mầy về, nghỉ, ngày mai, tao phải phỏng vấn con Phù A Lầu, ngày kia mầy lại lên, nhớ chưa?

Phù A Lầu khai giống như Chung A Dũng. Nhưng tôi không hiểu sao con Phù A Lầu có vẻ ghét Chung A Dũng lắm. Tôi nói:

– “Trong suốt thời gian mầy và nó đi với nhau, nó lo lắng chăm sóc cho mầy nhiều lắm. Tại sao mầy lại ghét nó?”

Câu trả lời của Phù A Lầu làm cho tôi thấy “nản tình đời”. Sao mà bọn con gái nó “quỉ quái” thế?

– “Tại vì chị tôi đã chọn cho tôi một người sẵn ở Hà Lan, chờ khi tôi qua tới nơi thì nó cưới tôi.”

Chung A Dũng khai tiếp:

“Ông già thuyền trưởng hỏi chúng cháu có muốn đưa vào trại tỵ nạn Mã Lai không? Chúng cháu đồng ý, mừng lắm.”

“Chiều hôm đó, trời cũng chiều lắm rồi. Bây giờ họ cho bọn cháu lên cả trên boong, gói xách mang theo, chuẩn bị rời tầu. Áo quần thì họ cho luôn. Chăn màn để lại.

“Chiếc tầu thủy dừng bên cạnh chiếc ghe đánh cá Mã Lai. Hai thủy thủ leo thang giây xuống chiếc ghe đánh cá. Họ nói gì với nhau chúng cháu không hiểu. Một người leo lên, nói chuyện với thuyền trưởng. Ông nầy ra lệnh thòng đồ trong lưới thả xuống cho ghe Mã Lai. Hình như đó là lương thực. Sau đó, họ chuyển dầu xuống cho ghe Mã Lai nữa. Rồi họ thòng chúng cháu trong lưới xuống ghe đánh cá. Cháu đoán rằng sau khi hai bên trao đổi với nhau đã xong, họ cho bọn cháu xuống ghe, ghe Mã Lai sẽ đưa chúng vào bờ.

“Bọn cháu khóc khi chào ông thuyền trưởng, ông ta tốt quá! Ông ta thì cười rất hiền từ, chúc chúng cháu may mắn. Ông dặn và buộc phải hứa là không được khai với ai, cả với Liên Hợp Quốc rằng được tầu Liên Xô cứu. Tất cả chúng cháu đều hứa chắc với ông ấy như vậy, sẽ không khai ra tầu Liên Xô cứu.

“Trời tối một lúc lâu, ghe đánh cá Mã Lai mới đưa chúng cháu vào bờ. Họ cũng bảo rằng không được khai ra ghe của họ. Khai ra họ, họ sẽ bị tù. Họ đưa hai tay chéo vào nhau ra dấu bị còng tay.

“Khi ghe vào gần, nước cạn ngang bụng, họ bảo chúng cháu lội xuống nước mà vào. Xong rồi ghe chạy mất dạng.

“Đêm đó, chúng cháu nằm trên bờ biển. Khuya gió rét lắm. Sáng hôm sau, cảnh sát Mã Lai tới. Bọn cháu đã chuẩn bị sẵn, khai rằng đi bè vào đất liền. Bè bị nước cuốn đi đâu không biết, không có ghe tầu nào giúp đỡ cho tới đây cả. Khai như thế nào, Mã Lai nghe như thế, không hỏi đi hỏi lại gì!”

Việc tầu Liên Xô cứu người tỵ nạn, khoảng vài năm trước khi Liên Xô sụp đổ cũng đã từng xảy ra. Thành ra, việc bọn chúng được tầu Liên Xô cứu cũng không có gì lạ.

Điều đáng buồn là sau 10 vượt biên, bỏ nhà, trốn nước ra đi, nay chúng mới tới được trại tỵ nạn ở Bidong, lại phải bị thanh lọc.

Trong số bọn chúng, chỉ có Phù A Lầu có người chị ở Hà Lan bảo lãnh, được đi định cư, tất cả những đứa còn lại, đều bị Liên Hợp Quốc từ chối vì không phải là “người tỵ nạn chính trị.” Chúng ở trại tỵ nạn thêm 3 năm nữa, cộng chung là 13 năm, trước khi bị “Cưỡng bức hồi hương” về lại Việt Nam.

Đọc xong câu chuyện nầy, tôi hy vọng độc giả sẽ thấy xúc động, thương cho bọn Chung A Dũng. Thật ra, chuyện vượt biên 10 năm, ngày nay đâu còn gì lạ! Thế người Việt vượt biên bị kẹt lại ở Phi gần 20 năm thì sao? Không đáng thương hay sao? Cứ nghe những bài ca của Trầm Tử Thiêng thì biết: “Bên em đang có ta” hay “Làng Việt Nam đang xây ở ngoài Việt Nam.”

Tất cả đều do Việt Cộng mà ra cả, mà đứng đầu là “Già Rô”. “Già Rô” chính danh là Hồ Chí Minh, là tiếng lóng của anh em chúng tôi thường nói trong trại tù cải tạo mỗi khi muốn nói đến y, trước mặt tụi cán bộ nhưng không muốn cho chúng nó biết.

Giả tỉ như khi Việt Minh mới cầm quyền năm 1945, Hồ Chí Minh tổ chức bầu cử tự do, thành lập một nước Việt Nam dân chủ thực sự thì làm gì hai ba chục năm sau, có bọn trẻ con 10 tuổi như Chung A Dũng, Phù A Lầu trốn khỏi quê hương mà đi, làm gì có hàng trăm người Viêt tỵ nạn kẹt lại bên Phi gần 20 năm?

Nghĩ cho kỹ, những người ấy thật đáng thương!

Tôi không rõ hoàn cảnh những người Việt bị kẹt ở Phi như thế nào nên tôi không viết gì về họ được. Nhưng hoàn cảnh bọn Chung A Dũng thì đáng thương biết bao nhiêu!

Vậy mà cũng đã hai mươi năm, kể từ khi tôi phỏng vấn bọn Dũng ở Bidong. Nay chúng cũng đã trên bốn chục tuổi cả rồi đấy, nhưng lòng tôi vẫn không rứt ra được những thương cảm đối với chúng từ hồi ở trại tỵ nan Bidong đến bây giờ.

Những đứa bé trốn ra khỏi nước hồi trên dưới 10 tuổi, lưu lạc qua nhiều nông trường ở bên Tầu, qua nhiều trại tỵ nạn, hơn 10 năm sau lại bị buộc phải trở lại nơi chúng đã không muốn ở, phải bỏ ra đi. Thử hỏi ai không thấy tội nghiệp!

Cái kết quả trở về đau xót đó do đâu mà ra?

Là do những cái tổ chức mà người ta gọi là nhân đạo đấy. Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hợp Quốc là một cơ quan nhân đạo đấy! Mà họ có nhân đạo thiệt hay không? Hay cái tổ chức đó cũng chỉ là những đòn ảo thuật chính trị của những quốc gia đầu sỏ đứng sau cái bình phong có tên là Liên Hợp Quốc?

Thành ra, độc giả đừng trách tôi tại sao tôi ưa sự hoài nghi của Anatole France, một ông nhà văn Tây mà tôi từng mê khi tôi mới đọc được lỏm bỏm tiếng Pháp ở những năm đầu bậc trung học. Đó là “chủ nghĩa hoài nghi.”

Có cái gì ở đời nầy mình có thể tin được mà không phải hoài nghi?

Đâu có cái gì làm cho mình có thể hoàn toàn tin tưởng được đâu? Với một người, với một ông A, bà B nào đó, là những người rất bình thường, không tham lam, không háo danh, không mưu cầu danh vọng, địa vị, và có một tấm lòng chân thật, mà tôi từng quen biết, chuyện trò với họ, thì tôi tin họ có lòng từ bi, lòng bác ái thật đấy. Còn ngoài ra, những tổ chức nhân đạo, dù của chính Liên Hiệp Quốc, của chính quyền một quốc gia nào đó, hay kể cả tôn giáo thì tôi thường tự lòng tôi nhắc lại câu của LaRochefoucal: “Tất cả  mọi việc thiện đều qui vào lòng ích kỷ cũng như mọi con sông đều chảy ra bỉển.”

           Chính vì “lòng ích kỷ” đó nên mới có những người thực hiện những chuyến vượt biên mà phải kéo dài vài chục năm./

(1) Hai bàn chân to là tướng xấu, không phải tứng ác. Trong tứ đại mỹ nhân của Tầu thì Tây Thi gái Việt là người có hai bàn chân to, hơi thô (Xin xem “Nôm Na là cha mách qué” – cùng tác giả-)

Cũng theo sách tướng, hai bàn tay to là tướng giết người. Khi còn ở Hà Tiên, tôi từng thấy hai chị em cô gái “Đầu gà đít vịt” (tiếng địa phương gọi người Miên lai Tầu) có hai bàn tay to quá khổ. Có phải họ là hậu duệ người Hải Nàm làm hải tặc trong vịnh Thái Lan hồi mấy thế kỷ trước?

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on hoànglonghải – Bèo giạt (12) – Mười Năm Vượt Biên

  1. Nhân bài này viết về cậu Dũng ,người nùng ,mà lại quê quán với già tôi,nên xin phép tác giả “Bèo Giạt”,thêm chút ý kiến về bản Noọn,thuộc phủ Thất Khê trên Đồng Đăng koảng vài cây số,cũng có con đường dẫn tới biên giới Tầu,nơi này là cả một khối kỷ niệm êm đềm thời ấu thơ của tôi,khi mẹ mất lúc tôi mới 6,7 tuổi,bà Bá (Chị họ mẹ) và chị Vá (con nuôi của mẹ) ,dòng máu của tôi là Bố Tầu mẹ Tầy (Thổ),đón tôi về nuôi nấng,từ đó ,tôi thoát cảnh thân phận nhóc tì côi cút khỏi phải xin ăn đầu đường góc chợ !! Từ Đồng Đăng,có con đường rẽ phải độ hơn 4 cây số,tới ải Nam Quan,à gốc tích về ải này thì nhiều tranh cãi,bởi theo sách lịc sử dạy rằng;”đất nước VN ,từ hướng đông ,kéo dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”,bọn trẻ chúng tôi phải tin như vậy do những ông thầy dạy từ tiểu tới trung học,ải Nam quan là của VN ta !? Nhưng thực tế là của Tầu,như trong Thánh kinh TCG ,có nói “Phước cho ai không thấy mà tin”,đằng này ,bản thân tôi đã thấy và chui qua nó từ bên Long Châu
    thuộc Tầu (1947)về VN,trên đó quân Tưởng trấn giữ ,vừa chui qua khỏi cái cửa ải đó thì thấy ngay cột mốc 0 km,rẽ phải thì tới Đồng Đăng,và xuôi nam về Lạng Sơn,vậy thì cái ải đó đâu phải của VN !?. Mà là của VN tại sao gọi là Nam quan ,ngược lại là Bắc quan chứ? Đa tạ.

    Like

  2. Dung roi ai do do nguoi Tau xay , goi la Tran nam quan , nguoi Viet minh goi la Ia Ai Nam quan , thi cu cho la Bien gioi tu do di Bay gio ai nay nam sau trong Lanh tho Trung quoc , Cot moc so O da nam sau trong lanh tho VN sau cuoc Chien 1979 , nhu vay VN da mat bao nhieu cay so vao Tay Tau ?

    Like

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: